Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy.
Một thời Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ cùng với chúng đại Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, đã đến giờ, đức Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành khất thực. Tại thành La-duyệt-kỳ lúc bấy giờ có con trai của trưởng giả tên là Thiện Sanh, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành, đi đến khu công viên sau khi vừa tắm gội xong, cả mình còn ướt, hướng đến các phương, Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, mà lạy khắp cả.
Đức Thế Tôn thấy Thiện Sinh, con trai nhà trưởng giả, sau khi đi đến khu công viên, vừa tắm xong, cả thân mình còn ướt sũng, bèn đến gần và hỏi:
“Vì sao, ngươi vào buổi sáng sớm ra khỏi thành, đi đến khu công viên, với cả người còn ướt đẫm, mà ngươi lại lạy các phương như thế?”
Thiện Sinh bạch Phật:
“Khi cha con sắp chết có dặn, “Nếu con muốn lạy, trước hết hãy lạy các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên và dưới”. Con vâng lời cha dạy không dám chống trái, nên sau khi tắm gội xong, chấp tay hướng mặt về phương Đông mà lễ phương Đông trước, rồi tiếp theo lễ khắp các phương Tây, Nam, Bắc, trên, dưới.”
Phật bảo Thiện Sinh:
“Này con trai trưởng giả! Quả có cái tên các phương đó chứ không phải không. Nhưng trong pháp Hiền Thánh của ta chẳng phải lễ sáu phương như thế là cung kính đâu.”
Thiện Sinh thưa:
“Cúi xin đức Thế Tôn thương dạy cho con cách lễ sáu phương theo pháp Hiền Thánh.”
Phật bảo con trai trưởng giả:
“Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ! Ta sẽ nói cho ngươi nghe.”
Thiện Sinh đáp:
“Thưa vâng. Con rất muốn nghe.”
Phật bảo Thiện Sinh:
“Nếu trưởng giả hay con trưởng giả nào biết tránh bốn nghiệp kết không làm ác theo bốn trường hợp và biết rõ sáu nghiệp hao tổn tài sản. Như thế, này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả nào tránh được bốn việc ác là lễ kính sáu phương; thì đời này tốt đẹp và cả đời sau cũng được quả báo tốt đẹp; đời này có căn cơ và đời sau có căn cơ; trong hiện tại được người trí ngợi khen, được quả bậc nhất, sau khi chết được sanh lên trời, cõi thiện.
(i) “Này Thiện Sinh, nên biết, hành bốn kết là: Sát sinh, trộm cắp, dâm dật, vọng ngữ.
(ii) “Thế nào là bốn trường hợp ác? Đó là: tham dục, sân hận, sợ hãi, ngu si. Ai làm những việc ác theo bốn trường hợp đó sẽ bị hao tổn. Nói như vậy xong, Phật lại nói bài tụng:
Ai làm theo bốn pháp,
Tham, sân, sợ hãi, si,
Thì danh dự mất dần,
Như trăng về cuối tháng.
“Này Thiện Sinh, người nào không làm ác theo bốn trường hợp thì sự ích lợi ngày càng tăng thêm.”
Người nào không làm ác,
Do tham, hận, sợ, si,
Thì danh dự càng thêm,
Như trăng hướng về rằm.
(iii) “Này Thiện Sinh, sáu nghiệp tổn tài là: 1. đam mê rượu chè, 2. cờ bạc, 3. phóng đãng, 4. đam mê kỹ nhạc, 5. kết bạn người ác và 6. biếng lười.
“Này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả biết rõ bốn kết hành, không làm ác theo bốn trường hợp, lại biết sáu nghiệp tổn tài, ấy là, này Thiện Sinh, tránh được bốn trường hợp, cúng dường sáu phương, thì đời này tốt đẹp, đời sau tốt đẹp; đời này căn cơ và đời sau căn cơ; trong hiện tại được người trí ngợi khen, được quả báo bậc nhất; sau khi chết được sanh lên trời, cõi thiện.
(1) “Lại nữa, này Thiện Sinh, nên biết, uống rượu có sáu điều lỗi: một, hao tài; hai, sanh bệnh; ba, đấu tranh; bốn, tiếng xấu đồn khắp; năm, bộc phát nóng giận; sáu, tuệ giảm dần.
“Này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả ấy uống rượu không thôi thì nghiệp gia sản ngày mỗi tiêu tán.
(2) “Này Thiện Sinh, cờ bạc có sáu điều tai hại: một, tài sản ngày một hao hụt; hai, thắng thì gây thù oán; ba, bị kẻ trí chê; bốn, mọi người không kính nễ tin cậy; năm, bị xa lánh; và sáu, sanh tâm trộm cắp. Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả mê đánh bạc mãi thì gia sản ngày mỗi tiêu tán.
(3) “Này Thiện Sinh, phóng đãng có sáu lỗi: một, không tự phòng hộ mình; hai, không phòng hộ được tài sản và hàng hóa; ba, không phòng hộ được con cháu; bốn, thường hay bị sợ hãi; năm, bị những điều khốn khổ ràng buộc xác thân; sáu, ưa sinh điều dối trá. Đó là sáu điều lỗi. Nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả phóng đãng mãi không thôi thì gia sản ngày mỗi tiêu tán.
(4) “Này Thiện Sinh, say mê kỹ nhạc có sáu lỗi: một, tỳm đến chỗ ca hát; hai, tỳm đến chỗ múa nhảy; ba, tỳm đến chỗ đàn địch; bốn, ba-nội-tảo; năm, đa-la-bàn; sáu, thủ-ha-na. Đó là sáu tai hại của kỹ nhạc. Nếu trưởng giả hoặc con trai trưởng giả say mê kỹ nhạc mãi không thôi thì gia sản ngày mỗi tiêu tán.
(5) “Này Thiện Sinh, giao du với bạn xấu có sáu lỗi: một, tỳm cách lừa dối; hai, ưa chỗ thầm kín; ba, dụ dỗ vợ người; bốn, mưu đồ chiếm đoạt tài sản của người; năm, xoay tài lợi về mình; sáu, ưa phanh phui lỗi người. Đó là sáu tai hại về bạn xấu. Nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả làm bạn với kẻ ác mãi thì gia sản mỗi ngày mỗi tiêu tán.
(6) “Này Thiện Sinh, lười biếng có sáu lỗi: một, khi giàu sang không chịu làm việc; hai, khi nghèo không chịu siêng năng; ba, lúc lạnh không chịu siêng năng; bốn, lúc nóng không chịu siêng năng; năm, lúc sáng trời không chịu siêng năng; sáu, lúc tối trời không chịu siêng năng. Đó là sáu điều tai hại của sự lười biếng. Nếu trưởng giả hay con trưởng giả lười biếng mãi, thì gia sản mỗi ngày mỗi tiêu tán.”
Nói như vậy xong, Phật làm bài tụng:
Người mê say rượu chè,
Lại có bè bạn rượu,
Tài sản đã tích lũy,
Liền theo mình tiêu tan.
Uống rượu không tiết độ;
Thường ưa ca, múa, nhảy;
Ngày rong chơi nhà người:
Nhân thế tự đọa lạc.
Theo bạn ác không sửa;
Phỉ báng ra nhà người.
Tà kiến bị đời chê:;
Làm xấu bị người truất.
Cờ bạc, đắm ngoại sắc;
Chỉ bàn việc hơn thua.
Bạn ác, không đền trải:
Làm xấu bị người truất.
Bị rượu làm hoang mê;
Nghèo khó không tự liệu;
Tiêu xài chẳng tiếc của;
Phá nhà gây tai ương.
Đánh bạc, xúm uống rượu;
Lén lút vợ con người.
Tập quen nết bỉ ổi:
Như trăng về cuối tháng.
Gây ác phải chịu ác.
Chung làm cùng bạn ác;
Đời này và đời sau,
Rốt không đạt được gì.
Ngày thời ưa ngủ nghỉ,
Đêm thức những mơ tưởng,
Mê tố,i không bạn lành;
Chẳng gây nổi gia vụ.
Sáng chiều chẳng làm việc;
Lạnh, nóng lại biếng lười.
Làm việc không suy xét;
Trở lại uổng công toi.
Nếu không kể lạnh nóng,
Sáng chiều siêng công việc,
Sự nghiệp gì chẳng thành?
Suốt đời khỏi âu lo.
(iv) Phật bảo Thiện Sinh:
“Có bốn hạng kẻ thù mà như người thân, ngươi nên biết. Bốn kẻ ấy là những ai? Một, hạng uý phục; hai, hạng mỹ ngôn; ba, hạng kính thuận; bốn, hạng ác hữu.
(1) “Hạng úy phục thì thường hay làm bốn việc: một, cho trước đoạt lại sau; hai, cho ít mong trả nhiều; ba, vì sợ gượng làm thân; bốn, vì lợi gượng làm thân.
(2) “Hạng mỹ ngôn thì thường hay làm bốn việc: một, lành dữ đều chiều theo; hai, gặp hoạn nạn thì xa lánh; ba, ngăn cản những điều hay; bốn, thấy gặp nguy tỳm cách đun đẩy.
(3) “Hạng kính thuận thì thường làm bốn việc: một, việc trước dối trá; hai, việc sau dối trá; ba, việc hiện dối trá; bốn, thấy có một chút lỗi nhỏ đã vội trách phạt.
(4) “Hạng bạn ác thì thường làm bốn việc: một, bạn lúc uống rượu; hai, bạn lúc đánh bạc; ba, bạn lúc dâm dật; bốn bạn lúc ca vũ.”
Đức Thế Tôn nói như vậy rồi, bèn làm một bài tụng:
Úy phục, gượng làm thân;
Hạng mỹ ngôn cũng thế.
Kính thuận, thân nhưng dối.
Ác hữu là ác thân.
Bạn thế chớ tin cậy,
Người trí nên biết rõ.
Nên gấp rút lìa xa
Như tránh con đường hiểm.
(v) Phật lại bảo Thiện Sinh:
“Có bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở. Những gì là bốn? Một, ngăn làm việc quấy; hai, thương yêu; ba, giúp đỡ; bốn, đồng sự. Đó là bốn hạng người thân đáng thân cận.
(1) Này Thiện Sinh, hạng ngăn quấy thì thường làm bốn việc đem lại nhiều lợi ích và hay che chở: thấy người làm ác thì hay ngăn cản, chỉ bày điều chánh trực, có lòng thương tưởng, chỉ đường sinh Thiên. Đó là bốn trường hợp ngăn cản việc quấy đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.
(2) Hạng thương yêu thì thường làm bốn việc: Mừng khi mình được lợi, lo khi mình gặp hại, ngợi khen đức tốt mình, thấy mình nói ác thì tỳm cách ngăn cản. Đó là bốn điều thương yêu đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.
(3) Hạng giúp đỡ có bốn việc. Những gì là bốn? Đó là: che chở mình khỏi buông lung, che chở mình khỏi hao tài vì buông lung, che chở mình khỏi sợ hãi, khuyên bảo mình trong chỗ vắng người.
(4) Hạng đồng sự thì thường làm bốn việc: không tiếc thân mạng với bạn, không tiếc của cải với bạn, cứu giúp bạn khỏi sợ hãi, khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.”
Nói như vậy xong, đức Thế Tôn lại nói bài tụng:
Bạn ngăn ngừa điều quấy,
Bạn từ mẫn thương yêu,
Bạn làm lợi ích bạn,
Bạn đồng sự với bạn.
Đó bốn hạng đáng thân,
Người trí đáng thân cận;
Thân hơn người thân khác,
Như mẹ hiền thân con.
Muốn thân người đáng thân;
Hãy thân bạn kiên cố.
Người bạn đủ giới hạnh,
Như lửa sáng soi người.
Phật lại bảo Thiện Sinh:
“Ngươi nên biết ý nghĩa sáu phương. Sáu phương là gì? Phương Đông là cha mẹ, phương Nam là sư trưởng, phương Tây là thê thiếp, phương Bắc là bạn bè thân thích, phương trên là các bậc trưởng thượng, Sa-môn, Bà-la-môn, phương dưới là tôi tớ.
(i.a) “Này Thiện Sinh, kẻ làm con phải kính thuận cha mẹ với năm điều. Những gì là năm? 1. Cung phụng không để thiếu thốn. 2. Muốn làm gì thưa cha mẹ biết. 3. Không trái điều cha mẹ làm. 4. Không trái điều cha mẹ dạy. 5. Không cản chánh nghiệp mà cha mẹ làm.
(i.b.) “Kẻ làm cha mẹ phải lấy năm điều này chăm sóc con cái: 1. Ngăn con đừng để làm ác. 2. Chỉ bày những điều ngay lành. 3. Thương yêu đến tận xương tủy. 4. Chọn nơi hôn phối tốt đẹp. 5. Tùy thời cung cấp đồ cần dùng.
“Này Thiện Sinh, kẻ làm con kính thuận và cung phụng cha mẹ thế thì phương ấy được an ổn không có điều lo sợ.
(ii.a) “Đệ tử cung phụng sư trưởng có năm việc: 1. Hầu hạ cung cấp điều cần. 2. Kính lễ cúng dường. 3. Tôn trọng qúi mến. 4. Thầy có dạy bảo điều gì không trái nghịch. 5. Thầy có dạy bảo điều gì nhớ kỹ không quên. Kẻ làm đệ tử cần phải thờ kính sư trưởng với năm điều ấy.
(ii.b) “Thầy cũng có năm điều để săn sóc đệ tử: 1. Tùy thuận pháp mà huấn luyện. 2. Dạy những điều chưa biết. 3. Giải nghĩa rành rõ những điều trò hỏi. 4. Chỉ cho những bạn lành. 5. Dạy hết những điều mình biết không lẫn tiếc.
“Này Thiện Sinh, nếu đệ tử kính thuận, cung kính sư trưởng, thì phương ấy được an ổn không có điều lo sợ.
(iii.a) “Này Thiện Sinh, chồng cũng phải có năm điều đối với vợ: 1. Lấy lễ đối đãi nhau. 2. Oai nghiêm không nghiệt. 3. Tùy thời cung cấp y, thực. 4. Tùy thời cho trang sức. 5. Phó thác việc nhà.
(iii.b) “Này Thiện Sinh, chồng đối đãi vợ có năm điều, vợ cũng phải lấy năm việc cung kính đối với chồng. Những gì là năm? 1. Dậy trước. 2. Ngồi sau. 3. Nói lời hòa nhã. 4. Kính nhường tùy thuận. 5. Đón trước ý chồng.
“Này Thiện Sinh, ấy là vợ đối với chồng cung kính đối đãi nhau, như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ.
(iv.a) “Này Thiện Sinh, người ta phải lấy năm điều thân kính đối với bà con: 1. Chu cấp. 2. Nói lời hiền hòa. 3. Giúp ích. 4. Đồng lợi. 5. Không khi dối.
(iv.b) “Bà con cũng phải lấy năm điều đối lại: 1. Che chở cho mình khỏi buông lung. 2. Che chờ cho mình khòi hao tài vì buông lung. 3. Che chở khỏi sự sợ hải. 4. Khuyên răn nhau lúc ở chỗ vắng người. 5. Thường ngợi khen nhau.
Này Thiện Sinh! Người biết thân kính bà con như vậy thì phương ấy được yên ổn không điều chi lo sợ.
(v.a) “Này Thiện Sinh, chủ đối với tớ có năm điều để sai bảo: 1. Tùy khả năng mà sai sử. 2. Tùy thời cho ăn uống. 3. Phải thời thưởng công lao. 4. Thuốc thang khi bệnh. 5. Cho có thời giờ nghỉ ngơi.
(v.b) “Tôi tớ phải lấy năm điều phụng sự chủ: 1. Dậy sớm. 2. Làm việc chu đáo. 3. Không gian cắp. 4. Làm việc có lớp lang. 5. Bảo tồn danh giá chủ.
“Này Thiện Sinh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì phương ấy được an ổn không điều chi lo sợ.
(vi.a) “Kẻ đàn việt cung phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn với năm điều. 1. Thân hành từ. 2. Khẩu hành từ. 3. Ý hành từ. 4. Tùy thời cúng thí. 5. Không đóng cửa khước từ.
(vi.b) “Sa-môn, Bà-la-môn cũng khuyên dạy theo sáu điều: 1. Ngăn ngừa chớ để làm ác. 2. Chỉ dạy điều lành. 3. Khuyên dạy với thiện tâm. 4. Cho nghe những điều chưa nghe. 5. Những gì đã được nghe làm cho hiểu rõ. 6. Chỉ vẻ con đường sanh thiên.
“Này Thiện Sinh, nếu đàn việt kính phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ.”
Đức Thế Tôn nói như vậy xong, lại làm một bài tụng:
Cha mẹ là phương Đông,
Sư trưởng là phương Nam,
Vợ chồng là phương Tây,
Thân tộc là phương Bắc,
Tôi tớ là phương dưới,
Sa-môn là phương trên.
Những người con trưởng giả
Kính lễ các phương ấy.
Thuận thảo không lỗi thời,
Khi chết được sanh thiên.
Huệ thí, nói hòa nhã,
Giúp người đạt mục đích.
Ta ngườilợi đồng đẳng,
Mình có người hưởn chung.
Bốn việc ấy như xe,
Chở tất cả nặng nề.
Đời không bốn việc ấy,
Sẽ không có hiếu dưỡng.
Bốn việc ấy ở đời,
Được người trí chọn lựa.
Làm thời kết quả lớn,
Tiếng tốt đồn vang xa.
Trang sức chỗ nằm ngồi,
Dọn thức ăn bậc nhất,
Cung cấp sẽ đạt được
Tiếng tốt đồn vang xa.
Không bỏ người thân cũ;
Chỉ bày việc lợi ích;
Trên dưới thường hòa đồng,
Tất được danh dự tốt.
Trước hãy tập kỹ nghệ,
Sau mới có tài lợi.
Khi có tài lợi rồi:
Hãy khéo lo gìn giữ;
Tiêu dùng không xa xí,
Hãy lựa chọn người trước;
Gặp việc dối, đột ngột,
Hãy cầu chỗ chưa dùng .
Của dồn từ khi ít;
Như ong góp nhụy hoa.
Tài bảo ngày chứa dồn,
Trọn đời không hao tổn.
Một, ăn biết vừa đủ;
Hai, làm việc siêng năng;
Ba, lo dồn chứa trước,
Đề phòng khi thiếu hụt;
Bốn, cày ruộng buôn bán,
Và lựa đất chăn nuôi;
Năm, xây dựng tháp miếu;
Sáu, lập tăng phòng xá.
Tại gia sáu việc ấy,
Siêng lo chớ lỗi thời.
Ai làm được như thế
Thời nhà khỏi sa sút,
Tài sản ngày một thêm,
Như trăm sông về biển.
Bấy giờ Thiện Sinh bạch Phật:
“Lành thay, bạch Thế Tôn! Thật quá chỗ mong ước của con xưa nay, vượt xa những lời dạy của cha con. Như lật ngửa những gì bị úp xuống; như mở ra những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được gặp đèn, có mắt liền thấy. Những gì được Như Lai thuyết giảng cũng như thế; bằng vô số phương tiện khai ngộ cho kẻ ngu tối; làm rõ pháp thanh bạch. Phật là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, do đó có thể chỉ bày, hướng dẫn cho đời. Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cúi xin đức Thế Tôn chấp thuận cho con được làm ưu-bà-tắc ở trong Chánh pháp. Kể từ hôm nay cho đến trọn đời, con nguyện không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.”
Bấy giờ, Thiện Sinh sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛在羅閱祇耆闍崛山中,
T 0070a21
與大比丘眾千二百五十人俱。
爾時,世尊時
T 0070a22
到著衣持鉢,入城乞食。時,羅閱祇城內有
T 0070a23
長者子,名曰善生,清旦出城,詣園遊觀,初
T 0070a24
沐浴訖,舉身皆濕,向諸方禮,東、西、南、北、上、下
T 0070a25
諸方,皆悉周遍。
爾時,世尊見長者子善生詣
T 0070a26
園遊觀,初沐浴訖,舉身皆濕,向諸方禮。世尊
T 0070a27
見已,即詣其所,告善生言:「汝以何緣,清旦
T 0070a28
出城,於園林中,舉身皆濕,向諸方禮?」
爾時,
T 0070a29
善生白佛言:「我父臨命終時,遺勅我言:『汝
T 0070b01
欲禮者,當先禮東方、南方、西方、北方、上方、
T 0070b02
下方。』我奉承父教不敢違背,故澡浴訖,先
T 0070b03
叉手東面,向東方禮;南、西、北方,上、下諸方,皆
T 0070b04
悉周遍。」
爾時,世尊告善生曰:「長者子!有此
T 0070b05
方名耳,非為不有;然我賢聖法中,非禮
T 0070b06
此六方以為恭敬。」
善生白佛言:「唯願世尊善
T 0070b07
為我說賢聖法中禮六方法!」
佛告長者子:
T 0070b08
「諦聽!諦聽!善思念之,當為汝說。」
善生對曰:
T 0070b09
「唯然,願樂欲聞!」
佛告善生:「若長者、長者子
T 0070b10
知四結業不於四處而作惡行,又復能知
T 0070b11
六損財業,是謂,善生!長者、長者子離四惡
T 0070b12
行,禮敬六方。今世亦善,後獲善報,今世根
T 0070b13
基,後世根基,於現法中,智者所稱,獲世一
T 0070b14
果,身壞命終,生天、善處。善生!當知四結行
T 0070b15
者:一者殺生,二者盜竊,三者婬逸,四者妄
T 0070b16
語,是四結行。云何為四處?一者欲,二者恚,
T 0070b17
三者怖,四者癡。若長者、長者子於此四處而
T 0070b18
作惡者,則有損耗。」佛說是已,復作頌曰:
T 0070b19
「欲瞋及怖癡, 有此四法者;
T 0070b20
名譽日損減, 如月向于晦。」
T 0070b21
佛告善生:「若長者、長者子於此四處不為
T 0070b22
惡者,則有增益。」爾時,世尊重作頌曰:
T 0070b23
「於欲恚怖癡, 不為惡行者,
T 0070b24
名譽日增廣, 如月向上滿。」
T 0070b25
佛告善生:「六損財業者:一者耽湎於酒,二
T 0070b26
者博戱,三者放蕩,四者迷於伎樂,五者惡友
T 0070b27
相得,六者懈墮,是為六損財業。善生!若長
T 0070b28
者、長者子解知四結行,不於四處而為惡
T 0070b29
行,復知六損財業,是為,善生!於四處得
T 0070c01
離,供養六方,今善後善,今世根基,後世根基,
T 0070c02
於現法中,智者所譽,獲世一果,身壞命終,
T 0070c03
生天、善處。善生!當知飲酒有六失:一者失
T 0070c04
財,二者生病,三者鬪諍,四者惡名流布,五者
T 0070c05
恚怒暴生,六者智慧日損。善生!若彼長者、長
T 0070c06
者子飲酒不已,其家產業日日損減。善生!博
T 0070c07
戱有六失,云何為六?一者財產日耗,二者
T 0070c08
雖勝生怨,三者智者所責,四者人不敬信,
T 0070c09
五者為人疎外,六者生盜竊心。善生!是為
T 0070c10
博戱六失。若長者、長者子博戱不已,其家產
T 0070c11
業日日損減,放蕩有六失:一者不自護身,
T 0070c12
二者不護財貨,三者不護子孫,四者常自
T 0070c13
驚懼,五者諸苦惡法常自纏身,六者喜生
T 0070c14
虛妄,是為放蕩六失。若長者、長者子放蕩不
T 0070c15
已,其家財產日日損減。
「善生!迷於伎樂復
T 0070c16
有六失:一者求歌,二者求舞,三者求琴
T 0070c17
瑟,四者波內早,五者多羅槃,六者首呵那,
T 0070c18
是為伎樂六失。若長者、長者子伎樂不已,其
T 0070c19
家財產日日損減,惡友相得復有六失:一者
T 0070c20
方便生欺,二者好喜屏處,三者誘他家人,
T 0070c21
四者圖謀他物,五者財利自向,六者好發他
T 0070c22
過,是為惡友六失。若長者、長者子習惡友
T 0070c23
不已,其家財產日日損減,懈墮有六失:一
T 0070c24
者富樂不肯作務,二者貧窮不肯勤修,三者
T 0070c25
寒時不肯勤修,四者熱時不肯勤修,五者時
T 0070c26
早不肯勤修,六者時晚不肯勤修,是為懈
T 0070c27
墮六失。若長者、長者子懈墮不已,其家財業
T 0070c28
日日損減。」佛說是已,復作頌曰:
T 0070c29
「迷惑於酒者, 還有酒伴黨;
T 0071a01
財產正集聚, 隨己復散盡。
T 0071a02
飲酒無節度, 常喜歌舞戱;
T 0071a03
晝
則
遊他家, 因此自陷
墜
。
T 0071a04
隨惡友不改, 誹謗出家人;
T 0071a05
邪見世所嗤, 行穢人所黜。
T 0071a06
好惡著外色, 但論勝負事;
T 0071a07
親要無返復, 行穢人所黜。
T 0071a08
為酒所荒迷, 貧窮不自量;
T 0071a09
輕財好奢用, 破家致禍患。
T 0071a10
擲博群飲酒, 共伺他婬女;
T 0071a11
翫習卑鄙行, 如月向於晦。
T 0071a12
行惡能受惡, 與惡友同事;
T 0071a13
今世及後世, 終始無所獲。
T 0071a14
晝則好睡眠, 夜覺多悕望;
T 0071a15
獨昏無善友, 不能修家務。
T 0071a16
朝夕不肯作, 寒暑復懈墮;
T 0071a17
所為事不究, 亦復毀成功。
T 0071a18
若不計寒暑, 朝夕勤修務;
T 0071a19
事業無不成, 至終無憂患。」
T 0071a20
佛告善生:「有四怨如親,汝當覺知。何謂
T 0071a21
為四?一者畏伏,二者美言,三者敬順,四者
T 0071a22
惡友。」
佛告善生:「畏伏有四事,云何為四?一
T 0071a23
者先與後奪,二者與少望多,三者畏故強
T 0071a24
親,四者為利故親,是為畏伏四事。」
佛告善
T 0071a25
生:「美言親復有四事,云何為四?一者善惡
T 0071a26
斯順,二者有難捨離,三者外有善來密止
T 0071a27
之,四者見有危事便排濟之,是為美言
T 0071a28
親四事。敬順親復有四事,云何為四?一者
T 0071a29
先誑,二者後誑,三者現誑,四者見有小過
T 0071b01
便加杖之,是為敬順親四事。惡友親復有
T 0071b02
四事,云何為四?一者飲酒時為友,二者博
T 0071b03
戱時為友,三者婬逸時為友,四者歌舞時
T 0071b04
為友,是為惡友親四事。」世尊說此已,復作
T 0071b05
頌曰:
T 0071b06
「畏伏而強親, 美言親亦爾;
T 0071b07
敬順虛誑親, 惡友為惡親。
T 0071b08
此親不可恃, 智者當覺知;
T 0071b09
宜速遠離之, 如避于嶮道。」
T 0071b10
佛告善生:「有四親可親,多所饒益,為人
T 0071b11
救護。云何為四?一者止非,二者慈愍,三者
T 0071b12
利人,四者同事,是為四親可親,多所饒
T 0071b13
益,為人救護,當親近之。善生!彼止非有
T 0071b14
四事,多所饒益,為人救護。云何為四?一者
T 0071b15
見人為惡則能遮止,二者示人正直,三者
T 0071b16
慈心愍念,四者示人天路。是為四止非,多
T 0071b17
所饒益,為人救護。
「復次,慈愍有四事:一者
T 0071b18
見利代喜,二者見惡代憂,三者稱譽人德,
T 0071b19
四者見人說惡便能抑制,是為四慈愍,多
T 0071b20
所饒益,為人救護。利益有四,云何為四?一
T 0071b21
者護彼不令放逸,二者護彼放逸失財,三
T 0071b22
者護彼使不恐怖,四者屏相教誡,是為四
T 0071b23
利人,多所饒益,為人救護。同事有四,云何
T 0071b24
為四?一者為彼不惜身命,二者為彼不
T 0071b25
惜財寶,三者為彼濟其恐怖,四者為彼屏
T 0071b26
相教誡,是為四同事,多所饒益,為人救
T 0071b27
護。」世尊說是已,復作頌曰:
T 0071b28
「制非防惡親, 慈愍在他親;
T 0071b29
利人益彼親, 同事齊己親。
T 0071c01
此親乃可親, 智者所附近;
T 0071c02
親中無等親, 如慈母親子。
T 0071c03
若欲親可親, 當親堅固親;
T 0071c04
親者戒具足, 如火光照人。」
T 0071c05
佛告善生:「當知六方,云何為六方?父母為
T 0071c06
東方,師長為南方,妻婦為西方,親黨為北
T 0071c07
方,僮僕為下方,沙門、婆羅門、諸高行者為上
T 0071c08
方。善生!夫為人子,當以五事敬順父母,
T 0071c09
云何為五?一者供奉能使無乏,二者凡有
T 0071c10
所為先白父母,三者父母所為恭順不逆,
T 0071c11
四者父母正令不敢違背,五者不斷父母所
T 0071c12
為正業。善生!夫為人子,當以此五事敬順
T 0071c13
父母,父母復以五事敬親其子。云何為
T 0071c14
五?一者制子不聽為惡,二者指授示其善
T 0071c15
處,三者慈愛入骨徹髓,四者為子求善婚
T 0071c16
娶,五者隨時供給所須。善生!子於父母敬
T 0071c17
順恭奉,則彼方安隱,無有憂畏。
「善生!弟子
T 0071c18
敬奉師長復有五事,云何為五?一者給侍
T 0071c19
所須,二者禮敬供養,三者尊重戴仰,四者師
T 0071c20
有教勅敬順無違,五者從師聞法善持不
T 0071c21
忘。善生!夫為弟子當以此五法敬事師長,
T 0071c22
師長復以五事敬視弟子,云何為五?一者
T 0071c23
順法調御,二者誨其未聞,三者隨其所問
T 0071c24
令善解義,四者示其善友,五者盡以所
T 0071c25
知誨授不悋。善生!弟子於師長敬順恭奉,
T 0071c26
則彼方安隱,無有憂畏。
「善生!夫之敬妻亦
T 0071c27
有五事,云何為五?一者相待以禮,二者威
T 0071c28
嚴不
媟
,三者衣食隨時,四者莊嚴以時,五
T 0071c29
者委付家內。善生!夫以此五事敬待於妻,
T 0072a01
妻復以五事恭敬於夫,云何為五?一者先
T 0072a02
起,二者後坐,三者和言,四者敬順,五者先意
T 0072a03
承旨。善生!是為夫之於妻敬待,如是則
T 0072a04
彼方安隱,無有憂畏。
「善生!夫為人者,當以
T 0072a05
五事親敬親族,云何為五?一者給施,二者
T 0072a06
善言,三者利益,四者同利,五者不欺。善生!
T 0072a07
是為五事親敬親族,親族亦以五事親敬
T 0072a08
於人,云何為五?一者護放逸,二者護放逸
T 0072a09
失財,三者護恐怖者,四者屏相教誡,五者
T 0072a10
常相稱歎。善生!如是敬視親族,則彼方安
T 0072a11
隱,無有憂畏。
「善生!主於僮使以五事教
T 0072a12
授,云何為五?一者隨能使役,二者飲食隨
T 0072a13
時,三者賜勞隨時,四者病與醫藥,五者縱
T 0072a14
其休假。善生!是為五事教授僮使,僮使
T 0072a15
復以五事奉事其主,云何為五?一者早起,
T 0072a16
二者為事周密,三者不與不取,四者作務
T 0072a17
以次,五者稱揚主名。是為主待僮使,則彼
T 0072a18
方安隱,無有憂畏。
「善生!檀越當以五事供
T 0072a19
奉沙門、婆羅門,云何為五?一者身行慈,二
T 0072a20
者口行慈,三者意行慈,四者以時施,五者
T 0072a21
門不制止。善生!若檀越以此五事供奉沙
T 0072a22
門、婆羅門,沙門、婆羅門當復以六事而教
T 0072a23
授之,云何為六?一者防護不令為惡,二者
T 0072a24
指授善處,三者教懷善心,四者使未聞者
T 0072a25
聞,五者已聞能使善解,六者開示天路。善
T 0072a26
生!如是檀越恭奉沙門、婆羅門,則彼方安隱,
T 0072a27
無有憂畏。」世尊說已,重說偈曰:
T 0072a28
「父母為東方, 師長名南方,
T 0072a29
妻婦為西方, 親族為北方,
T 0072b01
僮僕為下方, 沙門為上方。
T 0072b02
諸有長者子, 禮敬於諸方;
T 0072b03
敬順不失時, 死皆得生天。
T 0072b04
惠施及輭言, 利人多所益,
T 0072b05
同利等彼己, 所有與人共。
T 0072b06
此四多負荷, 任重如車輪;
T 0072b07
世間無此四, 則無有孝養。
T 0072b08
此法在世間, 智者所撰擇;
T 0072b09
行則獲大果, 名稱遠流布。
T 0072b10
嚴飾於床座, 供設上飲食;
T 0072b11
供給所當得, 名稱遠流布。
T 0072b12
親舊不相遺, 示以利益事;
T 0072b13
上下常和同, 於此得善譽。
T 0072b14
先當習伎藝, 然後獲財業;
T 0072b15
財業既已具, 宜當自守護。
T 0072b16
出財未至奢, 當撰擇前人;
T 0072b17
欺誑觝突者, 寧乞未舉與。
T 0072b18
積財從小起, 如蜂集眾花;
T 0072b19
財寶日滋息, 至終無損耗。
T 0072b20
一食知止足, 二修業勿怠,
T 0072b21
三當先儲積, 以擬於空乏,
T 0072b22
四耕田商賈, 澤地而置牧,
T 0072b23
五當起塔廟, 六立僧房舍,
T 0072b24
在家勤六業, 善修勿失時。
T 0072b25
如是修業者, 則家無損減;
T 0072b26
財寶日滋長, 如海吞眾流。」
T 0072b27
爾時,善生白世尊言:「甚善!世尊!實過本望,
T 0072b28
踰我父教,能使覆者得仰,閉者得開,迷
T 0072b29
者得悟,冥室燃燈,有目得視。如來所說,亦
T 0072c01
復如是,以無數方便,開悟愚冥,現清白
T 0072c02
法。所以者何?佛為如來、至真、等正覺,故能
T 0072c03
開示,為世明導。今我歸依佛、歸依法、歸依
T 0072c04
僧,唯願世尊聽我於正法中為憂婆塞,
T 0072c05
自今日始,盡形壽不殺、不盜、不婬、不欺、
T 0072c06
不飲酒。」
爾時,善生聞佛所說,歡喜奉行。
T 0072c07
佛說長阿含經卷第十一