Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại thành Na-lan-đà, trong rừng Ba-bà-lị-yểm, cùng chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, có người con trai trưởng giả, tên gọi Kiên Cố, đi đến chỗ Phật, cúi lạy sát chân Phật, rồi ngồi xuống một bên. Khi ấy, con trai trưởng giả Kiên Cố bạch Phật rằng:
“Lành thay, Thế Tôn. Cúi mong Thế Tôn giáo sắc các Tỳ-kheo, nếu có Bà-la-môn, Trưởng giả tử hay Cư sĩ đến, hãy hiện thần thông, hiển thị pháp thượng nhơn.”
Phật nói với Kiên Cố:
“Ta không bao giờ dạy các Tỳ-kheo hiện thần túc, pháp thượng nhân, cho Bà-la-môn, Trưởng giả, Cư sĩ. Ta chỉ dạy các đệ tử ở nơi thanh vắng nhàn tĩnh mà trầm tư về đạo. Nếu có công đức, nên dấu kín. Nếu có sai lầm, nên tự mình bày tỏ.”
Kiên Cố, con trai trưởng giả, lại bạch Phật:
“Cúi mong Thế Tôn giáo sắc các Tỳ-kheo, nếu có Bà-la-môn, Trưởng giả tử hay Cư sĩ đến, hãy hiện thần thông, hiển thị pháp thượng nhơn.”
Phật lại nói với Kiên Cố:
“Ta không bao giờ dạy các Tỳ-kheo hiện thần túc, pháp thượng nhân, cho Bà-la-môn, Trưởng giả, Cư sĩ. Ta chỉ dạy các đệ tử ở nơi thanh vắng nhàn tĩnh mà trầm tư về đạo. Nếu có công đức, nên dấu kín. Nếu có sai lầm, nên tự minh bày tỏ.”
Khi ấy Kiên Cố, con trai trưởng giả, bạch Phật rằng:
“Con đối với pháp thượng nhơn không có gì nghi ngờ. Nhưng thành Na-lan-đà này, quốc thổ thịnh vượng, nhân dân đông đúc, nếu ở đó mà hiện thần túc, sẽ ích lợi cho nhiều người. Phật và Chúng Tăng khéo hoằng hóa đạo.”
Phật nói với Kiên Cố:
“Ta không bao giờ dạy các Tỳ-kheo hiện thần túc, pháp thượng nhân, cho Bà-la-môn, Trưởng giả, Cư sĩ. Ta chỉ dạy các đệ tử ở nơi thanh vắng nhàn tĩnh mà trầm tư về đạo. Nếu có công đức, nên dấu kín. Nếu có sai lầm, nên tự bày tỏ. Vì sao vậy? Có ba loại thần túc. Những gì là ba? Một, thần túc; hai, quán sát tâm người; ba, giáo giới.
“Thế nào là thần túc? Này con trai trưởng giả, Tỳ-kheo tập vô lượng thần túc, có thể từ một thân biến thành vô số; từ vô số thân hiệp trở lại thành một thân; hoặc xa, hoặc gần, núi, sông, vách đá, thảy đều tự tại vô ngại, như đi trong hư không. Ở giữa hư không mà ngồi kết già y như chim bay. Ra, vào lòng đất y như trong nước. Hoặc đi trên nước như đi trên đất. Mình bốc khói, lửa, như đống lửa lớn. Tay sờ mặt trời, mặt trăng. Đứng cao đến Phạm thiên. Nếu có trưởng giả hay cư sĩ đã có tín tâm thấy Tỳ-kheo hiện vô lượng thần túc, đứng cao đến Phạm thiên, sẽ đi đến các trưởng giả, cư sĩ chưa có tín tâm khác, mà nói rằng: ‘Tôi thấy Tỳ-kheo hiện vô lượng thần túc, đứng cao đến Phạm thiên.’ Trưởng giả hay cư sĩ kia, những người chưa có tín tâm, nói với những người đã có tín tâm rằng: ‘Tôi nghe nói có thần chú cù-la có khả năng hiện vô lượng thần biến như vậy..., cho đến, đứng cao đến Phạm thiên.”
Phật bảo Kiên Cố, con trai trưởng giả:
“Những người chưa có tín tâm kia nói như vậy há không phải là hủy báng sao?”
Kiên Cố đáp:
“Đó thật sự là lời hủy báng vậy.”
Phật nói:
“Ta vì vậy không giáo sắc các Tỳ-kheo hiện thần túc, pháp thượng nhân, mà chỉ dạy các đệ tử ở nơi thanh vắng nhàn tĩnh mà trầm tư về đạo. Nếu có công đức, nên dấu kín. Nếu có sai lầm, nên tự bày tỏ. Như vậy, này con trai trưởng giả, đó chính là loại thần túc mà các đệ tử Ta thị hiện.
“Sao gọi là thần túc quán sát tâm người? Ở đây, Tỳ-kheo hiện vô luợng thần túc quán sát; quán sát những pháp được nhớ nghĩ trong tâm chúng sanh; những việc được làm trong xó tối cũng có thể nhận biết. Nếu có trưởng giả hay cư sĩ đã có tín tâm thấy Tỳ-kheo hiện vô lượng thần túc quán sát; quán sát những pháp được nhớ nghĩ trong tâm chúng sanh; những việc được làm trong xó tối cũng có thể nhận biết, sẽ đi đến các trưởng giả, cư sĩ chưa có tín tâm khác, mà nói rằng: ‘Tôi thấy Tỳ-kheo hiện vô lượng thần túc quán sát; quán sát những pháp được nhớ nghĩ trong tâm chúng sanh; những việc được làm trong xó tối cũng có thể nhận biết.’ Trưởng giả hay cư sĩ kia, những người chưa có tín tâm, nói với những người đã có tín tâm rằng: ‘Tôi nghe nói có thần chú càn-đà-la có khả năng hiện vô lượng thần biến như vậy... cho đến, đứng cao đến Phạm thiên.”
Phật bảo Kiên Cố, con trai trưởng giả:
“Những người chưa có tín tâm kia nói như vậy há không phải là hủy báng sao?”
Kiên Cố bạch Phật:
“Đó thật sự là lời hủy báng vậy.”
Phật nói:
“Ta vì vậy không giáo sắc các Tỳ-kheo hiện thần túc, pháp thượng nhân, mà chỉ dạy các đệ tử ở nơi thanh vắng nhàn tĩnh mà trầm tư về đạo. Nếu có công đức, nên dấu kín. Nếu có sai lầm, nên tự bày tỏ. Như vậy, này con trai trưởng giả, đó chính là loại thần túc quán sát mà các đệ tử Ta thị hiện.
“Thế nào là giáo giới thần túc? Này con trai trưởng giả, nếu Như Lai, Chí chơn, Đẳng Chánh Giác xuất hiện ở đời, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư Thiên, Người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, mà tự thân chứng ngộ, rồi giảng thuyết cho người khác, với lời khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chơn chánh, nghĩa vị thanh tịnh, phạm hạnh đầy đủ. Nếu có trưởng giả hoặc cư sĩ, sau khi nghe, ở trong đó phát sanh tín tâm. Khi đã có tín tâm, vị ấy ở trong đó quán sát, suy nghĩ rằng: ‘Ta không nên sống tại gia. Nếu sống tại gia, trói buộc liên miên, không thể thanh tịnh tu hành phạm hạnh. Nay ta hãy cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, đủ các công đức, cho đến thành tựu ba minh, diệt trừ những sự tối tăm, phát sanh ánh sáng đại trí. Vì sao vậy? Ấy là do tinh cần, ưa sống một mình chỗ thanh vắng, chánh niệm, chánh tri, mà được vậy. Này con trai trưởng giả, đó là giáo giới thần túc mà Tỳ-kheo của Ta thị hiện vậy.”
Bấy giờ, Kiên Cố, con trai trưởng giả, bạch Phật rằng:
“Có Tỳ-kheo nào thành tựu ba thần túc ấy không?
Phật nói với con trai trưởng giả:
“Ta không nói phần lớn các Tỳ-kheo đều thành tựu ba thần túc ấy. Nhưng, này con trai trưởng giả, có một Tỳ-kheo của Ta ở trong chúng này thầm suy nghĩ rằng: ‘Thân này, với bốn đại: đất, nước, lửa, gió, vĩnh viễn diệt tận ở đâu?’. Tỳ-kheo ấy phút chốc hướng vào con đường thiên giới, đi đến chỗ Tứ thiên vương, hỏi Tứ thiên vương rằng: ‘Thân này, với bốn đại: đất, nước, lửa, gió, vĩnh viễn diệt tận ở đâu?’
“Này con trai trưởng giả, Tứ thiên vương kia trả lời Tỳ-kheo rằng: ‘Tôi không biết bốn đại vĩnh viễn diệt tận ở đâu. Trên tôi còn có trời, gọi là Đao-lị, vi diệu đệ nhất, có đại trí tuệ. Trời kia có thể biết bốn đại vĩnh viễn diệt tận ở đâu.’
“Tỳ-kheo nghe xong, phút chốc hướng theo thiên đạo, đi lên trời Đao-lị, hỏi Chư Thiên: ‘Thân này, với bốn đại: đất, nước, lửa, gió, vĩnh viễn diệt tận ở đâu?’ Chư thiên Đao-lị trả lời: ‘Tôi không biết bốn đại vĩnh viễn diệt tận ở đâu. Bên trên còn có trời, gọi là Diệm-ma, vi diệu đệ nhất, có đại trí tuệ. Trời ấy có thể biết.’ Tỳ-kheo liền lên đó hỏi, nhưng nơi ấy vẫn không biết.
“Lần lượt như thế, lên Đâu-suất, lên Hóa Tự Tại, lên Tha Hóa Tự Tại thiên, thảy đều nói: ‘Tôi không biết bốn đại vĩnh viễn diệt tận ở đâu. Bên trên còn có trời, gọi là Phạm-ca-di, vi diệu đệ nhất, có đại trí tuệ. Trời ấy có thể biết bốn đại vĩnh viễn diệt tận ở đâu.’Tỳ-kheo ấy phút chốc hướng vào Phạm đạo. Lên đến đây, Tỳ kheo hỏi chư thiên Phạm thiên: ‘Thân này, với bốn đại: đất, nước, lửa, gió, vĩnh viễn diệt tận ở đâu?’ Vị Phạm thiên kia trả lời Tỳ-kheo: ‘Tôi không biết bốn đại vĩnh viễn diệt tận ở đâu. Nay có Đại Phạm Thiên vương, đấng Vô Năng Thắng, thống lãnh một nghìn thế giới, phú quý, tôn quý, hào quý, hoàn toàn được tự tại, có khả năng tạo hóa mọi vật, là cha mẹ của chúng sanh. Ngài có thể biết bốn đại vĩnh viễn diệt tận ở đâu.’ Này con trai trưởng giả, Tỳ-kheo kia liền hỏi ngay rằng: ‘Ngài Đại Phạm Thiên vương kia hiện đang ở đâu?’ Vị trời ấy đáp: ‘Không rõ Đại Phạm nay đang ở đâu. Nhưng theo ý tôi mà xét, Ngài sẽ xuất hiện giây lát.’ Chưa bao lâu, Phạm vương hốt nhiên xuất hiện. Này con trai trưởng giả, Tỳ-kheo kia đến Phạm vương và hỏi: ‘Thân này, với bốn đại: đất, nước, lửa, gió, vĩnh viễn diệt tận ở đâu?’ Đại Phạm vương kia nói với Tỳ-kheo: ‘Ta là Đại Phạm, là đấng Vô năng thắng, thống lãnh một nghìn thế giới, phú quý, tôn quý, hào quý, hoàn toàn được tự tại, có khả năng tạo hóa mọi vật, là cha mẹ của chúng sanh.’ Tỳ-kheo kia khi ấy nói với Phạm thiên vương: ‘Tôi không hỏi việc ấy. Tôi hỏi, bốn đại: đất, nước, lửa, gió, vĩnh viễn diệt tận ở đâu.’
“Này con trai trưởng giả, Phạm vương kia vẫn trả lời Tỳ-kheo: ‘Ta là Đại Phạm Vương, cho đến, sáng tạo vạn vật, cha mẹ của chúng sanh.’ Tỳ-kheo lại nói: ‘Tôi không hỏi việc ấy. Tôi hỏi, bốn đại vĩnh viễn diệt tận ở đâu.’ Này con trai trưởng giả, Phạm Thiên vương, như vậy đến ba lần, không thể trả lời Tỳ-kheo, bốn đại này vĩnh viễn diệt tận ở đâu. Rồi thì, Đại Phạm Vương bèn nắm lấy tay phải của Tỳ-kheo, kéo ra chỗ kín đáo, nói rằng: ‘Này Tỳ-kheo, nay các Phạm thiên đều bảo rằng ta là trí tuệ bậc nhất, không có gì không biết, không thấy. Vì vậy ta không trả lời Thầy, vì ta không biết, không thấy, bốn đại này nơi đâu vĩnh viễn diệt tận.’ Rồi lại nói tiếp với Tỳ-kheo: ‘Thầy thật là đại ngu ngốc mới bỏ Như Lai mà đi tra vấn Chư Thiên về việc này. Thầy nên đến Thế Tôn mà hỏi việc này. Như những gì Phật nói, hãy ghi nhớ kỹ.’ Lại bảo Tỳ-kheo: ‘Nay Phật ở tại Xá-vệ, trong vườn Cấp cô độc. Thầy hãy đến đó mà hỏi.’
“Này con trai trưởng giả, bấy giờ, Tỳ-kheo hốt nhiên biến mất khỏi Phạm thiên giới, và trong khoảnh khắc như tráng sĩ co duỗi cánh tay, đến Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà. Tỳ-kheo đi đến chỗ Ta, cúi lạy chân Ta, ngồi sang một bên, bạch Ta rằng: ‘Thế Tôn, nay bốn đại này, đất, nước, lửa, gió, vĩnh viễn diệt tận ở đâu?’
Bấy giờ, Ta nói rằng:
“Tỳ-kheo! Cũng như thương nhơn mang một con ưng vào biển. Ở giữa biển, thả chim ưng bay các phương Đông, Tây, Nam, Bắc trong hư không. Nếu nhìn thấy đất liền, chim bèn dừng trên đó. Nếu không nhìn thấy, chim bay trở về thuyền. Tỳ-kheo, ngươi cũng vậy. Ngươi lên cho đến Phạm thiên để hỏi ý nghĩa đó, cuối cùng không thành tựu mới trở về Ta. Nay Ta sẽ khiến cho ngươi thành tựu ý nghĩa đó.”
Liền nói bài kệ rằng:
Do đâu không bốn đại:
Đất, nước, lửa và gió?
Do đâu không thô, tế,
Và dài, ngắn, đẹp, xấu?
Do đâu không danh-sắc,
Vĩnh diệt, không dư tàn?
Nên đáp: thức vô hình,
Vô lượng, tự tỏa sáng;
Nó diệt, bốn đại diệt;
Thô, tế, đẹp, xấu diệt.
Nơi này danh sắc diệt,
Thức diệt, hết thảy diệt.
Khi ấy, Kiên Cố, con trai trưởng giả, bạch Phật rằng:
“Thế Tôn, Tỳ-kheo ấy tên gì? Làm sao ghi nhớ?”
Phật đáp:
“Tỳ-kheo ấy tên là A-thất-dĩ. Hãy ghi nhớ như vậy.”
Bấy giờ, Kiên Cố, con trai trưởng giả, nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
佛說長阿含經卷第十六
T 0101b12
T 0101b13
後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯
T 0101b14
如是我聞:
一時,佛在那難陀城波婆利掩
T 0101b16
次林中,與大比丘眾千二百五十人俱。
爾時,
T 0101b17
有長者子,名曰堅固,來詣佛所,頭面禮足,
T 0101b18
在一面坐。時,堅固長者子白佛言:「善哉!世尊!
T 0101b19
唯願今者勑諸比丘:『若有婆羅門、長者子、居
T 0101b20
士來,當為現神足顯上人法。』」
佛告堅固:
T 0101b21
「我終不教諸比丘為婆羅門、長者、居士而
T 0101b22
現神足上人法也。我但教弟子於空閑處
T 0101b23
靜默思道,若有功德,當自覆藏,若有過
T 0101b24
失,當自發露。」
時,堅固長者子復白佛言:「唯願
T 0101b25
世尊勑諸比丘:『若有婆羅門、長者、居士來,
T 0101b26
當為現神足,顯上人法。』」
佛復告堅固:「我
T 0101b27
終不教諸比丘為婆羅門、長者、居士而現
T 0101b28
神足上人法也。我但教弟子於空閑處靜
T 0101b29
默思道,若有功德,當自覆藏,若有過失,當
T 0101c01
自發露。」
時,堅固長者子白佛言:「我於上人
T 0101c02
法無有疑也。但此那難陀城國土豐樂,人
T 0101c03
民熾盛,若於中現神足者,多所饒益,佛及
T 0101c04
大眾善弘道化。」
佛復告堅固:「我終不教比
T 0101c05
丘為婆羅門、長者子、居士而現神足上人
T 0101c06
法也。我但教弟子於空閑處靜默思道,若
T 0101c07
有功德,當自覆藏,若有過失,當自發露。所
T 0101c08
以者何?有三神足。云何為三?一曰神足,二
T 0101c09
曰觀察他心,三曰教誡。云何為神足?長者
T 0101c10
子!比丘習無量神足,能以一身變成無數,
T 0101c11
以無數身還合為一,若遠若近,山河石壁,自
T 0101c12
在無礙,猶如行空;於虛空中結加趺坐,猶
T 0101c13
如飛鳥;出入大地,猶如在水;若行水上;
T 0101c14
猶如履地;身出烟火,如大火聚,手捫日
T 0101c15
月,立至梵天。若有得信長者、居士見此比
T 0101c16
丘現無量神足,立至梵天,當復詣餘未得
T 0101c17
信長者、居士所,而告之言:『我見比丘現無
T 0101c18
量神足,立至梵天。』彼長者、居士未得信者,語
T 0101c19
得信者言:『我聞有瞿羅呪,能現如是無量
T 0101c20
神變,乃至立至梵天。』」
佛復告長者子堅固:
T 0101c21
「彼不信者,有如此言,豈非毀謗言耶?」
堅固
T 0101c22
白佛言:「此實是毀謗言也。」
佛言:「我以是故,
T 0101c23
不勑諸比丘現神變化,但教弟子於空閑
T 0101c24
處靜默思道,若有功德,當自覆藏,若有過
T 0101c25
失,當自發露。如是,長者!此即是我諸比丘
T 0101c26
所現神足。
「云何名觀察他心神足?於是,比
T 0101c27
丘現無量觀察神足,觀諸眾生心所念法,
T 0101c28
隈屏所為皆能識知。若有得信長者、居士,
T 0101c29
見比丘現無量觀察神足,觀他眾生心所念
T 0102a01
法,隈屏所為皆悉識知,便詣餘未得信長
T 0102a02
者、居士所,而告之曰:『我見比丘現無量觀察
T 0102a03
神足,觀他眾生心所念法,隈屏所為皆悉能
T 0102a04
知。』彼不信長者、居士,聞此語已,生毀謗言:
T 0102a05
『有乾陀羅呪能觀察他心,隈屏所為皆悉能
T 0102a06
知。』云何?長者子!此豈非毀謗言耶?」
堅固白
T 0102a07
佛言:「此實是毀謗言也。」
佛言:「我以是故,不
T 0102a08
勅諸比丘現神變化,但教弟子於空閑處
T 0102a09
靜默思道,若有功德,當自覆藏,若有過失,
T 0102a10
當自發露。如是,長者子!此即是我比丘現
T 0102a11
觀察神足。
「云何為教誡神足?長者子!若如
T 0102a12
來、至真、等正覺出現於世,十號具足,於諸
T 0102a13
天、世人、魔、若魔天、沙門、婆羅門中,自身作證,
T 0102a14
為他說法,上中下言,皆悉真正,義味清淨,梵
T 0102a15
行具足。若長者、居士聞已,於中得信,得信
T 0102a16
已,於中觀察自念:『我不宜在家,若在家者,
T 0102a17
鈎鎖相連,不得清淨修於梵行。我今寧可
T 0102a18
剃除鬚髮,服三法衣,出家修道,具諸功德,
T 0102a19
乃至成就三明,滅諸闇冥,生大智明。所以者
T 0102a20
何?斯由精勤,樂獨閑居,專念不忘之所得
T 0102a21
也。』長者子!此是我比丘現教誡神足。」
爾時,
T 0102a22
堅固長者子白佛言:「頗有比丘成就此三
T 0102a23
神足耶?」
佛告長者子:「我不說有數,多有比
T 0102a24
丘成此三神足者。長者子!我有比丘在此
T 0102a25
眾中自思念:『此身四大,地、水、火、風,何由永滅?』
T 0102a26
彼比丘倐趣天道,往至四天王所,問四天王
T 0102a27
言:『此身四大,地、水、火、風,由何永滅?』
「長者子!彼
T 0102a28
四天王報比丘言:『我不知四大由何永滅?
T 0102a29
我上有天,名曰忉利,微妙第一,有大智慧,
T 0102b01
彼天能知四大由何而滅。』彼比丘聞已,即倐
T 0102b02
趣天道,往詣忉利天上,問諸天言:『此身四
T 0102b03
大,地、水、火、風,何由永滅?』彼忉利天報比丘言:
T 0102b04
『我不知四大何由滅,上更有天,名焰摩,
T 0102b05
微妙第一,有大智慧,彼天能知。』即往就問,又
T 0102b06
言不知。
「如是展轉,至兜率天、化自在天、
T 0102b07
他化自在天,皆言:『我不知四大何由而滅?上
T 0102b08
更有天,微妙第一,有大智慧,名梵迦夷,彼
T 0102b09
天能知四大何由永滅。』彼比丘即倐趣梵道,
T 0102b10
詣梵天上問言:『此身四大,地、水、火、風,何由永
T 0102b11
滅?』彼梵天報比丘言:『我不知四大何由永
T 0102b12
滅,今有大梵天王,無能勝者,統千世界,富
T 0102b13
貴尊豪,最得自在,能造化物,是眾生父母,
T 0102b14
彼能知四大由何永滅。』長者子!彼比丘尋
T 0102b15
問:『彼大梵王今為所在?』彼天報言:『不知大
T 0102b16
梵今為所在,以我意觀,出現不久。』未久,
T 0102b17
梵王忽然出現。長者!彼比丘詣梵王所問
T 0102b18
言:『此身四大,地、水、火、風,何由永滅?』彼大梵王
T 0102b19
告比丘言:『我梵天王無能勝者,統千世界,
T 0102b20
富貴尊豪,最得自在,能造萬物,眾生父母。』
T 0102b21
時,彼比丘告梵王曰:『我不問此事,自問
T 0102b22
四大,地、水、火、風,何由永滅?』
「長者子!彼梵王猶
T 0102b23
報比丘言:『我是大梵天王,無能勝者,乃至
T 0102b24
造作萬物,眾生父母。』比丘又復告言:『我不
T 0102b25
問此,我自問四大何由永滅?』長者子!彼梵
T 0102b26
天王如是至三,不能報彼比丘四大何由
T 0102b27
永滅。時,大梵王即執比丘右手,將詣屏處,
T 0102b28
語言:『比丘!今諸梵王皆謂我為智慧第一,
T 0102b29
無不知見,是故我不得報汝言:「不知不
T 0102c01
見此四大何由永滅。」』又語比丘:『汝為大愚!
T 0102c02
乃捨如來於諸天中推問此事。汝當於世
T 0102c03
尊所問如此事,如佛所說,善受持之。』又
T 0102c04
告比丘:『今佛在舍衛國給孤獨園,汝可往
T 0102c05
問。』
「長者子!時,比丘於梵天上忽然不現。
T 0102c06
譬如壯士屈申臂頃,至舍衛國祇樹給孤
T 0102c07
獨園,來至我所,頭面禮足,一面坐,白我言:
T 0102c08
『世尊!今此四大,地、水、火、風,何由而滅?』時,我告
T 0102c09
言:『比丘!猶如商人臂鷹入海,於海中放
T 0102c10
彼鷹飛空東西南北,若得陸地則便停止,
T 0102c11
若無陸地更還歸船。比丘!汝亦如是,乃至
T 0102c12
梵天問如是義,竟不成就,還來歸我。今當
T 0102c13
使汝成就此義。』即說偈言:
T 0102c14
「『何由無四大, 地水火風滅?
T 0102c15
何由無麤細, 及長短好醜?
T 0102c16
何由無名色, 永滅無有餘?
T 0102c17
應答識無形, 無量自有光。
T 0102c18
此滅四大滅, 麤細好醜滅,
T 0102c19
於此名色滅, 識滅餘亦滅。』」
T 0102c20
時,堅固長者子白佛言:「世尊!此比丘名何
T 0102c21
等?云何持之?」
佛告長者子:「此比丘名阿室
T 0102c22
已,當奉持之。」
爾時,堅固長者子聞佛所說,
T 0102c23
歡喜奉行。
T 0102c24