Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

28. Kinh bố-tra-bà-lâu (DA28)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ-thọ Cấp cô độc, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.

Bấy giờ, vào lúc sáng sớm, Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khi ấy, Thế Tôn nghĩ rằng:

“Ngày hôm nay khất thực, thời gian còn sớm, Ta hãy đến thăm khu rừng của Phạm-chí Bố-tra-bà-lâu; đợi đến giờ rồi hãy đi khất thực”. Rồi Ngài đi đến rừng của Phạm-chí. Phạm-chí Bố-tra-bà-lâu từ xa trông thấy Phật đi đến, liền đứng dậy nghinh đón rằng:

“Hoan nghinh, Sa-môn Cù-đàm! Lâu nay không đến đây. Nay vì duyên cớ gì lại khuất mình chiếu cố? Xin mời ngồi phía trước đây.”

Thế Tôn ngồi xuống chỗ ấy, nói với Bố-tra-bà-lâu rằng:

“Các ông tập họp tại đây, để làm gì? Để bàn chuyện gì?”

Phạm-chí bạch Phật:

“Thế Tôn, mấy ngày qua có nhiều Sa-môn, Bà-la-môn tập họp tại giảng đường, bàn luận sự việc như vậy. Những vấn đề chống trái nhau.

“Cù-đàm, hoặc có Phạm-chí nói như vầy: ‘Con người phát sanh tưởng không do nhân gì duyên gì. Tưởng diệt, không do nhân duyên gì. Tưởng có đến, có đi. Khi tưởng đến thì tưởng sanh. K thì tưởng diệt’.

“Cù-đàm, hoặc có Phạm-chí nói như vầy: ‘Do mạng, có tưởng sanh; do mạng, có tưởng diệt. Tưởng kia đi, đến. Đến thì tưởng sanh. Đi thì tưởng diệt. ’

“Cù-đàm, hoặc có Phạm-chí nói như vầy: ‘Các thuyết nói trước đó không đúng sự thật. Có vị đại quỷ thần, có uy lực lớn, mang tưởng đi; mang tưởng đến. Khi vị ấy mang tuởng đi thì tưởng diệt. Khi vị ấy mang tưởng đến thì tưởng sanh’.

“Tôi nhân đó có suy nghĩ, nghĩ rằng Sa-môn Cù-đàm tất biết rõ ý nghĩa này, tất có thể biết rõ tưởng tri diệt định.”

Bấy giờ Thế Tôn nói với Phạm-chí rằng:

“Các luận thuyết ấy đều có chỗ sai lầm. Tức là nói không do nhân, không do duyên mà có tưởng sanh; không do nhân, không do duyên mà có tưởng diệt; tưởng có đến, đi; đến thì tưởng sanh, đi thì tưởng diệt. Hoặc nói nhân bởi mạng mà tưởng sanh, nhân bởi mạng mà tưởng diệt; tưởng có đến, đi; đến thì tưởng sanh, đi thì tưởng diệt. Hoặc nói, không hề có chuyện đó, mà là có một vị đại quỷ thần mang tưởng đến và mang tưởng đi; khi vị ấy mang đến thì tưởng sanh; khi mang đi thì tưởng diệt. Những lời như vậy thảy đều sai lầm. Vì sao? Này Phạm-chí, có nhân, có duyên để tưởng sanh. Có nhân, có duyên để tưởng diệt.

“Nếu Như Lai xuất hiện ở đời; là bậc Chí chơn, Đẳng Chánh Giác, mười hiệu đầy đủ. Có người ở trong Phật pháp mà xuất gia tu đạo, cho đến, diệt năm triền cái che lấp tâm, trừ khử dục, ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, hỷ lạc do định sanh, nhập sơ thiền. Trước diệt tưởng về dục, rồi phát sanh tưởng về hỷ và lạc. Phạm-chí, vì vậy biết có nhân duyên cho tưởng sanh, có nhân duyên cho tưởng diệt.

“Diệt tầm, tứ, nội tâm tịch tĩnh, nhất tâm, không tầm, không tứ, có hỷ và lạc do định sanh, nhập đệ nhị thiền. Phạm-chí, kia tưởng của sơ thiền diệt, tưởng của nhị thiền sanh, vì vậy nên biết có nhân duyên để tưởng diệt; có nhân duyên để tưởng sanh.

“Dứt hỷ, an trú xả, chánh niệm, chánh tri, tự biết thân lạc, điều mà Hiền Thánh nói là xả, an trú lạc có niệm, nhập đệ tam thiền. Phạm-chí, kia tưởng của nhị thiền diệt, tưởng của tam thiền sanh. Vì vậy nên biết có nhân duyên để tưởng diệt, có nhân duyên để tưởng sanh.

“Dứt khổ, dứt lạc, ưu và hỷ từ trước đã diệt, xả, niệm thanh tịnh, nhập đệ tứ thiền. Phạm-chí, kia tưởng tam thiền diệt, tưởng tứ thiền sanh. Vì vậy biết rằng có nhân duyên để tưởng diệt; có nhân duyên để tưởng sanh.

“Vượt qua thảy tưởng về sắc, diệt tưởng hữu đối, không niệm các tưởng sai biệt, nhập không vô biên xứ. Này Phạm-chí, tưởng về hết thảy sắc diệt, tưởng về không vô biên xứ sanh. Vì vậy biết rằng có nhân duyên để tưởng sanh, có nhân duyên để tưởng diệt.

“Vượt qua hết thảy không vô biên xứ, nhập thức vô biên xứ. Này Phạm-chí, tưởng về không vô biên xứ diệt, tưởng về thức vô biên xứ sanh. Vì vậy biết rằng có nhân duyên để tưởng sanh, có nhân duyên để tưởng diệt.

“Vượt qua hết thảy thức vô biên xứ, nhập vô sở hữu xứ. Này Phạm-chí, tưởng về thức vô biên xứ diệt, tưởng về vô sở hữu sanh. Vì vậy biết rằng có nhân duyên để tưởng sanh, có nhân duyên để tưởng diệt.

“Vượt qua vô sở hữu xứ, nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này Phạm-chí, tưởng về vô sở hữu xứ diệt, tưởng về phi tưởng phi phi tưởng xứ sanh. Vì vậy biết rằng có nhân duyên để tưởng sanh, có nhân duyên để tưởng diệt.

“Kia vượt qua phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhập tưởng thọ diệt định. Này Phạm-chí, tưởng về phi tưởng phi phi tưởng xứ diệt; tưởng thọ diệt định sanh. Vì vậy biết rằng có nhân duyên để tưởng sanh, có nhân duyên để tưởng diệt.

“Vị ấy khi đạt đến tưởng này rồi, suy nghĩ như vầy: ‘Có tư niệm là xấu, không tư niệm là tốt. Nếu khi ta tư duy như vậy, thì tưởng vi diệu kia (không) diệt, mà tưởng thô lại sanh.’ Vị ấy lại suy nghĩ: ‘Nay ta không nên niệm hành, không khởi tư duy.’ Vị ấy khi không niệm hành, không khởi tư duy, tưởng vi diệu diệt, tưởng thô không sanh. Khi vị ấy không niệm hành, tưởng vi diệu diệt, tưởng thô không sanh, liền nhập định tưởng thọ diệt.

“Thế nào, Phạm-chí, từ trước đến nay ông đã bao giờ nghe nhân duyên của thứ tự diệt tưởng này chưa?”

Phạm-chí bạch Phật:

“Tôi tin là từ trước đến nay chưa bao giờ nghe đến nhân duyên của thứ tự diệt tưởng này.”

Phạm-chí lại bạch Phật:

“Nay tôi có ý nghĩ như vầy, tức là: đây là có tưởng; (tiếp theo) đây là không có tưởng. rồi lại có tưởng. Sau khi có tưởng như vậy rồi, vị ấy suy nghĩ như vầy: có tư niệm là xấu, không niệm là tốt. Vị ấy khi suy nghĩ như vậy, tưởng vi diệu của vị ấy không diệt, mà tưởng thô lại sanh. Vị ấy lại suy nghĩ: Nay ta không nên niệm hành, không khởi tư duy. Vị ấy khi không niệm hành, không khởi tư duy, tưởng vi diệu diệt, tưởng thô không sanh. Khi vị ấy không niệm hành, tưởng vi diệu diệt, tưởng thô không sanh, liền nhập định tưởng thọ diệt.”

Phật nói với Phạm-chí:

“Lành thay, lành thay, đó là theo thứ tự đạt diệt tưởng định trong pháp của Hiền Thánh.”

Phạm-chí lại bạch Phật:

“Trong các tưởng này, tưởng nào là tối thượng bậc nhất?”

Phật nói với Phạm-chí:

“Những gì được nói là có tưởng, và những gì được nói là không có tưởng, ở khoảng trung gian đó mà có thể thứ tự đạt được tưởng thọ diệt định, đó là tưởng tối thượng bậc nhất.”

Phạm-chí lại hỏi:

“Là một tưởng, hay nhiều tưởng?”

Phật nói:

“Có một tưởng. Không có nhiều tưởng.”

Phạm-chí lại hỏi:

“Trước có tưởng sanh sau đó mới trí? Hay trước có trí sanh sau đó mới tưởng? Hay tưởng và trí cùng sanh một lượt?”

Phật nói:

“Trước có tưởng sanh, sau đó mới trí. Do tưởng mà có trí.”

Phạm-chí lại hỏi:

“Tưởng tức là ngã chăng?”

Phật hỏi:

“Ngươi nói ngã của con người như thế nào?”

Phạm-chí nói:

“Tôi không nói con người là ngã. Tôi tự nói, sắc thân với bốn đại, sáu xứ, do cha mẹ sanh, được nuôi nấng mà lớn, trang sức bằng y phục, nhưng là pháp vô thường, biến hoại. Tôi nói, con người đó là ngã.”

Phật nói với Phạm-chí:

“Ngươi nói, sắc thân với bốn đại, sáu xứ, do cha mẹ sanh, được nuôi nấng mà lớn, trang sức bằng y phục, nhưng là pháp vô thường, biến hoại. Nói con người đó là ngã. Này Phạm-chí, hãy gác qua tự ngã đó. Nhưng, tưởng của con người sanh, tưởng của con người diệt.”

Phạm-chí nói:

“Tôi không nói con người là ngã. Tôi nói, Dục giới thiên là ngã.”

Phật nói:

“Này Phạm-chí, hãy gác qua Dục giới thiên là tự ngã đó. Nhưng, tưởng của con người sanh, tưởng của con người diệt.”

Phạm-chí nói:

“Tôi không nói con người là ngã. Tôi tự nói, Sắc giới thiên là ngã.”

Phật nói:

“Này Phạm-chí, hãy gác qua Sắc giới thiên là tự ngã đó. Nhưng, tưởng của con người sanh, tưởng của con người diệt.”

Phạm-chí nói:

“Tôi không nói con người là ngã. Tôi tự nói không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sắc thiên, là ngã.”

Phật nói:

“Hãy gác qua không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, vô sắc thiên, là ngã. Nhưng, tưởng của con người sanh, tưởng của con người diệt.”

Phạm-chí bạch Phật:

“Thế nào, thưa Cù-đàm, tôi có thể biết được tưởng của con người sanh, tưởng của con người diệt không?”

Phật nói:

“Ngươi muốn biết tưởng của con người sanh, tưởng của con người diệt, thật quá khó! Thật quá khó! Vì sao vậy? Vì do ngươi, y pháp khác mà có kiến giải khác, tập hành khác , nhẫn khác, thọ khác.”

Phạm-chí bạch Phật:

“Thật vậy, thưa Cù-đàm, tôi y theo pháp khác mà có kiến giải khác, tập hành khác, nhẫn khác, thọ khác, cho nên, muốn biết tưởng của con người sanh, tưởng của con người diệt, thật quá khó! Thật quá khó! Vì sao vậy? Ngã, thế gian là thường hằng: đây là thật, ngoài ra là dối. Ngã, thế gian là không thường hằng: đây là thật, ngoài ra là dối. Ngã, thế gian vừa thường vừa vô thường: đây là thật, ngoài ra là dối. Ngã, thế gian không phải thường không phải không thường: đây là thật, ngoài ra là dối. Ngã, thế gian là hữu biên: đây là thật, ngoài ra là dối. Ngã, thế gian là vô biên: đây là thật, ngoài ra là dối. Ngã, thế gian vừa hữu biên vừa vô biên: đây là thật, ngoài ra là dối. Ngã, thế gian không phải hữu biên không phải vô biên: đây là thật, ngoài ra là dối. Thân tức là mạng: đây là thật, ngoài ra là dối. Mạng khác thân khác: đây là thật, ngoài ra là dối. Thân, mạng không phải khác không phải không khác: đây là thật, ngoài ra là dối. Không mạng, không thân: đây là thật, ngoài ra là dối. Như Lai tồn tại sau khi chết: đây là thật, ngoài ra là dối. Như Lai không tồn tại sau khi chết: đây là thật, ngoài ra là dối. Như Lai không phải tồn tại không phải không tồn tại sau khi chết: đây là thật, ngoài ra là dối.”

Phật nói với Phạm-chí:

“Thế gian là thường hằng, cho đến, Như Lai hông phải tồn tại không phải không tồn tại sau khi chết: là những câu hỏi Ta không trả lời.”

Phạm-chí bạch Phật:

“Cù Đàm, vì sao không trả lời, Ngã và thế gian là thường hằng, cho đến, Như Lai hông phải tồn tại không phải không tồn tại sau khi chết?”

Phật nói:

“Vì chúng không phù hợp ý nghĩa, không phù hợp pháp, không phải phạm hạnh, không phải vô dục, không phải vô vi, không phải tịch diệt, không phải chỉ tức, không phải chánh giác, không phải Sa-môn, không phải Niết-bàn. Vì vậy Ta không trả lời.”

Phạm-chí lại hỏi:

“Thế nào là phù hợp nghĩa, phù hợp pháp? Thế nào là phạm hạnh sơ bản? Thế nào là vô vi? Thế nào là vô dục? Thế nào là tịch diệt? Thế nào là chỉ tức? Thế nào là chánh giác? Thế nào là Sa-môn? Thế nào là nê-hoàn? Thế nào là vô ký?”

Phật nói:

“Điều mà Ta trả lời là về Khổ đế, Về khổ tập, Khổ diệt, Khổ xuất yếu đế. Vì sao vậy? Vì phù hợp nghĩa, phù hợp pháp, là phạm hạnh sơ thủ, là vô dục, vô vi, tịch diệt, chỉ tức, chánh giác, Sa-môn, Niết-bàn. Vì vậy Ta trả lời.”

Bấy giờ, Thế Tôn thuyết pháp cho Phạm-chí nghe xong, chỉ bày, khuyến khích, làm cho ích lợi, hoan hỷ, Ngài đứng dậy mà đi.

Phật đi chưa bao lâu, sau đó các Phạm-chí khác nói với Phạm-chí Bố-tra-bà-lâu rằng:

“Tại sao ông nghe theo những lời của Sa-môn Cù-đàm? Chấp nhận những lời của Cù-đàm rằng: ‘Ngã và thế gian là thường hằng, cho đến, Như Lai không hông phải tồn tại không phải không tồn tại sau khi chết, là những vấn đề không phù hợp nghĩa nên Ta không trả lời.’ Tại sao ngươi ấn khả những lời như vậy? Chúng ta không chấp nhận sở thuyết như vậy của Sa-môn Cù-đàm.”

Bố-tra-bà-lâu trả lời các Phạm-chí:

“Sa-môn Cù-đàm nói rằng: ‘Ngã và thế gian là thường hằng, cho đến, Như Lai không phải tồn tại không phải không tồn tại sau khi chết, là những vấn đề không phù hợp nghĩa nên Ta không trả lời.’ Tôi cũng không ấn khả lời ấy. Nhưng Sa-môn Cù-đàm kia y trên Pháp, trụ trên Pháp, đúng Pháp mà nói, đúng theo Pháp mà xuất ly; làm sao tôi có thể chống lại lời nói có trí tuệ ấy? Pháp ngôn vi diệu như thế của Sa-môn Cù-đàm, không thể chống trái được.”

Rồi, một lúc khác, Phạm-chí Bố-tra-bà-lâu cùng với Tượng Thủ Xá-lợi-phất đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi xong, ngồi xuống một bên. Tuợng Thủ lễ Phật xong rồi ngồi xuống. Phạm-chí bạch Phật:

“Trước đây Phật tại chỗ tôi. Khi Ngài đi chưa lâu, sau đó các Phạm-chí khác nói với tôi rằng: ‘Tại sao ông nghe theo những lời của Sa-môn Cù-đàm? Chấp nhận những lời của Cù-đàm rằng: ‘Ngã và thế gian là thường hằng, cho đến, Như Lai không phải tồn tại không phải không tồn tại sau khi chết, là những vấn đề không phù hợp nghĩa nên Ta không trả lời.’ Tại sao ngươi ấn khả những lời như vậy? Chúng ta không chấp nhận sở thuyết như vậy của Sa-môn Cù Đàm.’Tôi trả lời các Phạm-chí: ‘Sa-môn Cù-đàm nói rằng: ‘Ngã và thế gian là thường hằng, cho đến, Như Lai không phải tồn tại không phải không tồn tại sau khi chết, là những vấn đề không phù hợp nghĩa nên Ta không trả lời.’ Tôi cũng không ấn khả lời ấy. Nhưng Sa-môn Cù-đàm kia y trên Pháp, trụ trên Pháp, đúng Pháp mà nói, đúng theo Pháp mà xuất ly; làm sao chúng ta có thể chống lại lời nói có trí tuệ ấy? Pháp ngôn vi diệu như thế của Sa-môn Cù-đàm, không thể chống trái được’.”

Phật nói với Phạm-chí:

“Các Phạm-chí nói: ‘Ông tại sao nghe những điều Sa-môn Cù-đàm nói mà ấn khả?’ Lời ấy sai lầm. Vì sao vậy? Pháp mà Ta nói, có trường hợp được ghi nhận xác quyết, có trường hợp không được ghi nhận xác quyết. Thế nào gọi là không ghi nhận xác quyết? Ngã, thế gian thường hằng, cho đến, không phải tồn tại không phải không tồn tại sau khi chết. Ta cũng nói lời ấy, nhưng không ghi nhận xác ký. Sở dĩ như vậy, vì những lời ấy không phù hợp nghĩa, không phù hợp pháp, không phải là phạm hạnh sơ bản, không phải vô dục, không phải vô vi, không phải tịch diệt, không phải chỉ tức, không phải chánh giác, không phải Sa-môn, không phải Nết-bàn. Vì vậy, này Phạm-chí, Ta tuy nói những lời ấy nhưng không ghi nhận xác quyết. Thế nào gọi là ghi nhận xác quyết? Ta ghi nhận Khổ đế, Khổ tập, Khổ diệt, Khổ xuát yếu đế. Vì sao vậy? Điều đó phù hợp nghĩa, phù hợp pháp, là phạm hạnh sơ thủ, vô dục, vô vi, tịch diệt, chỉ tức, chánh giác, Sa-môn, Niết-bàn. Vì vậy, Ta nói được ghi nhận xác quyết.

“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương ở một nơi thế gian chỉ có hoàn toàn lạc. Ta nói với vị ấy rằng: ‘Các ông có thật chủ trương ở một nơi thế gian chỉ có hoàn toàn lạc chăng?’ Những vị ấy trả lời Ta rằng: ‘Thật vậy.’ Ta lại nói với họ rằng: ‘Các ông có thấy, biết một nơi thế gian chỉ có hoàn toàn lạc không?’ Họ trả lời: ‘Không thấy, không biết.’ Ta lại nói với họ: ‘Chư thiên ở một nơi thế gian chỉ có hoàn toàn lạc; các ông đã từng thấy chưa?’ Kia đáp: ‘Không biết, không thấy.’ Ta lại hỏi: ‘Chư thiên ở một nơi thế gian kia, có bao giờ các ông từng cùng đứng ngồi trò chuyện, tinh tấn tu định chưa?’ Đáp rằng: ‘Chưa.’ Ta lại hỏi: ‘Chư thiên ở một nơi thế gian hoàn toàn sung sướng kia, có bao giờ đến nói với các ông chưa, rằng: ‘Việc làm của ngươi chất trực, ngươi sẽ sanh lên cõi trời hoàn toàn sung sướng kia. Ta do việc làm chất trực, nên được sanh lên kia cùng hưởng thọ dục lạc?’ Kia đáp rằng:’Chưa.’ Ta lại hỏi: ‘Các ông có thể ở nơi thân của mình, khởi tâm biến hóa thành thân tứ đại khác, thân thể đầy đủ, các căn không khuyết, hay không?’ Kia đáp: ‘Không thể.’ Thế nào, Phạm-chí, những điều mà Sa-môn, Bà-la-môn kia nói có thành thật chăng? Có thích ứng với pháp chăng?”

Phạm-chí bạch Phật:

“Đấy không phải là thành thật; không phải là lời nói đúng pháp.”

Phật bảo Phạm-chí:

“Như có người nói: ‘Tôi đã giao thông với người nữ xinh đẹp kia, khen ngợi dâm nữ kia.’ Người khác hỏi: ‘Ngươi có biết người nữ ấy không? Ở tại địa phương nào: Đông, Tây, Nam, Bắc?’ Đáp: ‘Không biết.’ Lại hỏi: ‘Ngươi có biết đất đai, thành ấp, chòm xóm mà người nữ ấy cư ngụ không?’Đáp: ‘Không biết.’ Lại hỏi: ‘Ngươi có biết người kia là Sát-lị, hay Bà-la-môn, hay Cư sĩ, hay Thủ-đà-la không?’ Đáp: ‘Không.’ Lại hỏi: ‘Ngươi có biết người kia cao hay thấp, thô kệch hay thanh lịch. Đen hay trắng, xấu hay đẹp không?’ Đáp: ‘Không.’ Thế nào, Phạm-chí, những điều mà người này nói có thành thật chăng?’

Đáp: ‘Không.’

“Phạm-chí, Sa-môn, Bà-la-môn kia cũng vậy, không có sự chân thật. Phạm-chí, cũng như có người dựng thang nơi khoảng đất trống. Những người khác hỏi: ‘Dựng thang để làm gì?’ Đáp: ‘Tôi muốn leo lên nhà trên.’ Thế nào, Phạm-chí, người dựng thang kia há không phải là dối sao?”

Đáp: “Kia thật sự hư dối”.

Phật nói:

“Các Sa-môn, Bà-la-môn kia cũng vậy, hư dối, không thật.”

Phật bảo Bố-tra-bà-lâu:

“Thân ta, sắc gồm bốn đại, sáu xứ, do cha mẹ sanh, được nuôi lớn bằng bú mớm, trang sức bằng y phục, vô thường hoại diệt; thân đó được cho là ngã. Ta nói đó là ô nhiễm, là thanh tịnh, là được giải thoát. Ý của ngươi hoặc giả cho rằng pháp nhiễm ô không thể diệt, pháp thanh tịnh không thể sanh, luôn luôn tồn tại trong đau khổ. Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Vì, pháp nhiễm ô có thể bị diệt tận, pháp thanh tịnh có thể xuất sanh, an trú nơi lạc địa, hoan hỷ, ái lạc, chuyên niệm, nhất tâm, trí tuệ rộng lớn. Phạm-chí, Ta đối với Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng thiên, nói là ô nhiễm, và cũng nói là thanh tịnh, cũng nói là được giải thoát. Ý ngươi có thể cho rằng pháp nhiễm ô không thể diệt, pháp thanh tịnh không thể sanh, luôn luôn tồn tại trong đau khổ. Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Vì, pháp nhiễm ô có thể bị diệt tận, pháp thanh tịnh có thể xuất sanh, an trú nơi lạc địa, hoan hỷ, ái lạc, chuyên niệm, nhất tâm, trí tuệ rộng lớn.”

Bấy giờ Tượng Thủ Xá-lợi-phất bạch Phật rằng:

“Thế Tôn, khi đang hiện hữu thân người thuộc Dục giới, với bốn đại và các căn, khi ấy thân thuộc Dục giới thiên, thân thuộc Sắc giới thiên, thân thuộc Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên, lúc ấy có đồng thời cùng hiện hữu không?

“Bạch Thế Tôn, khi đang hiện hữu thân thuộc Dục giới thiên, khi ấy thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, thân thuộc Sắc giới thiên, thân thuộc Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên, lúc ấy có đồng thời cùng hiện hữu không?

“Bạch Thế Tôn, khi đang hiện hữu thân thuộc Sắc giới thiên, khi ấy thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, thân thuộc Dục giới thiên, thân thuộc Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ có đồng thời cùng hiện hữu không?

“Cũng vậy, cho đến, khi đang hiện hữu thân thuộc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, khi ấy thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, thân thuộc Dục giới thiên, thân thuộc Sắc giới thiên, thân thuộc Không vô biên xứ, thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ thiên có đồng thời cùng hiện hữu không?”

Phật nói với Tượng Thủ Xá-lợi-phất :

“Khi đang hiện hữu thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, thì ngay khi ấy là thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, chứ không phải là thân thuộc Dục giới thiên, thân Sắc giới thiên, thân Không vô biên xứ thiên, thân Thức vô biên xứ thiên, thân Vô sở hữu xứ thiên, thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên. Cũng vậy, cho đến, nếu khi đang hiện hữu thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên, thì ngay khi ấy là thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên, chứ không phải là thân người Dục giới với bốn đại và các căn, không phải là thân Dục giới thiên, thân Sắc giới thiên, thân Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ thiên.

“Này Tưởng Thủ, ví như sữa bò. Sữa biến thành tô. Tô biến thành lạc. Lạc biến thành sanh tô. Sanh tô biến thành thục tô. Thục tô biến thành đề hồ. Đề hồ là bậc nhất. Khi là sữa, thì chỉ được gọi là sữa mà không gọi là lạc, tô, đề hồ. Cũng vậy, lần lượt cho đến khi là đề hồ, thì khi ấy chỉ được gọi là đề hồ mà không gọi là lạc, tô.

“Tượng Thủ, ở đây cũng vậy, khi đang hiện hữu thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, thì ngay khi ấy là thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, chứ không phải là thân thuộc Dục giới thiên, cho đến, không phải là thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên. Cũng vậy, lần lượt cho đến, khi đang hiện hữu thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên, thì ngay khi ấy chỉ có thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên, chứ không phải là thân người Dục giới với bốn đại và các căn, cho đến, thân Vô sở hữu xứ thiên.

“Tượng Thủ, ý ngươi nghĩ sao? Nếu có người hỏi ngươi: ‘Khi đang hiện hữu thân quá khứ; khi ấy thân vị lai và thân hiện tại có cùng nhất thời hiện hữu không? Khi đang hiện hữu thân vị lai, khi ấy thân quá khứ và thân hiện tại có đồng thời hiện hữu không? Khi đang hiện hữu thân hiện tại, khi ấy thân quá khứ và thân vị lai có đồng thời hiện hữu không?’ Giả sử được hỏi như vậy, ngươi sẽ trả lời như thế nào?”

Tượng Thủ đáp:

“Giả sử có người hỏi như vậy, con sẽ trả lời người ấy rằng: ‘Khi đang hiện hữu thân quá khứ, khi ấy duy chỉ là thân quá khứ, mà không phải là thân hiện tại và vị lai. Khi đang hiện hữu thân vị lai, khi ấy duy chỉ là thân vị lai. Chứ không phải là thân quá khứ và hiện tại. Khi đang hiện hữu thân hiện tại, khi ấy chỉ là thân hiện tại, chứ không phải là thân quá khứ và thân vị lai’.”

Phật nói:

“Tượng Thủ, ở đây cũng vậy, khi đang hiện hữu thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, thì ngay khi ấy là thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, chứ không phải là thân thuộc Dục giới thiên, cho đến, không phải là thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên. Cũng vậy, lần lượt cho đến, khi đang hiện hữu thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên, thì ngay khi ấy chỉ có thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên, chứ không phải là thân người Dục giới với bốn đại và các căn, cho đến, thân Vô sở hữu xứ thiên.

“Lại nữa, Tượng Thủ, giả sử có người hỏi ngươi: ‘Có phải ngươi trong quá khứ đã từng hiện hữu và đã diệt; vị lai sẽ sanh, và hiện tại đang tồn tại chăng?’ Nếu được hỏi như vậy, ngươi sẽ trả lời như thế nào?”

Tượng Thủ bạch phật:

“Giả sử có người hỏi như vậy, con sẽ trả lời người ấy rằng: ‘Trong quá khứ tôi đã từng hiện hữu; không phải không hiện hữu. Trong vị lai, tôi sẽ sanh, chứ không phải không có; trong hiện tại, tôi đang tồn tại. Chứ không phải không có.”

Phật nói:

“Tượng Thủ, ở đây cũng vậy, khi đang hiện hữu thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, thì ngay khi ấy là thân người thuộc Dục giới với bốn đại và các căn, chứ không phải là thân thuộc Dục giới thiên, cho đến, không phải là thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên. Cũng vậy, lần lượt cho đến, khi đang hiện hữu thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên, thì ngay khi ấy chỉ có thân Phi tưởng phi phi tưởng thiên, chứ không phải là thân người Dục giới với bốn đại và các căn, cho đến, thân Vô sở hữu xứ thiên.”

Bấy giờ, Tượng Thủ bạch Phật:

“Con nay quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin nhận con là Ưu-bà-tắc trong Chánh pháp. Từ nay đến trọn đời, nguyện không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu.”

Khi ấy Phạm-chí Bố-tra-bà-lâu bạch Phật:

“Con có thể ở trong Phật pháp xuất gia, thọ giới cụ túc được không?”

Phật nói với Phạm-chí:

“Nếu có người dị học muốn được xuất gia thọ giới trong Pháp của Ta, trước hết phải cần bốn tháng quán sát, làm hài lòng đại chúng, sau đó mới được xuất gia thọ giới. Tuy có quy định như vậy, nhưng cũng còn nhận xét tùy người.”

Phạm-chí bạch Phật:

“Nếu có các người dị học muốn được xuất gia thọ giới trong Phật Pháp, trước hết phải cần bốn tháng quán sát, làm hài lòng đại chúng, sau đó mới được xuất gia thọ giới. Như con nay, có thể ở trong Phật pháp qua bốn tháng quan sát, khi đại chúng hài lòng, con mới xin xuất gia thọ giới cụ túc.”

Phật nói với Phạm-chí:

“Ta đã có nói với ngươi trước rồi. Tuy có quy định như vậy, nhưng cũng còn nhận xét tùy người.”

Bấy giờ Phạm-chí liền được xuất gia thọ giới cụ túc ở trong Chánh pháp. Như vậy không bao lâu, do tín tâm kiên cố, tịnh tu phạm hạnh, ở ngay trong đời này mà tự thân tác chứng, sanh tử đã dứt, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh nữa; tức thành A-la-hán.

Bấy giờ, Bố-tra-bà-lâu sau khi nghe những điều Phật dạy hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

如是我聞:

一時,佛在舍衛國祇樹給孤獨

T 0109c24

園,與大比丘眾千二百五十人俱。

爾時,世尊

T 0109c25

清旦著衣持鉢,入舍衛城乞食。時,世尊念

T 0109c26

言:「今日乞食,於時為早,今我寧可往至布

T 0109c27

吒婆樓梵志林中觀看,須時至當乞食。」爾

T 0109c28

時,世尊即詣梵志林中。

時,布吒婆樓梵志遙

T 0109c29

見佛來,即起迎言:「善來,沙門瞿曇!久不來

T 0110a01

此,今以何緣而能屈顧?可前就座。」

爾時,世

T 0110a02

尊即就其座,告布吒婆樓曰:「汝等集此,何

T 0110a03

所作為?為何講說?」

梵志白佛言:「世尊!昨日

T 0110a04

多有梵志、沙門、婆羅門集此婆羅門堂,說

T 0110a05

如是事,相違逆論。瞿曇!或有梵志作是說

T 0110a06

言:『人無因無緣而想生,無因無緣而想滅,

T 0110a07

想有去來,來則想生,去則想滅。』瞿曇!或有

T 0110a08

梵志作是說:『由命有想生,由命有想滅,

T 0110a09

彼想有去來,來則想生,去則想滅。』瞿曇!或

T 0110a10

有梵志作是說:『如先所言,無有是處。有

T 0110a11

大鬼神,有大威力,彼持想去,彼持想來,彼

T 0110a12

持想去則想滅,彼持想來則想生。』我因是

T 0110a13

故生念,念沙門瞿曇先知此義,必能善知

T 0110a14

想知滅定。」

爾時,世尊告梵志曰:「彼諸論者

T 0110a15

皆有過咎。言無因無緣而有想生,無因無

T 0110a16

緣而有想滅,想有去來,來則想生,去則想

T 0110a17

滅。或言因命想生,因命想滅,想有去來,

T 0110a18

來則想生,去則想滅。或有言:『無有是處,

T 0110a19

有大鬼神,彼持想來,彼持想去,持來則想

T 0110a20

生,持去則想滅。』如此言者,皆有過咎。所以

T 0110a21

者何?梵志!有因緣而想生,有因緣而想滅。

T 0110a22

「若如來出現於世,至真、等正覺,十號具足,有

T 0110a23

人於佛法中出家為道,乃至滅五蓋覆蔽

T 0110a24

心者,除去欲、惡不善法,有覺、有觀,離生喜、

T 0110a25

樂,入初禪,先滅欲想,生喜、樂想。梵志!以

T 0110a26

此故知有因緣想生,有因緣想滅。滅有覺、

T 0110a27

觀,內喜、一心,無覺、無觀,定生喜、樂,入第二

T 0110a28

禪。梵志!彼初禪想滅,二禪想生,以是故知

T 0110a29

有因緣想滅,有因緣想生。捨喜修護,專念

T 0110b01

一心,自知身樂,賢聖所求,護念清淨,入三

T 0110b02

禪。梵志!彼二禪想滅,三禪想生,以是故知

T 0110b03

有因緣想滅,有因緣想生。捨苦捨樂,先滅

T 0110b04

憂喜,護念清淨,入第四禪。梵志!彼三禪想

T 0110b05

滅,四禪想生,以是故知有因緣想滅,有因

T 0110b06

緣想生。捨一切色想,滅恚,不念異想,入

T 0110b07

空處。梵志!一切色想滅,空處想生,以是故

T 0110b08

知有因緣想滅,有因緣想生。越一切空處,

T 0110b09

入識處。梵志!彼空處想滅,識處想生,故知

T 0110b10

有因緣想滅,有因緣想生。越一切識處,入

T 0110b11

不用處。梵志!彼識處想滅,不用處想生,以是

T 0110b12

故知有因緣想滅,有因緣想生。捨不用處,

T 0110b13

入有想無想處。梵志!彼不用處想滅,有想

T 0110b14

無想處想生,以是故知有因緣想滅,有因

T 0110b15

緣想生。彼捨有想無想處,入想知滅定。梵

T 0110b16

志!彼有想無想處想滅,入想知滅定,以是

T 0110b17

故知有因緣想生,有因緣想滅。彼得此想

T 0110b18

已,作是念:『有念為惡,無念為善。』彼作是念

T 0110b19

時,彼微妙想不滅,更麤想生。彼復念言:『我

T 0110b20

今寧可不為念行,不起思惟。』彼不為念

T 0110b21

行,不起思惟已,微妙想滅,麤想不生。彼不

T 0110b22

為念行,不起思惟,微妙想滅,麤想不生時,

T 0110b23

即入想知滅定。云何?梵志!汝從本已來,頗

T 0110b24

曾聞此次第滅想因緣不?」

梵志白佛言:「從

T 0110b25

本已來信自不聞如是次第滅想因緣。」又

T 0110b26

白佛言:「我今生念,謂此有想、此無想,或復

T 0110b27

有想此想已,彼作是念:『有念為惡,無念為

T 0110b28

善。』彼作是念時,微妙想不滅,麤想更生,彼

T 0110b29

復念言:『我今寧可不為念行,不起思惟。』彼

T 0110c01

不為念行,不起思惟已,微妙想滅,麤想不

T 0110c02

生。彼不為念行,不起思惟,微妙想滅,麤想

T 0110c03

不生時,即入想知滅定。」

佛告梵志言:「善哉!

T 0110c04

善哉!此是賢聖法中次第想滅想定。」

梵志復

T 0110c05

白佛言:「此諸想中,何者為無上想?」

佛告梵

T 0110c06

志:「不用處想為無上。」

梵志又白佛言:「諸想

T 0110c07

中,何者為第一無上想?」

佛言:「諸想、諸言無

T 0110c08

想,於其中間能次第得想知滅定者,是為

T 0110c09

第一無上想。」

梵志又問:「為一想,為多想?」

T 0110c10

言:「有一想,無多想。」

梵志又問:「先有想生然

T 0110c11

後智?先有智生然後想?為想、智一時俱生

T 0110c12

耶?」

佛言:「先有想生然後智,由想有智。」

梵志

T 0110c13

又問:「想即是我耶?」

佛告梵志:「汝說何等人是

T 0110c14

我?」

梵志白佛言:「我不說人是我,我自說色

T 0110c15

身四大、六入,父母生育,乳餔成長,衣服莊嚴,

T 0110c16

無常、磨滅法,我說此人是我。」

佛告梵志:「汝

T 0110c17

言色身四大、六入,父母生育,乳餔長成,衣服

T 0110c18

莊嚴,無常、磨滅法,說此人是我。梵志!且置

T 0110c19

此我,但人想生、人想滅。」

梵志言:「我不說人

T 0110c20

是我,我說欲界天是我。」

佛言:「且置欲界天

T 0110c21

是我,但人想生、人想滅。」

梵志言:「我不說人

T 0110c22

是我,我自說色界天是我。」

佛言:「且置色界

T 0110c23

天是我,但人想生、人想滅。」

梵志言:「我不說

T 0110c24

人是我,我自說空處、識處、不用處、有想無想

T 0110c25

處、無色天是我。」

佛言:「且置空處、識處、無所有

T 0110c26

處、有想無想處、無色天是我,但人想生、人想

T 0110c27

滅。」

梵志白佛言:「云何?瞿曇!我寧可得知人

T 0110c28

想生、人想滅不?」

佛告梵志:「汝欲知人想生、

T 0110c29

人想滅者,甚難!甚難!所以者何?汝異見、異習、

T 0111a01

異忍、異受,依異法故。」

梵志白佛言:「如是。瞿

T 0111a02

曇!我異見、異習、異忍、異受,依異法故,欲知

T 0111a03

人想生、人想滅者,甚難!甚難!所以者何?我、

T 0111a04

世間有常,此實餘虛;我、世間無常,此實餘虛;

T 0111a05

我、世間有常無常,此實餘虛;我、世間非有常

T 0111a06

非無常,此實餘虛。我、世間有邊,此實餘虛;我、

T 0111a07

世間無邊,此實餘虛;我、世間有邊無邊,此實

T 0111a08

餘虛;我、世間非有邊非無邊,此實餘虛。是命

T 0111a09

是身,此實餘虛;命異身異,此實餘虛;身命非

T 0111a10

異非不異,此實餘虛;無命無身,此實餘虛。如

T 0111a11

來終,此實餘虛;如來不終,此實餘虛;如來終

T 0111a12

不終,此實餘虛;如來非終非不終,此實餘虛。」

T 0111a13

佛告梵志:「世間有常,乃至如來非終非不終,

T 0111a14

我所不記。」

梵志白佛言:「瞿曇!何故不記,我、

T 0111a15

世間有常,乃至如來非終非不終,盡不記耶?」

T 0111a16

佛言:「此不與義合,不與法合,非梵行,非

T 0111a17

無欲,非無為,非寂滅,非止息,非正覺,非

T 0111a18

沙門,非泥洹,是故不記。」

梵志又問:「云何為

T 0111a19

義合、法合?云何為梵行初?云何無為?云何無

T 0111a20

欲?云何寂滅?云何止息?云何正覺?云何沙

T 0111a21

門?云何泥洹?云何名記?」

佛告梵志:「我記苦

T 0111a22

諦、苦集、苦滅、苦出要諦。所以者何?此是義合、

T 0111a23

法合,梵行初首、無欲、無為、寂滅、止息、正覺、沙

T 0111a24

門、泥洹,是故我記。」

爾時,世尊為梵志說法,示

T 0111a25

教利喜已,即從坐而去。

佛去未久,其後諸

T 0111a26

餘梵志語布吒婆樓梵志曰:「汝何故聽瞿曇

T 0111a27

沙門所說,語語印可?瞿曇言:『我及世間有

T 0111a28

常,乃至如來非終非不終,不與義合,故我

T 0111a29

不記。』汝何故印可是言?我等不可沙門瞿

T 0111b01

曇如是所說。」

布吒婆樓報諸梵志言:「沙門

T 0111b02

瞿曇所說:『我、世間有常,乃至如來非終非不

T 0111b03

終,不與義合,故我不記。』我亦不印可此言。

T 0111b04

但彼沙門瞿曇依法住,以法而言,以法出

T 0111b05

離,我當何由違此智言?沙門瞿曇如此微

T 0111b06

妙法言,不可違也。」

時,布吒婆樓梵志又於

T 0111b07

異時,共象首舍利弗詣世尊所,問訊已,

T 0111b08

一面坐。象首舍利弗禮佛而坐,梵志白佛

T 0111b09

言:「佛先在我所,時,去未久,其後諸餘梵志

T 0111b10

語我言:『汝何故聽沙門瞿曇所說,語語印

T 0111b11

可?瞿曇言:「我、世間常,乃至如來非終非不終,

T 0111b12

不合義,故不記。」汝何故印可是言?我等不

T 0111b13

可沙門瞿曇如是所說。』我報彼言:『沙門瞿

T 0111b14

曇所說:「我、世間有常,乃至如來非終非不終,

T 0111b15

不與義合,故我不記。」我亦不印可此言。但

T 0111b16

彼沙門瞿曇依法住法,以法而言,以法出

T 0111b17

離,我等何由違此智言?沙門瞿曇微妙法言,

T 0111b18

不可違也。』」

佛告梵志曰:「諸梵志言:『汝何故

T 0111b19

聽沙門瞿曇所說,語語印可?』此言有咎。所

T 0111b20

以者何?我所說法,有決定記、不決定記。云何

T 0111b21

名不決定記?我、世間有常,乃至如來非終

T 0111b22

非不終,我亦說此言而不決定記。所以然

T 0111b23

者?此不與義合,不與法合,非梵行初,非無

T 0111b24

欲,非無為,非寂滅,非止息,非正覺,非沙

T 0111b25

門,非泥洹。是故,梵志!我雖說此言而不決

T 0111b26

定記。云何名為決定記?我記苦諦、苦集、苦滅、

T 0111b27

苦出要諦。所以者何?此與法合、義合,是梵行

T 0111b28

初首,無定無記。梵志!或有沙門、婆羅門於

T 0111b29

一處世間,無欲,無為,寂滅,止息,正覺,沙門,泥

T 0111c01

洹,是故我說決定記。

「梵志!或有沙門、婆羅

T 0111c02

門於一處世間,一向說樂,我語彼言:『汝等

T 0111c03

審說,一處世間一向樂耶?』彼報我言:『如是。』

T 0111c04

我又

彼言:『汝知見一處世間一向樂耶?』

T 0111c05

彼答我言:『不知不見。』我復語彼言:『一處世

T 0111c06

間諸天一向樂,汝曾見不?』彼報我言:『不知

T 0111c07

不見。』又問彼言:『彼一處世間諸天,汝頗共坐

T 0111c08

起言語,精進修定不耶?』答我言:『不。』我又問彼

T 0111c09

言:『彼一處世間諸天一向樂者,頗曾來語汝

T 0111c10

言:「汝所行質直,當生彼一向樂天。我以所

T 0111c11

行質直,故得生彼共受樂。」耶?』彼答我言:『不

T 0111c12

也。』我又問彼言:『汝能於己身起心化作他

T 0111c13

四大身,身體具足,諸根無闕不?』彼答我言:

T 0111c14

『不能。』云何?梵志!彼沙門、婆羅門所言為是誠

T 0111c15

實,為應法不?」

梵志白佛言:「此非誠實,為

T 0111c16

非法言。」

佛告梵志:「如有人言:『我與彼端正

T 0111c17

女人交通。』稱讚婬女。餘人問言:『汝識彼女

T 0111c18

不?為在何處?東方、西方、南方、北方耶?』答曰:

T 0111c19

『不知。』又問:『汝知彼女所止土地、城邑、村落

T 0111c20

不?』答曰:『不知。』又問:『汝識彼女父母及其姓

T 0111c21

字不?』答曰:『不知。』又問:『汝知彼女為剎利

T 0111c22

女,為是婆羅門、居士、首陀羅女耶?』答曰:『不

T 0111c23

知。』又問:『汝知彼女為長短、麤細、黑白、好醜

T 0111c24

耶?』答曰:『不知。』云何?梵志!此人所說為誠實

T 0111c25

不?」

答曰:「不也。」

「梵志!彼沙門、婆羅門亦復如

T 0111c26

是,無有真實。梵志!猶如有人立梯空地,餘

T 0111c27

人問言:『立梯用為?』答曰:『我欲上堂。』又問:『堂

T 0111c28

何所在?』答曰:『不知。』云何?梵志!彼立梯者豈

T 0111c29

非虛妄耶?」

答曰:「如是,彼實虛妄。」

佛言:「諸

T 0112a01

沙門、婆羅門亦復如是,虛妄無實。」

佛告布吒

T 0112a02

婆樓:「汝言我身色四大、六入,父母生育,乳餔

T 0112a03

成長,衣服莊嚴,無常、磨滅,以此為我者。我

T 0112a04

說此為染汙,為清淨,為得解?汝意或謂染

T 0112a05

汙法不可滅,清淨法不可生,常在苦中。

T 0112a06

勿作是念。何以故?染汙法可滅盡,清淨法

T 0112a07

可出生,處安樂地,歡喜愛樂,專念一心,智

T 0112a08

慧增廣。梵志!我於欲界天、空處、識處、不用

T 0112a09

處、有想無想處天,說為染汙,亦說清淨,亦

T 0112a10

說得解。汝意或謂染汙法不可滅,清淨法

T 0112a11

不可生,常在苦中。勿作是念。所以者何?

T 0112a12

染汙可滅,淨法可生,處安樂地,歡喜愛樂,

T 0112a13

專念一心,智慧增廣。」

爾時,象首舍利弗白言:

T 0112a14

「世尊!當有欲界人身四大諸根時,復有欲

T 0112a15

界天身、色界天身,空處、識處、不用處、有想無想

T 0112a16

處天身,一時有不?世尊!當有欲界天身時,

T 0112a17

復有欲界人身四大諸根,及色界天身,空處、

T 0112a18

識處、無所有處、有想無想處天身,一時有不?

T 0112a19

世尊!當有色界天身時,復有欲界人身四

T 0112a20

大諸根,及色界天身,空處、識處、無所有處、有

T 0112a21

想無想處天身,一時有不?如是至有想無想

T 0112a22

處天身時,有欲界人身四大諸根,及欲界天

T 0112a23

身,色界天身,空處、識處、無所有處天身,一時

T 0112a24

有不?」

佛告象首舍利弗:「若有欲界人身四大

T 0112a25

諸根,爾時正有欲界人身四大諸根,非欲界

T 0112a26

天身,色界天身,空處、識處、無所有處、有想無想

T 0112a27

處天身。如是乃至有有想無想處天身時,

T 0112a28

爾時正有想無想處天身,無有欲界人身

T 0112a29

四大諸根,及欲界天身,色界天身,空處、識處、

T 0112b01

無所有處天身。象首!譬如牛乳,乳變為酪,

T 0112b02

酪為生酥,生酥為熟酥,熟酥為醍醐,

T 0112b03

醍醐為第一。象首!當有乳時,唯名為乳,不

T 0112b04

名為酪、酥、醍醐,如是展轉,至醍醐時,唯名

T 0112b05

醍醐,不名為乳,不名酪、酥。象首!此亦如

T 0112b06

是,若有欲界人身四大諸根時,無有欲界

T 0112b07

天身,色界天身,乃至有想無想處天身;如是

T 0112b08

展轉,有有想無想處天身時,唯有有想無想

T 0112b09

處天身,無有欲界人身四大諸根,及欲界天

T 0112b10

身,色界天身,乃至無所有天身。

「象首!於汝意

T 0112b11

云何?若有人問汝言:『若有過去身時,有未

T 0112b12

來、現在身,一時有不?有未來身時,有過去、

T 0112b13

現在身,一時有不?有現在身時,有過去、未

T 0112b14

來身,一時有不?』設有此問者,汝云何報?」

T 0112b15

首言:「設有如是問者,我當報言:『有過去

T 0112b16

身時,唯是過去身,無未來、現在。有未來身

T 0112b17

時,唯是未來身,無過去、現在。有現在身時,

T 0112b18

唯是現在身,無過去、未來身。』」

「象首!此亦如

T 0112b19

是,有欲界人身四大諸根時,無欲界天身,

T 0112b20

色界天身,乃至有想無想處天身;如是展轉,

T 0112b21

至有想無想處天身時,無有欲界人身四

T 0112b22

大諸根,及欲界天身,色界天身,至不用處天

T 0112b23

身。

「復次,象首!若有人問汝言:『汝曾有過去

T 0112b24

已滅不?未來當生不?現在今有不?』設有是

T 0112b25

問者,汝當云何答?」

象首白佛言:「若有是問

T 0112b26

者,當答彼言:『我曾有過去已滅,非不有

T 0112b27

也。有未來當生,非不有也。現在今有,非

T 0112b28

不有也。』」

佛言:「象首!此亦如是,有欲界人身

T 0112b29

四大諸根時,無欲界天身,乃至有想無想天

T 0112c01

身;如是展轉,至有想無想天身時,無有欲

T 0112c02

界人身四大諸根,及欲界天身,乃至無所有處

T 0112c03

天身。」

爾時,象首白佛言:「世尊!我今歸依佛,

T 0112c04

歸依法,歸依僧,聽我於正法中為優婆

T 0112c05

塞,自今已後,盡形壽不殺、不盜、不婬、不欺、不

T 0112c06

飲酒。」

時,布吒婆樓梵志白佛言:「我得於佛

T 0112c07

法中出家受戒不?」

佛告梵志:「若有異學欲

T 0112c08

於我法中出家為道者,先四月觀察,稱眾

T 0112c09

人意,然後乃得出家受戒。雖有是法,亦觀

T 0112c10

耳。」

梵志白佛言:「諸有異學欲於佛法中

T 0112c11

出家受戒者,先當四月觀察,稱眾人意,然

T 0112c12

後乃得出家受戒。如我今者,乃能於佛法

T 0112c13

中四歲觀察,稱眾人意,然後乃望出家受

T 0112c14

戒。」

佛告梵志:「我先語汝,雖有是法,當觀

T 0112c15

其人。」

時,彼梵志即於正法中得出家受戒。

T 0112c16

如是不久以信堅固,淨修梵行,於現法中

T 0112c17

自身作證,生死已盡,所作已辦,不受後有,

T 0112c18

即成阿羅漢。

爾時,布吒婆樓聞佛所說,歡喜

T 0112c19

奉行。

T 0112c20

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc