Nội dung bài kinh
PhẨm 1: CHÂU DIÊM PHÙ ĐỀ
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong hang Câu-lị, rừng Kỳ thọ, vườn Cấp cô độc, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, số đông Tỳ-kheo, sau bữa ăn, tập trung trên giảng đường cùng bàn luận rằng:
“Chư Hiền! Thật chưa từng có, nay đây trời đất này do đâu mà tan hoại? Do đâu mà hình thành? Quốc độ mà chúng sanh ở là như thế nào?”
Khi ấy, Thế Tôn ở chỗ thanh vắng, bằng thiên nhĩ nghe suốt, nghe các Tỳ-kheo, sau bữa ăn, tập trung tại giảng đường, bàn luận như thế. Rồi thì, Thế Tôn rời tĩnh thất, đi đến giảng đường, và ngồi xuống. Tuy đã biết nhưng Thế Tôn vẫn hỏi các Tỳ-kheo:
“Vừa rồi các ngươi đang bàn luận về vấn đề gì?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Sau bữa ăn, chúng con tập trung tại pháp giảng đường bàn luận rằng: ‘Chư Hiền! Thật chưa từng có, nay đây trời đất này do đâu mà tan hoại? Do đâu mà hình thành? Quốc độ mà chúng sanh ở là như thế nào?’ Chúng con tập trung tại giảng đường bàn luận vấn đề như thế.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Lành thay! Lành thay! Phàm người xuất gia nên hành hai pháp: một là sự im lặng của Hiền Thánh, hai là giảng luận pháp ngữ. Các ngươi tập trung tại giảng đường cũng nên hành sự im lặng của Hiền Thánh hoặc giảng luận Chánh pháp. Này các Tỳ-kheo! Các ngươi muốn nghe Như Lai nói về việc trời đất thành, hoại và quốc độ mà chúng sanh ở chăng?”
Khi ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn! Nay thật là phải thời. Chúng con mong ước được nghe. Thế Tôn nói xong, chúng con sẽ phụng trì!”
Phật nói:
“Này các Tỳ-kheo! Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Hãy suy nghĩ chín chắn. Ta sẽ nói cho các ngươi nghe.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Như trong chỗ mà một mặt trời, mặt trăng vận hành khắp quanh bốn thiên hạ, tỏa ánh sáng chiếu; có một ngàn thế giới như vậy. Trong ngàn thế giới có một ngàn mặt trời, mặt trăng; có một ngàn núi chúa Tu-di; có bốn ngàn thiên hạ, bốn ngàn đại thiên hạ, bốn ngàn biển, bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn rồng, bốn ngàn rồng lớn, bốn ngàn chim cánh vàng, bốn ngàn chim cánh vàng lớn, bốn ngàn đường dữ, bốn ngàn đường ác lớn, bốn ngàn vị vua, bốn ngàn vị vua lớn, bảy ngàn cây lớn, tám ngàn địa ngục lớn, mười ngàn núi lớn, ngàn Diêm-la vương, ngàn Tứ thiên vương, ngàn trời Đao-lị, ngàn trời Diệm-ma, ngàn trời Đâu-suất, ngàn trời Hóa Tự Tại, ngàn trời Tha Hóa Tự Tại, ngàn trời Phạm. Đó là Tiểu thiên thế giới. Như một Tiểu thiên thế giới, ngàn tiểu thiên thế giới như thế là một Trung thiên thế giới.
“Như một Trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới như vậy là một Tam thiên Đại thiên thế giới. Phạm vi thế giới thành hoại như thế là nơi chúng sanh cư trú, gọi là một cõi Phật.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Cõi đất nầy dày mười sáu vạn tám ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Đất nương trên nước. Nước sâu ba ngàn ba mươi do-tuần, biên giới vô hạn. Nước ở trên gió; gió dày sáu ngàn bốn mươi do-tuần, biên giới vô hạn.
“Này các Tỳ-kheo! Nước của biển lớn ấy sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Núi chúa Tu-di, phần chìm xuống biển là tám vạn bốn ngàn do-tuần; phần trên mặt nước cao tám vạn bốn ngàn do-tuần; chân núi sát đất, phần lớn là phần đất cứng chắc. Núi ấy thẳng đứng, không có lồi lõm, sanh các loại cây; cây tỏa ra các mùi hương, thơm khắp núi rừng, là nơi mà phần nhiều các Hiền Thánh, các trời Đại thần diệu. Móng chân núi toàn là cát vàng ròng. Bốn phía núi có bốn mô đất rắn doi ra, cao bảy trăm do-tuần, nhiều màu đan xen, được tạo thành bởi bảy báu. Bốn mô đất thoai thoải, uốn cong sát mặt biển.
“Núi chúa Tu-di có đường cấp bằng bảy báu; đường cấp ở dưới núi rộng sáu mươi do-tuần; sát hai bên đường có bảy lớp tường báu, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây. Tường vàng thì cửa bạc, tường bạc thì cửa vàng. T ường thủy tinh thì cửa lưu ly, tường lưu ly thì cửa thủy tinh. T ường xích châu thì cửa mã não; tường mã não thì cửa xích châu. T ường xa cừ thì cửa các báu. Còn lan can thì, cây ngang vàng thì cây dọc bạc, cây ngang bạc thì cây dọc vàng. Cây ngang thủy tinh thì cây dọc lưu ly, cây ngang lưu ly thì cây dọc thủy tinh. Cây ngang xích châu thì cây dọc mã não, cây ngang mã não thì cây dọc xích châu. Cây ngang xa cừ thì cây dọc các báu. Trên lan can ấy, có lưới báu. Ở dưới lưới vàng ấy có treo linh bạc. Dưới lưới bạc, treo linh vàng. Dưới lưới lưu ly treo linh thủy tinh. Dưới lưới thủy tinh treo linh lưu ly. Dưới lưới xích châu treo linh mã não. Dưới lưới mã não treo linh xích châu. Dưới lưới xa cừ treo linh các báu. Còn cây vàng thì rễ vàng, nhánh vàng, lá, hoa, quả bạc. Còn cây bạc thì rễ bạc, cành bạc, lá hoa quả vàng. Còn cây thủy tinh thì rễ, nhánh thủy tinh; hoa, lá, lưu ly. Còn cây lưu ly thì rễ, nhánh lưu ly; hoa, lá thủy tinh. Còn cây xích châu thì rễ, nhánh xích châu; hoa, lá mã não. Còn cây mã não thì rễ nhánh mã não; hoa, lá xích châu. Còn cây xa cừ thì rễ, nhánh xa cừ; hoa lá các báu.
“Về bảy lớp tường ấy, tường có bốn cửa; cửa có lan can. Trên bảy lớp tường đều có lầu, gác, đài, quán; bao bọc chung quanh là vườn cảnh, ao tắm, mọc các loài hoa lá báu. Cây báu sắp thành hàng. Hoa quả tốt tươi. Gió hương tỏa bốn phía làm vui lòng người. Chim le le, nhạn, uyên ương, các loại chim kỳ lạ, có hàng ngàn giống loại không kể xiết, cùng hòa âm kêu hót. Lại nữa, đường cấp ở giữa núi chúa Tu-di rộng bốn mươi do-tuần, sát hai bên đường có bảy lớp tường báu, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng như đường cấp ở dưới núi. Còn đường cấp ở trên rộng hai mươi do-tuần, sát hai bên đường có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu... cho đến vô số các loài chim, cùng nhau ca hót, cũng như đường cấp ở giữa.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Đường cấp ở dưới có quỉ thần tên là Già-lâu-la Túc ở. Đường cấp ở giữa có quỉ thần tên là Trì Man ở. Đường cấp ở trên có quỉ thần tên là Hỷ lạc ở. Bốn doi đất cao bốn vạn hai ngàn do-tuần. Ở đó có cung điện, chỗ ở của Tứ thiên vương; có bảy hàng thành, bảy hàng lan can, bảy hàng lưới, bảy hàng cây báu, các linh báu... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng lại như thế.
“Trên đảnh núi Tu-di có cung trời Tam Thập Tam, có bảy vòng thành, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng lại như thế.
“Vượt lên trời Tam Thập Tam một do-tuần, lại có cung trời Diệm-ma; qua khỏi cung trời Diệm-ma một do-tuần, lại có cung trời Đâu-suất; qua khỏi cung trời Đâu-suất một do-tuần, lại có cung trời Hóa Tự Tại; qua khỏi cung trời Hóa Tự Tại một do-tuần, lại có cung trời Tha Hóa Tự Tại; qua khỏi trời Tha Hóa Tự Tại một do-tuần, lại có cung trời Phạm-gia-di.
“Khoảng giữa trời Tha Hóa Tự Tại và trời Phạm-gia-di có cung điện Ma thiên, cao rộng sáu ngàn do-tuần, có bảy lớp tường cung, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót cũng lại như thế. Qua khỏi cung trời Phạm-gia-di một do-tuần, lại có cung trời Quang Âm; qua khỏi cung trời Quang Âm một do-tuần lại có cung trời Biến Tịnh; qua khỏi cung trời Biến Tịnh một do-tuần, lại có cung trời Quả Thật; qua khỏi cung trời Quả Thật một do-tuần, lại có cung trời Vô Tưởng; qua khỏi cung trời Vô Tưởng một do-tuần, lại có cung trời Vô Tạo; qua khỏi cung trời Vô Tạo một do-tuần, lại có cung trời Vô Nhiệt; qua khỏi cung trời Vô Nhiệt một do-tuần, lại có cung trời Thiện Hiện; qua khỏi cung trời Thiện Hiện một do-tuần, lại có cung trời Đại Thiện hiện; qua khỏi cung trời Đại Thiện Hiện một do-tuần, lại có cung trời Sắc Cứu Cánh, qua khỏi trời Sắc Cứu Cánh, trên có trời Không Vô Biên Xứ , trời Thức Vô Biên Xứ , trời Vô Sở Hữu Xứ , trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ , ngang đây gọi là giới hạn của chúng sanh, thế giới chúng sanh, tất cả chúng sanh sanh, lão, bệnh, tử, thọ ấm, thọ hữu ngang đây, không vượt qua.
Phật bảo các Tỳ-kheo: Phía Bắc núi Tu-di có một thiên hạ tên là Uất-đan-viết. Lãnh thổ vuông vức, ngang rộng một vạn do-tuần; mặt người cũng vuông, giống như hình đất.
“Phía Đông núi Tu-di có một thiên hạ tên là Phất-vu-đãi; lãnh thổ tròn trịa, ngang rộng chín ngàn do-tuần. Mặt người cũng tròn, giống như hình đất.
“Phía Tây núi Tu-di có thiên hạ tên là Câu-da-ni, địa hình như nửa mặt trăng, ngang rộng tám ngàn do-tuần; mặt người cũng vậy, giống như hình đất.
“Phía Nam núi Tu-di có thiên hạ tên là Diêm-phù-đề, đất đai thì phía Nam hẹp, phía Bắc rộng, ngang rộng bảy ngàn do-tuần, mặt người cũng vậy, giống như hình đất.
“Mặt Bắc núi Tu-di có ánh sáng được tạo thành do bởi vàng chiếu sáng phương Bắc. Mặt Đông núi Tu-di có ánh sáng tạo thành bởi bạc chiếu sáng phương Đông. Mặt Tây núi Tu-di có ánh sáng tạo thành bởi thủy tinh chiếu sáng phương Tây. Mặt Nam núi Tu-di có ánh sáng tạo thành bởi lưu ly chiếu sáng phương Nam.
“Ở Uất-đan-viết có một đại thọ chúa tên gọi là Am-bà-la, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. Cõi Phất-vu-đãi có một đại thọ, tên là Gia-lam-phù, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. Cõi Câu-da-ni có một đại thọ, tên là Cân-đề, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần; dưới cây ấy, có tảng Thạch Ngưu Tràng, cao một do-tuần. Cõi Diêm-phù-đề có một đại thọ tên là Diêm-phù, vòng thân bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. Điểu vương cánh vàng và Long vương có cây tên là Câu-lợi-thiểm-bà-la, vòng thân bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. A-tu-la-vương có cây tên là Thiện-trú, vòng thân bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. Trời Đao-lị có cây tên là Trú-độ, vòng thân bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần.
“Bên núi Tu-di có núi tên là Già-đà-la, cao bốn vạn hai ngàn do-tuần, ngang dọc bốn vạn hai ngàn do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, do bảy báu tạo thành; núi nầy cách núi Tu-di tám vạn bốn ngàn do-tuần, khoảng giữa mọc toàn hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lị, lau, tùng, trúc mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Khư-đà-la không xa, có núi tên là Y-sa-đà-la, cao hai vạn một nghìn do-tuần, ngang dọc hai vạn một nghìn do-tuần, hai bên rất rộng nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Khư-đà-la bốn vạn hai nghìn do-tuần, khoảng giữa mọc toàn hoa ưu-bát-la, hoa bát-dầu-ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lị; lau, tùng, trúc mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Y-sa-đà-la không xa, có núi tên là Thọ-cự-đà-la, cao một vạn hai ngàn do-tuần, ngang dọc một vạn hai ngàn do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Y-sa-đà-la hai vạn một ngàn do-tuần, khoảng giữa mọc thuần bốn loài hoa tạp; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Thọ Cự-đà-la không xa, có núi tên là Thiện kiến, cao sáu ngàn do-tuần, ngang dọc sáu ngàn do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành, cách núi Thọ Cự-đà-la một vạn hai ngàn do-tuần, khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi hương xông khắp.
“Cách núi Thiện Kiến không xa, có núi tên là Mã Thực, cao ba ngàn do-tuần, ngang dọc ba ngàn do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Thiện Kiến sáu ngàn do-tuần, ở khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Mã thực không xa, có núi tên là Ni-dân-đà-la, cao một ngàn hai trăm do-tuần, ngang dọc một ngàn hai trăm do-tuần, cao một ngàn hai trăm do-tuần, ngang dọc một ngàn hai trăm do-tuần, bảy báu tạo thành; cách núi Mã Thực ba ngàn do-tuần, ở khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Ni-dân-đà-la không xa, có núi tên là Điều Phục, cao sáu trăm do-tuần, ngang dọc sáu trăm do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Ni-dân-đà-la một ngàn hai trăm do-tuần, khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Điều Phục không xa, có núi tên là Kim Cang Vi, cao ba trăm do-tuần, ngang dọc ba trăm do-tuần; hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Điều Phục sáu trăm do-tuần, khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương mùi thơm lan khắp.
“Cách núi Đại Kim Cang không xa, có biển lớn, bờ phía Bắc của biển lớn có cây đại thọ vương tên là Diêm-phù, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần, khoảng đất trống hai bên lại có khu rừng tên là Am-bà-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Diêm-bà, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Sa-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Đa-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Na-đa-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Nam, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Nữ, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Tán-na, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Chiên-đàn, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Khư-châu-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Ba-nại-bà-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Tỳ-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Hương Nại, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Lê, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là An-thạch-lưu, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Cam, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Ha-lê-lặc, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Tỳ-hê-lặc, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là A-ma-lặc, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là A-ma-lê, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Nại, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Cam Giá, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Vi, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Trúc, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Xá-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Xá-la-nghiệp, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Mộc Qua, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên Đại Mộc Qua, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Giải thoát hoa, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Chiêm-bà, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Bà-la-la, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Tu-ma-na, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Bà-sư, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên Đa-la-lê, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Già-da, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Bồ đào, ngang dọc năm mươi do-tuần.
“Qua khỏi đó thì đất trống. Trong khoảng đất trống ấy lại có ao hoa, ngang dọc năm mươi do-tuần. Lại có ao hoa bát-đầu-ma, ao hoa câu-vật-đầu, ao hoa phân-đà-lị; rắn độc đầy trong đó. Mỗi ao ngang dọc năm mươi do-tuần.
“Qua khỏi đó, đất trống. Trong khoảng đất trống ấy có biển lớn tên là Uất-thiền-na. Dưới biển nầy có con đường của Chuyển Luân Thánh vương, rộng mười hai do-tuần; sát hai bên đường có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây. Các trang hoàng chung quanh đều do bảy báu tạo thành. Khi Chuyển Luân Thánh vương ra đời trên cõi Diêm-phù đề thì nước tự nhiên rút đi, đường ấy hiện ra.
“Cách biển không xa, có núi tên là Kim Bích. Trong núi có tám vạn cái hang. Tám vạn tượng vương sống ở trong hang ấy. Thân chúng thuần trắng; đầu có nhiều màu; miệng có sáu ngà, giữa các răng có trám vàng.
“Qua khỏi núi Kim Bích rồi, có núi tên là Tuyết sơn, ngang dọc năm trăm do-tuần, sâu năm trăm do-tuần, phía Đông và Tây nhập vào biển. Ở giữa núi Tuyết có núi báu, cao hai mươi do-tuần.
“Doi đất núi Tuyết trồi lên một trăm do-tuần, trên đảnh núi ấy có ao A-nậu-đạt, ngang dọc năm mươi do-tuần; nước ao trong mát, lóng sạch không cáu bẩn; có bảy bậc bờ thềm, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, nhiều loại màu sắc khác lạ, do bảy báu tạo thành. Lan can thì, trụ vàng, tay nắm bạc; trụ bạc, tay nắm vàng; trụ lưu ly, tay nắm thủy tinh; trụ thủy tinh, tay nắm lưu ly; trụ xích châu, tay nắm mã não; trụ mã não, tay nắm xích châu; trụ xa cừ, tay nắm bằng các báu. Lưới vàng, linh bạc; lưới bạc, linh vàng; lưới lưu ly, linh thủy tinh; lưới thủy tinh, linh lưu ly; lưới xa cừ, linh bằng bảy báu. Cây đa-la vàng, gốc vàng, nhánh vàng, lá bạc, quả bạc; cây đa la bạc, gốc bạc, nhánh bạc, lá vàng quả vàng; cây thủy tinh, gốc nhánh thủy tinh, hoa, quả lưu ly; cây xích châu, gốc nhánh xích châu, lá mã não, hoa quả mã não; cây xa cừ, gốc nhánh xa cừ, hoa quả bằng các báu. Bên cạnh ao A-nậu-đạt có vườn cảnh, ao tắm, các hoa tích tụ, các loại cây lá hoa quả đều tốt tươi; các loại hương thơm, lan tỏa bốn phương, các loài chim lạ cùng cất tiếng hót họa nhau buồn bã. Dưới đáy ao A-nậu-đạt cát vàng đầy ắp, bốn phía ao đều có thềm bậc; bậc vàng, thềm bạc, bậc bạc, thềm vàng; bậc lưu ly, thềm thủy tinh, bậc thủy tinh, thềm lưu ly; bậc xích châu, thềm mã não, bậc mã não, thềm xích châu; bậc xa cừ, thềm bằng các báu, bao bọc chung quanh đều có lan can, có bốn loài hoa: xanh vàng đỏ trắng, nhiều màu đan xen; hoa như bánh xe, rễ như ổ trục xe; rễ hoa ra nhựa màu trắng như sữa, vị ngọt như mật. Phía Đông ao A-nậu-đạt có sông Hằng-già, từ miệng trâu chảy ra, dẫn theo năm trăm con sông, chảy vào biển Đông. Phía Nam ao A-nậu-đạt, có sông Tân-đầu, từ miệng sư tử chảy ra, dẫn theo năm trăm dòng sông chảy vào biển Nam. Phía Tây ao A-nậu-đạt có sông Bà-xoa, từ miệng ngựa chảy ra, dẫn theo năm trăm dòng sông nhập vào biển Tây. Phía Bắc ao A-nậu đạt có sông Tư-đà, từ miệng voi chảy ra, dẫn theo năm trăm dòng sông chảy vào biển Bắc. Trong cung A-nậu-đạt có nhà Năm cột, Long vương A-nậu-đạt thường ở trong đó.”
Phật nói:
“Vì sao gọi là A-nậu-đạt? A-nậu-đạt nghĩa là gì? Các Long vương ở Diêm-phù-đề nầy có đủ ba hoạn nạn, chỉ có A-nậu-đạt không có ba hoạn nạn. Những gì là ba? Một là, toàn thể Long vương ở Diêm-phù-đề đều bị gió nóng, cát nóng chạm vào thân, thiêu đốt da thịt và thiêu đốt xương tủy làm cho khổ não; chỉ có long vương A-nậu-đạt không có hoạn nầy. Hai là, toàn thể Long cung ở Diêm-phù-đề bị gió dữ thổi mạnh, thổi vào trong cung, làm mất y báu phục sức, thân rồng lộ ra, làm cho khổ não; chỉ có Long vương A-nậu-đạt không có hoạn nạn như thế. Ba là toàn thể Long vương ở Diêm-phù-đề, khi ở trong cung vui chơi đều bị chim lớn Cánh vàng bay vào cung dắt đi, hoặc mới nghĩ cách muốn bắt rồng để ăn thịt; các rồng sợ hãi, thường ôm lòng lo sầu; chỉ có Long vương A-nậu-đạt không bị hoạn nầy; nếu chim Cánh vàng khởi niệm muốn ở thì liền mạng chung, cho nên gọi là A-nậu-đạt.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Bên phải núi Tuyết có thành tên là Tỳ-xá-li, phía Bắc của thành ấy có bảy núi Đen. phía bắc của bảy núi Đen có núi Hương, núi ấy thường có tiếng âm nhạc, ca xướng, kỹ nhạc. Núi có hai hang, một hang tên là Trú, hang thứ hai tên là Thiện Trụ, do bảy báu trời tạo thành, mềm mại thơm sạch, giống như áo trời. Diệu Âm Càn-thát-bà vương cùng năm trăm Càn-thát-bà ở trong hang Trú đó. Phía Bắc hang Thiện Trú có Thọ vương lớn ta-la, tên là Thiện Trụ, có bốn ngàn thọ vương vây quanh bốn phía. Dưới Thiện Trụ Thọ vương có Tượng vương, cũng tên là Thiện Trụ, ở dưới cây nầy, thân thể toàn trắng, bảy chỗ đầy đặn, có thể bay đi; đầu nó màu đỏ, lông có nhiều màu; sáu ngà đều thon, giữa được trám vàng, có tám ngàn voi vây quanh tùy tùng. Dưới tám ngàn Thọ vương ấy, có tám ngàn voi, cũng lại như thế.
“Phía Bắc thọ vương Thiện Trụ có ao tắm lớn, tên là Ma-đà-diên; ngang dọc năm mươi do-tuần; có tám ngàn ao tắm bao bọc chung quanh, nước ao trong mát, không có cáu bẩn, được bao quanh các bờ lũy đắp bằng bảy báu. Ao có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây đều do bảy báu tạo thành: tay nắm vàng thì trụ bạc, tay nắm bạc thì trụ vàng; tay nắm thủy tinh thì trụ lưu ly, tay nắm lưu ly thì trụ thủy tinh; tay nắm xích châu thì trụ mã não, tay nắm mã não thì trụ xích châu; tay nắm xa cừ thì trụ bằng các báu; dưới lưới vàng treo linh bạc, dưới lưới bạc treo linh vàng; lưới thủy tinh treo linh lưu ly, lưới lưu ly treo linh thủy tinh; lưới xích châu treo linh mã não, lưới mã não treo linh xích châu; lưới xa cừ treo linh các báu. Cây vàng thì rễ vàng, nhánh vàng, lá hoa quả bạc; cây bạc thì rễ bạc, nhánh bạc, lá hoa quả vàng; cây thủy tinh thì rễ, nhánh thủy tinh, hoa quả lưu ly; cây lưu ly thì rễ, nhánh lưu ly, hoa quả thủy tinh; cây xích châu thì rễ, nhánh xích châu, hoa quả mã não; cây mã não thì rễ, nhánh mã não, hoa quả xích châu cây xa cừ thì rễ nhánh xa cừ, hoa, quả các báu.
“Lại nữa, dưới đáy ao ấy, cát vàng rải khắp, bọc chung quanh ao có đường thềm cấp bằng bảy báu; thềm vàng cấp bạc, thềm bạc cấp vàng; thềm thủy tinh cấp lưu ly, thềm lưu ly cấp thủy tinh; thềm xích châu, cấp mã não, thềm mã não, cấp xích châu; thềm xa cừ, cấp các báu. Sát hai bên thềm có lan can báu. Lại trong ao ấy, sanh bốn loài hoa: xanh, vàng, đỏ, trắng, nhiều màu đan xen; hoa như bánh xe, rễ như ổ trục xe. Rễ hoa ra nhựa, màu trắng như sữa, vị ngọt như mật. Vòng quanh bốn phía ao có vườn cảnh, rừng, ao tắm, mọc đủ các loại hoa; cây cối xanh tươi, hoa quả dồi dào, vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng giống như trước. Tượng vương Thiện Trụ khi nghĩ muốn dạo chơi vào ao tắm thì liền nghĩ đến tám ngàn voi khác. Khi ấy tám ngàn voi lại tự nghĩ: “Tượng vương Thiện Trụ đang nghĩ đến chúng ta, chúng ta nên đến chỗ Tượng vương”. Khi ấy, bầy voi liền đi đến đứng trước Tượng vương.
“Bấy giờ, Tượng vương Thiện Trụ theo tám ngàn voi đến ao Ma-đà-diên. Trong bầy voi ấy, có con cầm lọng che tượng vương, có con cầm quạt báu quạt tượng vương; trong đó có con tấu xướng kỹ nhạc đi trước mở đường. Khi ấy, Tượng vương Thiện Trụ vào ao tắm rửa, tấu xướng kỹ nhạc, cùng nhau vui chơi; có con rửa vòi cho Tượng vương, có con rửa miệng, gội đầu; rửa ngà, rửa tai, rửa bụng, kỳ lưng, rửa đuôi, rửa chân; trong đó có con nhổ gốc hoa rửa sạch dâng voi ăn, có con lấy bốn loại hoa rải trên voi.
“Bấy giờ, Tượng vương Thiện Trụ tắm rửa, ăn uống, cùng nhau vui chơi xong, liền lên bờ, đi đến đứng ở cây Thiện Trụ. Tám ngàn con voi, sau đó, mới vào ao tắm rửa, ăn uống, cùng nhau vui chơi, xong rồi trở ra, đến chỗ tượng vương.
“Khi ấy, Tượng vương theo tám ngàn voi tùy tùng sau trước, đến chỗ Thọ vương Thiện Trụ; trong đó có con cầm lọng che Tượng vương; có con cầm quạt quạt Tượng vương; trong đó có con tấu xướng kỹ nhạc đi trước mở đường. Khi Tượng vương Thiện Trụ đến chỗ thọ vương rồi, ngồi nằm đi đứng tùy ý, tám ngàn voi khác ở dưới các cây, tự do ngồi nằm đi đứng tùy ý. Trong rừng cây ấy, có cây chu vi tám tầm, có cây chu vi chín tầm, cho đến mười tầm, mười lăm tầm, chỉ có Thọ vương Ta-la của Tượng vương Thiện Trụ chu vi mười sáu tầm. Khi cành lá của tám ngàn cây ta-la rơi rụng thì có luồng gió mát thổi bay xa ra ngoài khu rừng. Lại khi tám ngàn voi đại tiểu tiện thì các quỉ dạ xoa hốt bỏ ngoài rừng.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Tượng vương Thiện Trụ có đại thần lực, công đức như thế; tuy là loài súc sanh mà hưởng phước như vậy.”
PhẨm 2: UẤT-ĐAN-VIẾT
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Cõi Uất-đan-viết có nhiều núi. Bên cạnh các núi ấy, có các vườn cảnh, ao tắm, mọc nhiều loài hoa, cây cối mát mẻ, hoa quả dồi dào, vô số các loài chim cùng nhau hót. Lại trong các núi ấy có nhiều dòng nước; nước ấy xuôi dòng ra biển, không chảy xiết; các loại hoa phủ trên mặt nước, chảy bình lặng êm ả. Sát hai bên bờ, có nhiều cây cối, cành nhánh mềm mại, hoa quả sum sê. Đất mọc cỏ mềm xoay về bên phải, màu như đuôi công, mùi thơm như bà-sư, mềm như áo trời. Đất ở đó mềm; dùng chân đạp đất, đất lún bốn tấc, giở chân lên, trở lại như cũ, mặt đất bằng như bàn tay, không có cao thấp.
“Này Tỳ-kheo! Cõi Uất-đan-viết kia bốn phía có bốn ao A-nậu-đạt; mỗi ao ngang dọc một trăm do-tuần. Nước ao lắng trong, không có cáu bẩn. Có hào cùng bậc thềm bằng bảy báu chung quanh... cho đến, vô số các loài chim cùng nhau cất tiếng hót buồn bã, giống như sự trang trí của ao Ma-đà-diên không khác. Bốn ao lớn ấy, rộng mười do-tuần, nước sông xuôi dòng ra biển êm đềm, không có chảy xiết; các loại hoa phủ trên mặt nước, chảy từ từ êm ả. Sát hai bên bờ sông có nhiều cây cối, cành nhánh mềm mại, hoa quả dồi dào. Đất mọc cỏ mềm, xoay về phía phải, màu như đuôi công, hương như bà-sư, mềm mại như áo trời. Đất đó mềm mại, dùng chân đạp đất, đất lún bốn tấc, giở chân lên, trở lại như cũ. Đất bằng như bàn tay, không có cao thấp. Lại đất đai kia không có ngòi rảnh, khe suối, hầm hố, gai góc, gốc cây, cũng không có muỗi mòng, rắn, rết, ong, bò cạp, cọp, beo, thú dữ. Đất thuần châu báu, không có đất cát; âm dương điều độ, bốn mùa thuận hòa, chẳng lạnh chẳng nóng, không có các sự bực bội khó chịu. Đất đai thấm ướt, bụi dơ không dậy, như dầu bôi trên đất, không có bụi bay. Trăm thứ cây cỏ thường mọc, không có mùa Đông rét mướt, mùa Hạ nóng bức. Cây cối tốt tươi; hoa trái xum xuê. Đất mọc cỏ mềm, xoay về phía phải, màu như lông công, hương như bà-sư, mềm như áo trời. Đất ở đó mềm mại; dùng chân đạp đất, đất lún bốn tấc, giở chân lên lại, trở lại như cũ. Đất bằng như bàn tay, không có chỗ cao, chỗ thấp.
“Cõi ấy thường có lúa thơm tự nhiên, chẳng gieo trồng mà tự mọc, không có vỏ trấu, như đóa hoa trắng, giống như thức ăn trời Đao-lị, đầy đủ các vị. Cõi ấy luôn có nồi, vạc tự nhiên; có ngọc ma-ni tên là Diệm Quang được đặt dưới nồi nấu. Khi cơm chín thì ánh sáng tắt, chẳng cần lửa củi, không nhọc sức người. Cõi ấy có cây tên là Khúc Cung, lá cây dày đặc chồng lên nhau theo thứ lớp, trời mưa không dột. Đàn ông, đàn bà cư ngụ dưới cây đó. Lại có cây Hương cao bảy mươi dặm, hoa quả đầy cành. Khi quả ấy chín, vỏ nó tự nứt, tự nhiên xuất ra các loại hương. Hoặc có cây cao sáu mươi dặm, hoặc năm mươi dặm, bốn mươi dặm; cây nhỏ nhất cao năm dặm, hoa quả đầy cành. Khi quả ấy chín, vỏ nó tự nứt, tự nhiên hương tỏa.
“Lại có cây Y cao bảy mươi dặm, hoa quả đầy cành; khi quả ấy chín vỏ tự nứt ra, tuôn ra các loại y phục; hoặc có cây cao sáu mươi dặm, năm mươi, bốn mươi, nhỏ nhất là năm dặm, hoa quả đầy cành, tuôn ra các loại y phục. Lại có cây Trang Nghiêm, cao bảy mươi dặm, hoa quả đầy cành; khi quả ấy chín, vỏ tự nứt ra, tuôn ra các thứ đồ trang nghiêm thân thể; hoặc có cây cao sáu mươi dặm, năm mươi dặm, đều đầy cành hoa quả, tuôn ra đủ các đồ trang nghiêm thân thể. Lại có cây Hoa Man cao bảy mươi dặm, hoa quả đầy cành; khi quả ấy chín, vỏ tự nứt ra, xuất ra các loại tràng hoa; hoặc có cây cao sáu mươi dặm, năm mươi, bốn mươi dặm, cây nhỏ nhất cao năm dặm, hoa quả cũng đầy cành, xuất ra các loại tràng hoa. Lại có cây Khí, cao bảy mươi dặm, hoa quả đầy cành. Khi quả ấy chín vỏ tự nứt ra. Xuất ra các khí cụ; hoặc có cây sáu mươi dặm, năm mươi, bốn mươi cây nhỏ nhất cao năm dặm, hoa quả đều đầy cành, xuất ra các loại khí cụ. Lại có cây Quả cao bảy mươi dặm, hoa quả đầy cành; khi quả ấy chín, vỏ tự nứt ra, xuất ra các loại quả; hoặc có cây cao sáu mươi dặm, năm mươi, bốn mươi, cây nhỏ nhất cao năm dặm, hoa quả đều đầy cành, xuất ra các loại quả. Lại có cây Nhạc Khí cao bảy mươi dặm, hoa quả đầy cành; quả ấy khi chín, vỏ tự nứt ra, xuất ra các loại nhạc khí, hoặc có cây cao sáu mươi dặm, năm mươi, bốn mươi, cây nhỏ nhất cao năm dặm, đều đầy cành hoa quả, xuất ra các loại nhạc khí.
“Cõi ấy có ao tên là Thiện Kiến, ngang dọc một trăm do-tuần, nước ao trong vắt, không có cáu bẩn. Các bên ao được xây lát bằng hào bảy báu. Bốn mặt quanh ao có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng giống như trước.
“Phía Bắc ao Thiện Kiến có cây tên là Am-bà-la, vòng thân bảy dặm, cao một trăm dặm, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi dặm. Phía Đông của ao Thiện Kiến phát xuất sông Thiện Đạo, rộng một do-tuần, nước sông chảy chậm, không có dòng xoáy, có nhiều loại hoa phủ trên mặt nước; sát hai bên bờ cây cối tốt tươi, cành nhánh mềm mại, hoa quả đầy cành; đất mọc cỏ mềm, xoay về phía phải, màu như lông công, hương như bà-sư, mềm như áo trời; đất ở đó mềm mại, khi đạp chân xuống, đất lún bốn tấc, giở chân lên, trở lại như cũ; đất bằng như bàn tay, không có cao thấp.
“Lại nữa, trong sông ấy, có các thuyền báu. Nhân dân ở nơi ấy khi muốn vào sông tắm rửa vui chơi, cởi y phục để trên bờ. Lên thuyền ra giữa dòng; nô đùa vui vẻ xong, lên bờ gặp y phục thì mặc, lên trước mặc trước, lên sau mặc sau, chẳng tỳm lại y phục cũ. Sau đó, đi đến cây Hương. Cây cong mình xuống; những người ấy lấy các loại tạp hương để xoa trên mình. Rồi đến cây Y. Cây cong mình xuống; những người ấy lấy các loại y phục, tùy ý mặc vào. Tiếp đến, đi đến cây Trang Nghiêm, cây cong mình xuống, những người ấy lấy các thứ trang nghiêm để tự trang sức. Xong, đến cây Hoa Man; cây cong mình xuống, những người ấy lấy các thứ tràng hoa, để đội trên đầu. Rồi đến cây Khí, cây cong mình xuống; những người ấy lấy các loại khí vật báu; lấy khí vật báu xong, tiếp theo, đến cây Quả, cây cong mình xuống, những người ấy hái các quả đẹp, hoặc có người ăn nuốt, có người ngậm, có người vắt nước uống. Kế tiếp, đến cây Nhạc Khí; cây cong mình xuống, những người ấy lấy các loại nhạc khí, chơi đàn, đánh trống, và dùng âm thanh vi diệu hòa với tiếng đàn mà đi đến khu vườn, tùy ý vui chơi, hoặc một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày, sau đó lại đi, không có chỗ nhất định.
“Phía Nam ao Thiện Kiến, phát xuất sông Diệu Thể Phía tây ao Thiện Kiến, phát xuất sông Diệu Vị. Phía Bắc ao Thiện Kiến, phát xuất sông Quang Ẩnh, cũng giống như trên. Phía Đông ao Thiện Kiến có khu vườn tên là Thiện Kiến, ngang dọc một trăm do-tuần; vòng quanh bốn bên khu vườn có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, nhiều màu đan xen bảy báu tạo thành. Bốn phía vườn ấy có bốn cửa lớn, lan can bao quanh, đều do bảy báu tạo thành; trong vườn sạch sẽ, không có gai gốc, đất đai bằng phẳng, không có ngòi rãnh khe suối, hầm hố, đồi gò, cũng không có muỗi mòng, ruồi, rệp, rận, rắn rết, ong, bò cạp, hổ báo, ác thú; đất toàn các báu, không có cát, âm dương điều độ, bốn mùa thuận hòa, chẳng lạnh chẳng nóng, không có các hoạn nạn; đất đai nhuận thấm, không có bụi bặm, như có dầu xoa đất, đi bụi không bốc lên, hằng trăm loài cỏ thường mọc, không có Đông rét Hạ bức; cây cối tươi tốt, hoa quả đầy cành; đất mọc cỏ mềm, xoay về phía phải, màu như lông công, hương như bà-sư, mềm như áo trời; đất đai mềm mại, khi đạp chân xuống, đất lún bốn tấc, giở chân lên, đất lại như cũ.
“Vườn ấy thường mọc lúa thơm tự nhiên, không có vỏ trấu, trắng như đóa hoa, đầy đủ các vị, như cơm trời Đao-lị. Vườn ấy thường có nồi chõ tự nhiên; có ngọc ma ni, tên là Diệm Quang đặt dưới nồi chõ; khi cơm chín, ánh sáng tắt, chẳng cần lửa củi, chẳng nhọc công người. Vườn ấy có cây tên là Khúc Cung, lá chồng lên nhau theo thứ lớp, trời mưa không dột. Các nam nữ ấy cư ngụ ở đó. Lại có cây Hương, cao bảy mươi dặm, hoa quả đầy cành; khi quả ấy chín, vỏ tự nứt ra, xuất ra các loại hương, có cây cao sáu mươi dặm, năm mươi, bốn mươi, cho đến cao năm dặm, hoa quả đầy cành, xuất ra các loài hương... cho đến cây Khí, cũng giống như trên.
“Nhân dân ở cõi ấy đến vườn ấy vui chơi giải trí, một ngày, hai ngày... cho đến bảy ngày. Vườn Thiện Kiến ấy không người bảo vệ, tùy ý dạo chơi, sau đó lại đi.
“Phía Nam ao Thiện Kiến có khu vườn tên là Đại Thiện Kiến, phía Tây ao Thiện Kiến có khu vườn tên là Ngu Lạc; phía Bắc ao Thiện Kiến có khu vườn tên là Đẳng Hoa, cũng giống như thế.
“Ở cõi ấy, vào nửa đêm, cuối đêm, Long vương A-nậu-đạt thường thường vào lúc thích hợp khởi mây lành cùng khắp thế giới rồi mưa nước ngọt xuống, giống như khi vắt sữa bò; nước đủ tám vị, thấm nhuận khắp nơi; nước không đọng lại, đất không bùn lầy. Giống như thợ làm tràng hoa dùng nước rưới hoa, khiến không khô héo, thấm ướt tốt tươi. Khi ấy, ở cõi đó vào lúc gần sáng không có mây che, bầu trời trong vắt; biển nổi gió mát, trong lành hiu hiu, chạm nhẹ vào người, toàn thân sảng khoái.
“Cõi ấy trù mật, nhân dân sung túc. Nếu khi cần ăn thì dùng gạo thơm tự nhiên bỏ vào trong chõ, dùng ngọc Diệm Quang để ở dưới chõ; cơm tự nhiên chín, ánh sáng ngọc tự tắt. Các người đi đến, tự do ăn cơm. Người ăn không đứng dậy thì cơm không hết; người ăn đứng dậy thì cơm cũng hết. Cơm ấy tinh khiết như đóa hoa trắng, đầy đủ mùi vị như cơm cõi trời Đao-lị. Người ăn cơm đó không có các bệnh, khí lực dồi dào, nhan sắc tươi vui, không có gầy còm.
“Lại ở cõi ấy, thân thể con người như nhau, hình mạo giống nhau, không thể phân biệt. Dáng người trẻ trung, như người khoảng hai mươi tuổi ở Diêm-phù-đề. Người cõi ấy, răng họ bằng đều, trắng sạch, kín sát không hở; tóc màu xanh biếc, không có cáu bẩn; tóc xỏa xuống bằng tám ngón tay, ngang vai thì dừng, không dài không ngắn. Người ở cõi đó, nếu khi khởi tâm dục thì nhìn chăm chăm nữ nhơn rồi bỏ đi. Người nữ ấy liền theo sau vào trong vườn. Nếu nữ nhơn và người nam kia là cha, mẹ hoặc liên hệ trong cốt nhục, không phải là người nên hành dục thì cây không cong xuống che lại, và họ tự chia tay. Nếu chẳng phải cha, mẹ, và nhiều liên hệ đến cốt nhục, đúng là đối tượng hành dâm thì cây cong xuống che phủ thân họ, tùy ý hưởng lạc, một ngày, hai ngày... hoặc đến bảy ngày, khi ấy mới thôi. Người nữ ấy mang thai; bảy hoặc tám ngày thì sanh. Sanh ra con trai hay con gái, cũng mang đặt ở ngã tư đường, đầu trục lộ giao thông, bỏ đó rồi đi. Các người đi đường, đi ngang qua bên nó, đưa ngón tay cho nó mút, ngón tay chảy ra sữa ngọt, nuôi lớn thân bé. Qua bảy ngày rồi, bé ấy trưởng thành, bằng với người lớn; nam thì theo nhóm nam, nữ thì theo nhóm nữ.
“Người cõi ấy khi mạng chung, không ai khóc lóc, trang nghiêm tử thi, đặt ở ngã tư đường, bỏ đó rồi đi. Có loài chim tên là Ưu-úy-thiền-già gắp tử thi ấy để ở phương khác.
“Lại nữa, người ở cõi ấy khi đại tiểu tiện, đất liền nẻ ra; đại tiểu tiện rồi, đất khép trở lại. Nhân dân cõi ấy không lệ thuộc sự tham luyến, cũng không cất chứa, thọ mạng có hạn định; chết rồi sanh lên trời. Vì sao người cõi ấy thọ mạng luôn có hạn định? Đời trước người cõi ấy tu mười hành vi thiện, khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi Uất-đan-viết, thọ mạng ngàn tuổi, chẳng hơn chẳng kém. Vì thế, người cõi ấy thọ mạng như nhau.
“Lại nữa, người sát sanh đọa vào đường dữ; người không sát sanh sanh vào nẻo lành. Kẻ trộm cắp, tà dâm, hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, ỷ ngữ, tham lam, ganh ghét, tà kiến đều đọa vào đường dữ. Người không trộm cắp, không tà dâm, không hai lưỡi, không ác khẩu, không nói dối, không ỷ ngữ, không tham lam, không ganh ghét, không tà kiến thì khi thân hoại mạng chung sanh cõi Uất-đan-viết, thọ mạng ngàn năm, chẳng hơn chẳng kém. Vì vậy, người ở cõi kia thọ mạng bằng nhau. Lại nữa, tham lam keo kiệt chẳng thường bố thí thì chết đọa đường dữ; tâm thoáng không keo thường hành bố thí sanh chốn thiện. Có người bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn và bố thí cho người bần cùng, ăn xin, bệnh ghẻ, khốn khổ, cho họ y phục, thức ăn uống, xe cộ, tràng hoa, hương thơm, giường chõng, phòng xá; lại tạo lập tháp miếu, đèn đuốc cúng dường, thì người ấy khi mạng chung sanh vào cõi Uất-đan-viết, thọ mạng ngàn tuổi, chẳng hơn chẳng kém, vì vậy, người cõi kia thọ mạng bằng nhau.
“Vì sao gọi người Uất-đan-viết là hơn hết? Vì nhân dân cõi ấy chẳng thọ thập thiện nhưng toàn bộ hành vi của họ tự nhiên hợp với thập thiện, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi lành. Vì vậy, người ở đó được khen là Uất-đan-viết hơn hết. Uất-đan-viết, ý nghĩa như thế nào? Đối với ba cõi kia, cõi nầy là tối thắng, tối thượng cho nên gọi là Uất-đan-viết.
PhẨm 3: CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG
Phật nói với các Tỳ-kheo:
“Thế gian có Chuyển Luân Thánh vương, thành tựu bảy báu, có bốn thần đức.
“Những gì là bảy báu mà Chuyển Luân Thánh vương thành tựu? Một, báu bánh xe vàng; hai, báu voi trắng; ba, báu ngựa xanh; bốn, báu thần châu; năm, báu ngọc nữ; sáu, báu cư sĩ; bảy, báu chủ binh.
“Chuyển Luân Thánh vương thành tựu báu bánh xe vàng như thế nào?
“Nếu Chuyển Luân Thánh vương hiện trong cõi đất Diêm-phù-đề; khi ấy, vua Quán đảnh thuộc dòng Sát-lị, vào ngày rằm trăng tròn, tắm gội bằng nước thơm, rồi lên điện cao, cùng với thể nữ hưởng thụ hoan lạc. Bảo vật là bánh xe trời bằng vàng bỗng nhiên xuất hiện trước mặt. Bánh xe có nghìn căm, với màu sắc sáng chói, được làm bằng vàng trời, do thợ trời chế tạo, không phải người đời làm được. Đường kính bánh xe là bốn trượng. Khi nhìn thấy bánh xe, Chuyển Luân Thánh vương thầm nghĩ: Ta từng nghe từ các bậc tiên túc, kỳ cựu nói rằng: ‘Nếu vua Sát-lị Quán đảnh, vào ngày rằm lúc trăng đầy, tắm gội bằng nước thơm, lên ngồi trên Pháp điện, với thể nữ vây quanh. Bánh xe vàng tự nhiên xuất hiện trước mặt. Bánh xe có nghìn căm, với màu sắc sáng chói, được làm bằng vàng trời, do thợ trời chế tạo, không phải người đời làm được. Đường kính bánh xe là bốn trượng. Bấy giờ được gọi là Chuyển Luân Thánh vương.’ Nay bánh xe này xuất hiện, há không phải là điều ấy chăng? Ta nay hãy thử bảo vật là bánh xe này.
“Rồi Chuyển luân vương bèn triệu tập bốn binh chủng, hướng về bảo vật bánh xe vàng, bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, lấy tay phải sờ bánh xe vàng mà nói rằng: ‘Ngươi hãy nhắm hướng Đông, đúng như pháp mà chuyển, chớ có trái qui tắc thông thường’. Bánh xe liền chuyển về phương Đông. Khi ấy Chuyển luân vương liền dẫn bốn binh chủng đi theo sau. Phía trước bảo vật bánh xe vàng có bốn vị thần dẫn đường. Bánh xe ngừng chỗ nào, vua đình giá chỗ đó. Bấy giờ các Tiểu Quốc vương thấy Đại vương đến, lấy bát vàng đựng đầy thóc bạc; bát bạc đựng đầy thóc vàng; đi đến chỗ Đại vương, cúi đầu bạch rằng: ‘Lành thay, Đại vương! Nay, ở phương Đông này, đất đai phong phú, vui tươi, có nhiều trân bảo, nhân dân đông đúc, tâm chí nhân ái, hòa thuận, từ hiếu, trung thuận. Cúi nguyện Thánh vương hãy ở đây mà trị chính. Chúng tôi sẽ gần gũi hầu hạ, cung cấp những thứ cần dùng.’ Khi ấy, Chuyển luân vương nói với các Tiểu vương: ‘Thôi, thôi! Này Chư Hiền, các người như vậy là đã cúng dường ta rồi. Nhưng hãy theo đúng pháp mà cai trị giáo hóa, chớ để thiên lệch; không để quốc nội có hành vi phi pháp. Tự mình không sát sanh; khuyên bảo người khác không sát sanh, trộm cướp, tà dâm, hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, ỷ ngữ, tham lam, tật đố, tà kiến. Đó gọi là sự cai trị của ta vậy.’
“Các Tiểu vương sau khi nghe lời dạy, liền đi theo Đại vương, tuần hành các nước. Cho đến tận cùng bờ biển phía Đông.
“Sao đó, lần lượt đi về phương nam, phương Tây, phương Bắc. Bất cứ chỗ nào mà bánh xe lăn đến, các Quốc vương ở đó đều dâng hiến quốc thổ; cũng như các Tiểu vương ở phương Đông vậy.
“Tất cả đất đai có trong Diêm-phù-đề này, màu mỡ, phong phú, sản xuất nhiều trân bảo, những nơi có rừng, có nước trong sạch, bánh xe đều lăn khắp; ấn định biên giới, vẽ bản đồ, Đông Tây mười hai do-tuần, Nam Bắc mười do-tuần. Vào ban đêm, các thần ở trong đó xây dựng thành quách. Thành có bảy lớp, với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, những trang hoàng chung quanh, đều được làm bằng bảy báu… cho đến, vô số các loài chim cùng họa nhau mà hót. Thành được xây xong, bánh xe vàng lại xuất hiện trong thành, qui định địa giới Đông Tây bốn do-tuần, Nam Bắc hai do-tuần. Vào ban đêm, các thần ở trong đó xây dựng cung điện. Tường cung có bảy lớp, được làm bằng bảy báu,… cho đến vô số các loài chim cùng họa nhau mà hót, như đã kể trên.
“Cung điện được dựng xong, khi ấy bảo vật bánh xe vàng trụ giữa hư không, ngay phía trước cung điện, hoàn toàn không chuyển động. Chuyển Luân vương phấn khởi nói: ‘Nay bảo vật bánh xe vàng này thật sự là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển Luân Thánh vương.’
“Đó là sự thành tựu bánh xe vàng.
“Voi trắng được thành tựu như thế nào? Chuyển Luân Thánh vương, vào buổi sáng sớm, ngồi trên chánh điện. Tự nhiên voi trắng bỗng xuất hiện trước mặt. Lông của nó thuần trắng, bảy chỗ bằng phẳng, có khả năng phi hành. Đầu của có nhiều màu; sáu ngà thon dài được cẩn bằng vàng ròng. Thấy thế vua liền nghĩ thầm: ‘Con voi này khôn. Nếu khéo huấn luyện, có thể cỡi.’ Bèn cho huấn luyện thử; đầy đủ các kỹ năng. Khi ấy, Chuyển luân vương muốn thử voi, bèn cỡi lên nó, vào buổi sáng sớm, xuất thành, đi quanh khắp bốn biển. Cho đến giờ ăn trưa thì trở về. Chuyển luân vương phấn khởi nói: ‘Bảo vật voi trắng này thật sự là một điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển Luân Thánh vương.’
“Đó là sự thành tựu báu voi.
“Thế nào là sự thành tựu ngựa xanh của Chuyển Luân vương? Khi ấy, Chuyển Luân Thánh vương, vào buổi sáng sớm, ngồi tại chánh điện, Tự nhiên bảo vật là ngựa bỗng xuất hiện trước mặt. Màu nó xanh thẩm, bờm và đuôi đỏ. Thấy thế, vua liền nghĩ thầm: ‘Con ngựa này khôn. Nếu khéo huấn luyện, có thể cỡi.’ Bèn cho huấn luyện thử; đầy đủ các kỹ năng. Khi ấy, Chuyển luân vương muốn thử ngựa, bèn cỡi lên nó, vào buổi sáng sớm, xuất thành, đi quanh khắp bốn biển. Cho đến giờ ăn trưa thì trở về. Chuyển Luân vương phấn khởi nói: ‘Bảo vật ngựa xanh này thật sự là một điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển Luân Thánh vương.’
“Đó là sự thành tựu ngựa xanh.
“Báu thần châu được thành tựu như thế nào? Chuyển Luân Thánh vương, vào buổi sáng sớm, ngồi trên chánh điện. Tự nhiên thần châu bỗng xuất hiện trước mặt. Màu chất trong suốt, không có Tỳ vết. Sau khi thấy, vua tự nghĩ: ‘Châu này thật tuyệt vời. Nếu có ánh sáng, nó có thể rọi cung nội.’ Rồi Chuyển Luân Thánh vương muốn thử hạt châu này, bèn triệu tập bốn binh chủng. Đặt bảo châu trên cây phướn cao. Trong lúc đêm tối, cầm cây phướn xuất thành. Ánh sáng của hạt châu này rọi đến một do-tuần. Những người ở trong thành đều thức dậy làm việc, cho rằng bây giờ là ban ngày. Chuyển Luân vương khi ấy phấn khởi nói: ‘Nay thần châu này thật sự là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển Luân Thánh vương’.
“Đó là sự thành tựu báu thần châu.
“Báu Ngọc nữ được thành tựu như thế nào? Khi ấy, báu Ngọc nữ bỗng nhiên xuất hiện, nhan sắc thung dung, diện mạo đoan chánh; không dài, không vắn; không thô, không nhỏ; không trắng, không đen; không cương, không nhu; mùa đông thì thân ấm, mùa hè thì thân mát. Từ các lỗ chân lông khắp mình phát ra mùi hương chiên-đàn; miệng phát ra mùi hương của hoa ưu-bát-la; nói năng dịu dàng; cử động khoan thai; đứng dậy trước (vua) nhưng ngồi xuống sau (vua), không mất nghi tắc. Chuyển Luân Thánh vương sau khi thấy, tâm không mê đắm, không chút mơ tưởng, huống hồ gần gũi. Chuyển luân vương sau khi thấy, phấn khởi mà nói: ‘Báu ngọc nữ này thật sự là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển Luân Thánh vương.’
“Đó là sự thành tựu báu Ngọc nữ.
“Báu Cư sĩ được thành tựu như thế nào? Khi ấy, người đàn ông cư sĩ bỗng nhiên tự xuất hiện; kho báu tự nhiên, tài sản vô lượng. Cư sĩ do phước báu đời trước có cặp mắt có thể nhìn thấu suốt các hầm mỏ dưới lòng đất; biết rõ hết thảy có chủ hay vô chủ. Kho nào có chủ, ông có thể giữ gìn hộ. Kho nào vô chủ, ông lấy lên cho vua tiêu dùng. Rồi thì, báu Cư sĩ đi đến tâu vua: ‘Đại vương, cần cung cấp thứ gì, xin đừng lo lắng. Tôi tự mình có thể giải quyết.’
“Khi ấy, Chuyển Luân Thánh vương muốn thử báu cư sĩ, bèn ra lệnh sửa soạn thuyền để du ngoạn thủy, bảo cư sĩ rằng: ‘Ta cần bảo vật vàng, ngươi hãy đưa nhanh đến cho.’ Báu Cư sĩ tâu rằng: ‘Đại vương đợi một chút; cần phải lên bờ đã.’ Vua lại hối thúc: ‘Ta nay đang cần dùng. Ngươi hãy mang đến liền cho ta.’ Khi báu Cư sĩ bị vua ra nghiêm lệnh, bèn quỳ mọp trên thuyền, dùng tay mặt thọc xuống nước. Khi ông rút tay lên thì một cái bình báu từ trong nước cũng lên theo. Giống như con sâu leo cây. Báu Cư sĩ kia cũng vậy. Khi rút bàn tay lên khỏi nước thì bình báu cũng lên theo, để đầy cả thuyền. Rồi ông tâu vua: ‘Vừa rồi Vua cần bảo vật để dùng. Mà cần bao nhiêu?’ Chuyển Luân Thánh vương khi ấy nói với Cư sĩ: ‘Thôi, thôi! Ta không cần dùng gì. Vừa rồi, ta chỉ muốn thử mà thôi. Ngươi nay như thế là đã cúng dường ta rồi.’ Cư sĩ nghe vua nói như vậy, liền đem bảo vật trả lại trong nước. Khi ấy, Chuyển Luân Thánh vương phấn khởi nói rằng: ‘Báu Cư sĩ này thật sự là điềm lành của ta. Ta nay thật sự là Chuyển Luân Thánh vương.’
“Đó là sự thành tựu báu Cư sĩ.
“Báu Chủ binh được thành tựu như thế nào? Khi ấy, báu Chủ binh bỗng nhiên xuất hiện, đủ trí mưu, hùng mãnh, sách lược sáng suốt, quyết đoán; đi ngay đến chỗ vua, tâu rằng: ‘Đại vương, cần chinh phạt chỗ nào, xin đừng lo. Tôi có thể đảm trách.’ Rồi Chuyển Luân Thánh vương muốn thử báu Chủ binh, bèn tập hợp bốn binh chủng, bảo rằng: ‘Ngươi nay hãy điều binh. Chưa tập họp thì tập họp lại. Đã tập họp thì giải tán. Chưa nghiêm, hãy làm cho nghiêm. Đã nghiêm, hãy cởi mở. Chưa đi, hãy khiến đi. Đã đi, hãy khiến dừng.’ Báu Chủ binh nghe vua nói xong, bèn điều động bốn binh chủng, Chưa tập họp thì tập họp lại. Đã tập họp thì giải tán. Chưa nghiêm, làm cho nghiêm. Đã nghiêm, thì cởi mở. Chưa đi, thì khiến đi. Đã đi, thì khiến dừng. Khi ấy Chuyển Luân Thánh vương phấn khởi nói rằng: ‘Báu Chủ binh này thật sự là điềm lành của ta. Ta nay thật sự là Chuyển Luân Thánh vương.’
“Đó là sự thành tựu báu Chủ binh.
“Thế nào là bốn thần đức? Một là không ai bì kịp về tuổi thọ, không yểu số. Hai, không ai bì kịp về thân thể cường tráng, không bịnh hoạn. Ba, không ai bì kịp về nhan mạo đoan chánh. Bốn, không ai bì kịp về sự giàu có, kho tàng châu báu đầy dẫy.
“Đó là Chuyển Luân Thánh vương thành tựu bảy báu và bốn thần đức.
“Vào một lúc, rất lâu về sau, Chuyển Luân Thánh vương ra lệnh ngự giá xuất du ở hậu viên, bèn bảo người đánh xe: ‘Ngươi hãy đánh xe đi cho khéo. Ta muốn quan sát rõ nhân dân trong quốc thổ có an lạc, không tai họa gì chăng.’
“Bấy giờ nhân dân trong nước đứng dọc các con đường, nói với người đánh xe rằng: ‘Ông cho xe đi chậm lại. Chúng tôi muốn nhìn ngắm rõ uy nhan của Thánh vương.’
“Chuyển Luân Thánh vương thương yêu chăm sóc nhân dân như cha yêu con. Quốc dân mến mộ vua cũng như con trông lên cha. Có những gì trân quý đều đem cống vua, tâu rằng: ‘Xin nguyện hạ cố thọ nhận, tùy ý sử dụng.’ Khi ấy vua trả lời: ‘Thôi đủ rồi, các người! Ta tự mình có đủ tài bảo. Các người hãy tự thọ dụng của mình.’
“Khi Chuyển Luân Thánh vương cai trị Diêm-phù-đề này, cõi đất ấy bằng phẳng, không có gai gốc, hầm hố, gò nỗng; cũng không có muỗi mòng, ruồi nhặng, ong, bò cạp, rắn rết, sâu độc, đá cát, sạn sỏi; tất cả lặn mất. Vàng, bạc, báu ngọc hiện lên mặt đất. Bốn mùa điều hòa, không nóng, không lạnh. Đất ấy mềm mại, không có bụi bẩn. Như đất được bôi dầu, sạch sẽ, trơn láng, không có bụi bẩn. Khi Chuyển Luân Thánh vương cai trị ở đời, cõi đất cũng như vậy. Từ đất tuôn ra các dòng suối, trong sạch, không bao giờ cạn, sanh loại cỏ mềm mại, mùa đông vẫn xanh tươi. Cây cối sầm uất, hoa trái xum xuê. Đất sanh cỏ mềm, màu như đuôi lông công, mùi hương hoa bà-sư, mềm mại như lụa trời. Khi đạp chân xuống đất; đất lõm xuống bốn tấc. Khi dở chân lên, đất trở lại như cũ, không có chỗ khuyết rỗng. Có loại lúa tẻ mọc tự nhiên, có không có vỏ trấu, đủ các mùi vị. Bấy giờ có cây hương, hoa trái xum xuê. Khi trái chín, trái tự nhiên nứt, tỏa ra mùi hương tự nhiên; hương thơm sực nức. Lại có cây vải, hoa trái xum xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các loại vải khác nhau. Lại có cây trang sức, hoa trái xum xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các đồ trang sức khác nhau. Lại có cây tràng hoa, hoa trái xum xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các loại tràng hoa khác nhau. Lại có cây dụng cụ, hoa trái xum xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các thứ dụng cụ khác nhau. Lại có cây nhạc cụ, hoa trái xum xuê. Khi trái chín, vỏ nó tự nứt ra, cho ra các loại nhạc cụ khác nhau.
“Khi Chuyển Luân Thánh vương cai trị ở đời, Long vương A-nậu-đạt, vào lúc giữa đêm và cuối đêm, nổi lên đám mây lớn dày đặc, giăng bủa khắp cả thế giới, trút xuống cơn mưa lớn. Như trong khoảng thời gian vắt sữa bò; mưa xuống thứ nước có tám vị, thấm ướt khắp nơi. Đất không đọng nước, cũng không bùn sình, thấm nhuần, đẫm ướt, sanh trưởng các loại cỏ cây. Cũng như thợ hớt tóc, rưới nước tràng hoa, khiến hoa tươi thắm, không để héo úa. Những cơn mưa phải thời thấm nhuần cũng như vậy.
“Lại nữa, bấy giờ vào lúc giữa đêm và cuối đêm, bầu trời trong sáng, tịnh không chút mây, từ biển nổi cơn gió mát, trong sạch mát dịu, chạm đến thân thể khiến sanh khoan khoái.
“Khi Thánh vương cai trị, trong cõi Diêm-phù-đề này ngũ cốc dồi dào, nhân dân đông đúc, tài bảo phong phú, không thiếu thốn thứ gì.
“Đương thời, Chuyển Luân Thánh vương trị nước đúng theo pháp, không có dua vạy, tu mười hành vi thiện. Lúc bấy giờ, nhân dân cũng tu chánh kiến, đủ mười hành vi thiện.
“Một thời gian lâu, rất lâu về sau, vua nhuốm bịnh nặng mà mạng chung. Cũng như một người do sung sướng mà ăn hơi nhiều, thân thể có hơi không thích hợp, cho nên mạng chung, sanh lên cõi trời. Khi ấy, báu Ngọc nữ, báu Cư sĩ, báu Chủ binh, cùng nhân dân trong nước tấu các kỹ nhạc, làm lễ táng thân vua. Rồi báu Ngọc nữ, báu Cư sĩ, báu Chủ binh và sĩ dân trong nước, tắm gội thân thể vua bằng nước thơm, quấn quanh bằng năm trăm tấm lụa kiếp-bối; theo thứ lớp mà quấn. Rồi khiêng thi thể vua đặt vào quan tài bằng vàng, rưới lên dầu thơm, bọc bên ngoài cỗ quách bằng sắt; rồi lại dùng một cỗ quách bằng gỗ bao ngoài bằng lớp vải. Chất các củi thơm, phủ lên nhiều lớp vải. Sau đó thì hỏa táng. Ở ngã tư đường dựng tháp bảy báu, dọc ngang một do-tuần, xen kẽ nhiều màu sắc được tạo thành bởi bảy báu. Ở bốn mặt tháp, mỗi mặt có một cửa, bao quanh bằng lan can được làm bằng bảy báu. Khoảng đất trống chung quanh bốn mặt tháp dọc ngang năm do-tuần. Có bảy lớp tường bao quanh vườn, với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây. Tường bằng vàng, cửa bằng bạc; tường bằng bạc, cửa bằng vàng. Tường lưu ly, cửa thủy tinh; tường thủy tinh, cửa lưu ly. Tường xích châu, cửa mã não; tường mã não, cửa xích châu. Tường xa cừ, cửa bằng các loại báu.
“Về lan can, thanh ngang bằng vàng, thanh đứng bằng bạc; thanh đứng bằng bạc, thanh ngang bằng vàng. Thanh ngang thủy tinh, thanh đứng lưu ly; thanh đứng lưu ly, thanh ngang thủy tinh. Thanh ngang xích châu, thanh đứng mã não; thanh ngang mã não, thanh đứng xích châu. Thanh ngang bằng xa cừ, thanh đứng bằng các thứ báu khác.
“Dưới lớp lưới bằng vàng treo linh bằng bạc, lưới bạc treo linh vàng. Dưới lưới lưu ly treo linh thủy tinh, dưới lưới thủy tinh treo linh lưu ly. Dưới lưới xích châu treo linh mã não, dưới lưới mã não treo linh xích châu. Dưới lưới xa cừ treo linh bằng các thứ báu khác.
“Cây bằng vàng thì lá, hoa, trái bằng bạc. Cây bạc thì lá, hoa, trái vàng. Cây lưu ly, hoa lá thủy tinh; cây thủy tinh, hoa lá lưu ly. Cây xích châu, hoa lá mã não; cây mã não, hoa lá xích châu. Cây xa cừ, hoa lá bằng các thứ báu khác.
“Bốn vách tường của vườn lại có bốn cửa, bao quanh bằng lan can. Trên tường đều có lầu các, đài báu. Bốn mặt tường có các vườn cây, suối, hồ tắm, sinh nhiều loại hoa khác nhau; cây cối sầm uất, hoa trái xum xuê, các loại hương thơm sực nức. Nhiều giống chim lạ ca hót điệu buồn. Khi tháp được dựng xong, báu ngọc nữ, báu cư sĩ, báu điển binh, và sĩ dân cả nước đều đến cúng dường tháp này. Họ bố thí cho những người nghèo khốn, cần ăn thì cho ăn; cần mặc thì cho mặc. Voi, ngựa, xe cộ, các thứ cần dùng đều được chu cấp, tùy ý mà cho.
“Công đức oai thần của Chuyển Luân Thánh vương, sự tích là như vậy.”
PhẨm 4: ĐỊA NGỤC
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Bên ngoài của bốn châu thiên hạ này, có tám nghìn thiên hạ bao quanh ngoài. Lại có biển lớn bao quanh tám nghìn thiên hạ. Kế đó có núi Đại Kim Cang bao bọc biển lớn. Bên ngoài núi Đại Kim cang này lại có núi Đại Kim cang thứ hai. Giữa hai núi này là một cảnh giới mờ mịt, tối tăm; mặt trời, mặt trăng, các vị thần, trời dù có uy lực cũng không thể dùng ánh sáng soi chiếu đến đó được.
“Ở nơi này có tám địa ngục lớn, mỗi địa ngục lớn có mười sáu địa ngục nhỏ. Địa ngục lớn thứ nhất gọi là Tưởng. Thứ hai là địa ngục Hắc thằng. Thứ ba là địa ngục Đôi áp. Thứ tư là địa ngục Khiếu hoán. Thứ năm là địa ngục Đại khiếu hoán. Thứ sáu là địa ngục Thiêu chích. Thứ bảy là địa ngục Đại thiêu chích. Thứ tám là địa ngục Vô gián.
“Trong địa ngục Tưởng có mười sáu ngục nhỏ; mỗi địa ngục nhỏ ngang dọc năm trăm do-tuần. Ngục nhỏ thứ nhất là Hắc sa, hai là Phất thỉ, ba là Ngũ bách đinh, bốn là Cơ, năm là Khát, sáu là một Đồng phủ, bảy là Đa đồng phủ, tám là Thạch ma, chín là Nùng huyết, mười là Lượng hỏa, mười một là Hôi hà, mười hai là Thiết hoàn, mười ba là Cân phủ mười bốn là Sài lang, mười lăm là Kiếm thọ, mười sáu là Hàn băng.
“Vì sao gọi là địa ngục Tưởng? Vì chúng sanh ở trong đó, trên tay của chúng mọc móng sắt; móng này vừa dài vừa bén. Chúng thù hận nhau, luôn có ý tưởng độc hại, dùng móng tay cào cấu lẫn nhau, chạm tay vào chỗ nào là chỗ đó thịt rớt xuống, tưởng là đã chết; có cơn gió lạnh thổi đến, da thịt sinh ra trở lại, giây lát chúng sống lại, đứng dậy, tự mình có ý tưởng rằng: ‘Ta nay đã sống lại.’ Chúng sanh khác nói: ‘Ta có ý tưởng ngươi đang sống.’ Vì sự tưởng này cho nên gọi là địa ngục Tưởng.
“Lại nữa, chúng sanh ở trong địa ngục Tưởng này, lúc nào cũng nghĩ đến sự độc hại, phá hại lẫn nhau. Tay chúng cầm một loại đao kiếm tự nhiên, vừa nhọn vừa bén, đâm chém lẫn nhau, lóc da xẻ thịt, bằm nát thân thể rớt xuống đất, và họ tưởng mình đã chết, nhưng bỗng một cơn gió lạnh thổi đến, da thịt sanh ra lại, làm cho họ sống lại đứng dậy, tự nghĩ và nói: ‘Ta nay đã sống lại.’ Chúng sanh khác nói: ‘Ta cũng nghĩ là ngươi đã sống lại.’ Vì lý do đó nên gọi là địa ngục Tưởng.
“Lại nữa, những chúng sanh ở trong địa ngục Tưởng đó, lúc nào cũng ôm trong lòng ý tưởng độc hại; chúng quấy phá lẫn nhau. Tay chúng cầm một loại đao kiếm tự nhiên, vừa nhọn vừa bén, đâm chém lẫn nhau, lóc da xẻ thịt, thân thể rã rời dưới đất, tưởng là đã chết, nhưng một cơn gió lạnh thổi đến, da thịt sanh ra lại, giây lát sống lại, đứng dậy, tự có ý tưởng rằng: ‘Ta nay đã sống lại.’ Chúng sanh khác nói: ‘Ta có ý tưởng ngươi đang sống.’ Vì lý do đó nên gọi là địa ngục Tưởng.
“Lại nữa, địa ngục Tưởng là nơi mà những chúng sanh lúc nào cũng ôm lòng độc hại, quấy phá lẫn nhau. Tay chúng cầm một loại đao kiếm, vừa nhọn vừa bén, đâm chém lẫn nhau, lóc da xẻ thịt, và tưởng là đã chết, nhưng bỗng một cơn gió lạnh thổi đến, da thịt sanh ra lại, giây lát sống lại đứng dậy, tự có ý tưởng rằng: ‘Ta nay đã sống lại.’ Chúng sanh khác nói: ‘Ta có ý tưởng ngươi đang sống.’ Vì lý do đó nên gọi là địa ngục Tưởng.
“Lại nữa, địa ngục Tưởng là nơi mà những chúng sanh lúc nào cũng ôm ý tưởng độc hại, quấy phá lẫn nhau. Tay chúng cầm một loại dao bóng dầu, vừa nhọn vừa bén, đâm chém lẫn nhau, lóc da xẻ thịt, tưởng là đã chết, nhưng bỗng một cơn gió lạnh thổi đến, da thịt sanh ra lại, giây lát sống lại, đứng dậy, tự có ý tưởng rằng: ‘Ta nay đã sống lại.’ Chúng sanh khác nói: ‘Ta có ý tưởng ngươi đang sống.’ Vì lý do đó nên gọi là địa ngục Tưởng.
“Lại nữa, địa ngục Tưởng là nơi mà những chúng sanh lúc nào cũng ôm ý tưởng độc hại, quấy phá lẫn nhau. Tay chúng cầm một loại dao nhỏ, vừa nhọn vừa bén, đâm chém lẫn nhau, lóc da xẻ thịt, tưởng là đã chết, nhưng bỗng một cơn gió lạnh thổi đến, da thịt sanh ra lại, giây lát sống lại, đứng dậy, tự mình có ý tưởng rằng: ‘Ta nay đã sống lại.’ Chúng sanh khác nói: ‘Ta có ý tưởng ngươi đang sống.’ Vì lý do đó nên gọi là địa ngục Tưởng.
“Những chúng sanh ở trong đó, sau khi chịu khổ lâu, ra khỏi địa ngục Tưởng, hoảng hốt chạy càn để tự cứu mình. Nhưng vì tội quá khứ lôi kéo, nên bất ngờ lại đến địa ngục Hắc sa. Bấy giờ, có một cơn gió nóng dữ dội bốc lên, thổi cát đen nóng dính vào thân nó, khiến toàn thân đều đen, giống như đám mây đen. Cát nóng đốt da, hết thịt, vào tận xương. Sau đó, trong thân tội nhơn có một ngọn lửa đen bộc phát, đốt cháy quanh thân rồi vào bên trong, chịu các khổ não, bị thiêu nướng, cháy nám. Vì nhân duyên tội, nên chịu khổ báo này. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ khá lâu ở trong đó, nó ra khỏi địa ngục Hắc sa, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình. Nhưng vì tội quá khứ lôi kéo, nên bất ngờ lại đến địa ngục Phất thỉ. Trong địa ngục này có những hòn sắt là phân sôi tự nhiên đầy dẫy trước mặt, đuổi bức tội nhơn phải ôm hòn sắt nóng, đốt cháy thân và tay, đến đầu và mặt tội nhơn; không đâu là không bị đốt cháy; lại khiến cho tội nhơn bốc hòn sắt bỏ vào miệng, đốt cháy cả môi, lưỡi, từ yết hầu đến bụng, từ trên đến dưới đều bị cháy tiêu hết. Có một loài trùng mỏ sắt ăn da thịt, tận cả xương tủy, đau đớn nhức nhối, lo sợ vô cùng. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu ở trong địa ngục Phất thỉ, tội nhơn ra khỏi địa ngục này, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, không ngờ lại đến địa ngục Thiết đinh. Sau khi đã vào đó, ngục tốt đánh tội nhân cho té xuống, nằm mọp trên sắt nóng, căng thẳng thân thể nó ra, dùng đinh đóng tay, đóng chân, đóng vào tim. Toàn thân bị đóng hết thảy năm trăm cái đinh. Nó đau đớn nhức nhối, kêu la rên xiết. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Thiết đinh, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, không ngờ lại đến địa ngục Đói. Ngục tốt đến hỏi: ‘Các người đến đây muốn điều gì?’ Tội nhơn đáp: ‘Tôi đói quá.’ Tức thì ngục tốt bắt tội nhơn quăng lên bàn sắt nóng, căng thân thể ra, dùng móc câu cạy miệng cho há ra, rồi lấy hòn sắt nóng bỏ vào trong miệng, đốt cháy môi lưỡi, từ cổ họng cho đến bụng, chạy tuốt xuống dưới, không chỗ nào không đốt cháy, đau rát nhức nhối, khóc la rên xiết. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Đói, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, không ngờ lại đến địa ngục Khát. Ngục tốt liền hỏi: ‘Các ngươi đến đây, muốn cầu điều gì?’ Tội nhơn đáp: ‘Tôi khát quá.’ Ngục tốt liền bắt tội nhơn quăng lên bàn sắt nóng, căng thân thể ra rồi dùng móc câu cạy miệng tội nhơn ra, lấy nước đồng sôi rót vào trong miệng đốt cháy môi, lưỡi, từ cổ cho đến bụng, suốt từ trên xuống dưới, không chỗ nào không đốt cháy, đau rát nhức nhối, khóc la rên xiết. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Khát, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, không ngờ lại đến địa ngục một Đồng phúc. Ngục tốt trợn mắt giận dữ, nắm chân tội nhơn ném vào trong vạc đồng, theo nước sôi sùng sục, trồi lên hụp xuống, từ đáy đến miệng, rồi từ miệng cho đến đáy, hoặc ở giữa vạc, cả thân thể bị nấu nhừ. Cũng như nấu đậu, hạt đậu tùy theo nước sôi, trào lên lộn xuống, các hạt đậu cả trong ngoài đều được nấu nhừ. Tội nhơn trồi lên sụp xuống trong vạc dầu sôi cũng như vậy. Kêu gào bi thảm, hàng vạn độc hại cùng đến; nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục một Đồng phúc, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, nhưng bị tội đời trước lôi kéo, bất ngờ lại rơi vào địa ngục Đa đồng phúc. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Ngục tốt trợn mắt giận dữ, nắm chân tội nhơn ném vào trong vạc đồng, theo nước sôi sùng sục, trồi lên hụp xuống, từ đáy đến miệng, rồi từ miệng cho đến đáy, hoặc ở giữa vạc, cả thân thể bị nấu nhừ. Cũng như nấu đậu, hạt đậu tùy theo nước sôi, trào lên lộn xuống, các hạt đậu cả trong ngoài đều được nấu nhừ. Tội nhơn trồi lên sụp xuống trong vạc dầu sôi cũng như vậy, tùy theo nước sôi mà trồi lên sụp xuống, từ miệng vạc cho đến đáy vạc, rồi từ đáy cho đến miệng, hoặc tay chân nổi lên, hoặc lưng bụng nổi lên, hoặc đầu mặt nổi lên. Ngục tốt dùng lưỡi câu móc để trong vạc đồng khác. Nó kêu khóc thảm thiết, đau đớn nhức nhối. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Đa đồng phúc, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, nhưng bị tội đời trước lôi kéo, không ngờ lại rơi vào địa ngục Thạch ma. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Ngục tốt thịnh nộ, bắt tội nhơn quăng lên tảng đá nóng, căng tay chân ra, dùng đá tảng nóng lớn đè trên thân tội nhơn, mài tới mài lui làm cho xương nát vụn, máu mủ chảy ra, đau đớn nhức nhối, khóc la thảm thiết. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Thạch ma, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, nhưng bị tội đời trước lôi kéo, không ngờ lại rơi vào địa ngục Nùng huyết. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Trong địa ngục này tự nhiên có máu mủ nóng sôi sục trào vọt. Tội nhơn ở trong đó chạy Đông, chạy Tây, bị máu mủ sôi nóng luộc chín toàn thân, đầu, mặt, tay, chân, tất cả đều nát nhừ. Tội nhơn còn phải ăn máu mủ nóng, miệng, môi đều bị bỏng, từ cổ cho đến bụng, suốt trên xuống dưới không chỗ nào không nát nhừ, đau đớn nhức nhối, không thể chịu nổi. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Nùng huyết, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, nhưng bị tội đời trước lôi kéo, không ngờ lại rơi vào địa ngục Lượng hỏa. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Trong địa ngục này có một đống lửa lớn, tự nhiên xuất hiện trước mặt, lửa cháy hừng hực. Ngục tốt hung dữ, bắt tội nhơn tay cầm cái đấu bằng sắt, để đong đống lửa ấy. Khi họ đong lửa, thì lửa đốt cháy tay chân và cả toàn thân, họ đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian, chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Lượng hỏa, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, nhưng bị tội đời trước lôi kéo, không ngờ lại rơi vào địa ngục Hôi hà. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần, sâu năm trăm do-tuần. Tro sôi sùng sục, độc khí xông lên phừng phực, các dòng xoáy vỗ nhau, âm vang thật đáng sợ, từ đáy lên bên trên có gai sắt dọc ngang với mũi nhọn dài tám tấc. Bên bờ sông lại có một loại dao kiếm dài, có cả ngục tốt, sài lang. Hai bên bờ sông mọc những đao kiếm dài, nhánh, lá, hoa, trái đều là đao kiếm, vừa nhọn vừa bén, cỡ tám tấc, đứng bên là những ngục tốt, sài lang. Trên bờ sông có rừng mà cây là gươm với cành, lá, hoa, trái đều là đao kiếm, mũi nhọn tám tấc. Tội nhơn vào trong sông, tùy theo lượn sóng lên xuống, mà trồi lên hụp xuống. Toàn thân đều bị gai sắt đâm thủng từ trong ra ngoài, da thịt nát bét, máu mủ dầm dề, đau đớn muôn chiều, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Hôi hà, lên được trên bờ, nhưng ở trên bờ lại có nhiều gươm dáo sắc bén đâm thủng toàn thân, tay chân bị thương tổn. Bấy giờ quỷ sứ hỏi tội nhơn: ‘Các ngươi đến đây muốn cầu điều chi? Tội nhơn đáp: ‘Chúng tôi đói quá.’ Ngục tốt liền bắt tội nhơn quăng lên sắt nóng, căng thân thể ra rồi dùng móc câu cạy miệng tội nhơn ra, lấy nước đồng sôi rót vào, cháy bỏng môi, lưỡi, từ cổ đến bụng, suốt trên xuống dưới, không chỗ nào không rục. Lại có loài lang sói răng nanh vừa dài vừa bén đến cắn tội nhơn, ăn thịt khi tội nhơn đang sống. Rồi thì, tội nhơn bị sông tro đun nấu, bị gai nhọn đâm thủng, bị rót nước đồng sôi vào miệng, và bị sài lang ăn thịt xong, thì lại leo lên rừng kiếm; khi leo lên rừng kiếm thì bị đao kiếm chỉa xuống; khi tuột xuống rừng kiếm thì bị đao kiếm chỉa lên, khi tay nắm thì cụt tay, chân dẫm lên thì cụt chân; mũi nhọn đâm thủng toàn thân từ trong ra ngoài, da thịt rơi xuống, máu mủ đầm đìa, chỉ còn xương trắng, gân cốt liên kết với nhau. Bấy giờ, trên cây kiếm có một loại quạ mỏ sắt đến mổ nát đầu và xương để ăn não của tội nhơn. Nó đau đớn nhức nhối kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được, lại bị trở lại địa ngục Hôi hà. Tội nhơn này theo lượn sóng lên xuống, mà trồi lên sụp xuống, gươm dáo đâm thủng toàn thân trong ngoài, da thịt tan nát, máu mủ đầm đìa, chỉ còn xương trắng trôi nổi bên ngoài. Bấy giờ, có một cơn gió lạnh thổi đến làm cho da thịt phục hồi, giây lát nó đứng dậy đi, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình, nhưng vì tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn lại không ngờ sa vào địa ngục Thiết hoàn. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Khi tội nhơn vào đây, thì tự nhiên có những hòn sắt nóng hiện ra trước mặt. Ngục quỷ cưỡng bức tội nhân nắm bắt, tay chân rã rời, toàn thân lửa đốt, đau đớn kêu la thảm, muôn vàn khổ độc dồn đến chết. Nhưng vì tội chưa hết, nên khiến cho tội nhơn không chết được.
“Sau một thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Thiết hoàn, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Cân phủ. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Khi tội nhơn vào địa ngục này, ngục tốt hung dữä, bắt tội nhơn để trên bàn sắt nóng, dùng búa rìu bằng sắt nóng chặt thân thể, tay, chân, cắt tai, xẻo mũi, làm cho đau đớn nhức nhối, kêu la thảm thiết; nhưng vì tội chưa hết, nên họ không chết được.
“Sau một thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Cân phủ, hoảng hốt chạy càn, để tự cứu mình; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn không ngờ lại sa vào địa ngục Sài lang. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Khi tội nhơn vào địa ngục này, thì có bầy lang sói tranh nhau cắn xé tội nhơn, làm cho da thịt nhầy nhụa, xương gãy, thịt rơi, máu chảy đầm đìa, làm đau đớn muôn vàn, kêu la thảm thiết; nhưng vì tội cũ chưa hết, nên họ không chết được.
“Sau một thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Sài lang, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Kiếm thọ. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Khi tội nhơn vào địa ngục này, thì có một cơn gió mãnh liệt nổi lên, thổi lá cây bằng gươm dao rớt trên thân thể tội nhơn, hễ chạm vào tay thì cụt tay, dính vào chân thì cụt chân, thân thể, đầu mặt không đâu là không bị thương hoại. Có một loại quạ mỏ sắt, đứng trên đầu mổ đôi mắt tội nhơn, làm cho đau đớn muôn vàn, kêu la thảm thiết; nhưng vì tội cũ chưa hết, nên không chết được.
“Sau một thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Kiếm thọ, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Hàn băng. Địa ngục này ngang dọc năm trăm do-tuần. Khi tội nhơn vào địa ngục này, thì có một cơn gió lạnh buốt, thổi đến làm cho thân thể bị lạnh cóng, máu huyết đông đặc, da thịt nứt nẻ, rớt ra từng mảnh, làm họ đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Sau đó thì mạng chung.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Địa ngục lớn Hắc thằng có mười sáu địa ngục nhỏ bao bọc chung quanh, mỗi địa ngục ngang dọc năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục Hắc thằng? Vì ở đó các ngục tốt bắt tội nhơn quăng lên bàn sắt nóng, căng thân hình ra rồi dùng sợi dây sắt kéo ra cho thẳng, rồi dùng búa bằng sắt nóng xẻ theo đường sợi dây, xẻ tội nhơn kia thành trăm nghìn đoạn. Giống như thợ mộc dùng dây kẻ vào cây rồi dùng búa bén theo đường mực mà bổ ra thành trăm nghìn đoạn, thì cách hành hạ tội nhơn ở đây cũng như vậy, đau đớn vô cùng, không thể diễn tả hết được. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì thế nên gọi là địa ngục Hắc thằng.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Hắc thằng bắt tội nhơn quăng lên bàn sắt nóng, căng thân hình ra, dùng dây sắt nóng kéo ra cho thẳng, dùng cưa để cưa tội nhơn. Giống như người thợ mộc dùng dây mực kẻ trên thân cây, rồi dùng cưa để cưa cây, thì cách hành hạ tội nhơn ở đây cũng như vậy, đau đớn vô cùng, không thể diễn tả hết được. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì thế gọi là địa ngục Hắc thằng.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Hắc thằng bắt tội nhơn quăng lên bàn sắt nóng, căng thân thể ra, dùng dây sắt nóng để trên thân tội nhơn, làm cho da thịt bị thiêu đốt, tiêu xương chảy tủy đau đớn vô cùng, không thể diễn tả hết được. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì thế gọi là địa ngục Hắc thằng.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Hắc thằng dùng vô số dây sắt nóng treo ngang, rồi bắt tội nhơn đi giữa những sợi dây này, lúc đó lại có cơn gió lốc nổi lên, thổi những sợi dây sắt nóng quấn vào thân, đốt cháy da thịt, tiêu xương chảy tủy đau đớn vô cùng, không thể diễn tả hết được. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì thế gọi là địa ngục Hắc thằng.
“Lại nữa, ngục tốt ở trong địa ngục Hắc thằng buộc tội nhơn mặc áo bằng dây sắt nóng, đốt cháy da thịt, tiêu xương chảy tủy đau đớn vô cùng, không thể diễn tả hết được. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì thế gọi là địa ngục Hắc thằng.
“Sau thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Hắc thằng, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Hắc sa… cho đến địa ngục Hàn băng. Sau đó thì tội nhơn mạng chung.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Địa ngục lớn Đôi áp có mười sáu địa ngục nhỏ bao bọc chung quanh; mỗi ngục nhỏ ngang dọc năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục Đôi áp? Vì trong ngục đó có núi đá lớn, từng cặp đối nhau. Khi tội nhơn vào giữa thì hai hòn núi tự nhiên khép lại, ép thân thể tội nhơn, xương thịt nát vụn, xong rồi trở lại vị trí cũ, giống như hai thanh củi cọ vào nhau, khi cọ xong dang ra, thì cách trị tội nhơn của địa ngục này cũng như vậy, đau đớn vô cùng, không thể diễn tả hết được. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đôi áp.
“Lại nữa, ở địa ngục Đôi áp, có voi sắt lớn, toàn thân bốc lửa, vừa kêu rống, vừa chạy đến dày xéo thân thể tội nhơn, dẫm đi dẫm lại, làm cho thân thể bị nghiền nát, máu mủ tuôn chảy, đau đớn muôn vàn, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đôi áp.
“Lại nữa, các ngục tốt ở địa ngục Đôi áp, bắt tội nhơn đặt lên bàn đá mài, rồi lấy đá mài mà mài, làm cho xương thịt vụn nát, máu mủ chảy dầm dề, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đôi áp.
“Lại nữa, các ngục tốt ở địa ngục Đôi áp, bắt tội nhơn nằm trên tảng đá lớn, rồi lấy một tảng đá khác đè lên, làm cho xương thịt vụn nát, máu mủ chảy đầm đìa, đau đớn nhức nhối, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đôi áp.
“Lại nữa, các ngục tốt ở địa ngục Đôi áp, bắt tội nhơn nằm trong các cối sắt, rồi dùng chày sắt để giã tội nhơn, từ đầu đến chân, làm cho xương thịt vụn nát, máu mủ chảy đầm đìa, đau đớn nhức nhối, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đôi áp.
“Sau thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục Đôi áp, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Hắc sa… cho đến địa ngục Hàn băng, rồi sau đó thì tội nhơn mạng chung.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Địa ngục lớn Khiếu hoán có mười sáu địa ngục nhỏ bao quanh; mỗi ngục nhỏ ngang dọc năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục Khiếu hoán? Vì các ngục tốt trong ngục này bắt tội nhơn bỏ vào trong vạc lớn, với nước nóng sôi sục, nấu nhừ tội nhơn, khiến chúng kêu la gào thét, đau đớn nhức nhối, muôn vàn độc hại. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Khiếu hoán.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Khiếu hoán bắt tội nhơn bỏ vào trong vò sắt lớn, dùng nước nóng sôi sục, nấu nhừ tội nhơn, khiến chúng đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Khiếu hoán.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Khiếu hoán bắt tội nhơn bỏ vào trong nồi sắt lớn, dùng nước nóng sôi sục, nấu nhừ tội nhơn, khiến họ đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì thế nên gọi là địa ngục Khiếu hoán.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Khiếu hoán bắt tội nhơn ném vào trong nồi nhỏ, dùng nước nóng sôi sục, nấu nhừ tội nhơn, khiến chúng đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Khiếu hoán.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Khiếu hoán bắt tội nhơn bỏ lên trên cái nồi hầm, hầm đi hầm lại, khiến cho kêu gào, la thét, đau đớn vô cùng. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Khiếu hoán.
“Sau thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục này, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn không ngờ lại sa vào địa ngục Hắc sa … cho đến địa ngục Hàn băng, và sau đó thì tội nhơn mạng chung.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Địa ngục Đại khiếu hoán lớn có mười sáu địa ngục nhỏ bao quanh; mỗi ngục nhỏ ngang dọc năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục Đại khiếu hoán? Vì các ngục tốt trong ngục này bắt tội nhơn bỏ vào trong nồi sắt lớn, dùng nước nóng sôi sục, nấu nhừ tội nhơn, khiến chúng kêu la gào thét, khóc lóc thảm thiết, đau đớn vô cùng. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại khiếu hoán.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Đại khiếu hoán bắt tội nhơn bỏ vào trong vò sắt lớn, dùng nước sôi sùng sục, nấu nhừ tội nhơn, khiến họ đau đớn vô cùng. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại khiếu hoán
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Đại khiếu hoán bắt tội nhơn bỏ vào trong vạc sắt, dùng nước sôi sùng sục, nấu nhừ tội nhơn, khiến chúng đau đớn vô cùng. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại khiếu hoán.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Đại khiếu hoán bắt tội nhơn bỏ vào trong nồi nhỏ, dùng nước sôi sùng sục, nấu nhừ tội nhơn, khiến chúng đau đớn vô cùng. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại khiếu hoán.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục Đại khiếu hoán, bắt tội nhơn ném lên trên chảo lớn, rồi trở qua trở lại tội nhơn, khiến kêu la gào thét, kêu la lớn, đau đớn vô cùng. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại khiếu hoán.
“Sau thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục này, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Hắc sa… cho đến địa ngục Hàn băng, rồi sau đó thì tội nhơn mạng chung.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Địa ngục lớn Thiêu chích, có mười sáu địa ngục nhỏ bao bọc chung quanh. Vì sao gọi là địa ngục lớn Thiêu chích? Vì các ngục tốt trong địa ngục đó bắt tội nhơn vào trong thành sắt. Thành này bốc cháy, cả trong lẫn ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy gọi là địa ngục Thiêu chích.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục này, bắt tội nhơn bỏ vào trong nhà sắt, rồi cho nhà này bốc cháy, trong ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Thiêu chích.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục này, bắt tội nhơn bỏ vào trên lầu sắt, rồi cho lầu bốc cháy, trong ngoài đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Thiêu chích.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục này, bắt tội nhơn bỏ vào trong lò gốm sắt lớn, rồi cho lò này cháy, trong ngoài đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Thiêu chích.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục này, bắt tội nhơn bỏ vào trong nồi hầm lớn, rồi cho nồi này bốc cháy, trong ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Thiêu chích.
“Sau thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục này, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Hắc sa… cho đến địa ngục Hàn băng, và sau đó thì tội nhơn mạng chung.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Địa ngục Đại thiêu chích có mười sáu địa ngục nhỏ bao bọc chung quanh; mỗi ngục nhỏ ngang dọc năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục Đại thiêu chích? Vì các ngục tốt trong địa ngục này, bắt tội nhơn vào trong thành sắt, rồi cho thành này bốc cháy, cả trong lẫn ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, thiêu nướng nhiều lần, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại thiêu chích.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục này, bắt tội nhơn bỏ vào trong nhà sắt, rồi cho nhà này bốc cháy, trong ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, thiêu nướng nhiều lần, da thịt tiêu tan, khiến họ đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Thiêu nướng lớn.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục này, bắt tội nhơn bỏ vào trên lầu sắt, rồi cho lầu bốc cháy, trong ngoài đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, thiêu nướng nhiều lần, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại thiêu chích.
“Lại nữa, ngục tốt ở địa ngục này, bắt tội nhơn bỏ vào trong lò gốm sắt lớn, rồi cho lò này bốc cháy, trong ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng tội nhơn, thiêu nướng nhiều lần, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại thiêu chích.
“Lại nữa, ở địa ngục này, thiêu nướng nhiều lần, tự nhiên có hầm lửa lớn, lửa cháy phừng phừng, hai bên bờ hầm có núi lửa lớn. Các ngục tốt ở đây bắt tội nhơn ghim vào trên chỉa sắt, rồi dựng đứng trong lửa đỏ, làm cho thân thể bị thiêu nướng, thiêu nướng nhiều lần, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Đại thiêu chích.
“Sau thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục này, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Hắc sa… cho đến địa ngục Hàn băng, và sau đó thì tội nhơn mạng chung.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Địa ngục lớn Vô gián, có mười sáu địa ngục nhỏ bao bọc chung quanh, mỗi địa ngục ngang dọc năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục lớn Vô gián? Vì các ngục tốt trong địa ngục này, bắt tội nhơn lột da từ đầu đến chân, rồi dùng da ấy cột thân tội nhơn vào bánh xe lửa, rồi cho xe lửa chạy đi chạy lại trên nền sắt nóng, làm cho thân thể nát tan, da thịt rời ra từng mảnh, khiến đau đớn vô cùng kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Vô gián.
“Lại nữa, ở địa ngục này, có thành sắt lớn, bốn mặt thành lửa cháy dữ dội, ngọn lửa từ Đông lan sang Tây, ngọn lửa từ Tây lan sang Đông, ngọn lửa từ Nam lan đến Bắc, ngọn lửa từ Bắc lan đến Nam, ngọn lửa từ trên lan xuống dưới, ngọn lửa từ dưới lan lên trên, lửa cháy vòng quanh, không có một chỗ nào trống. Tội nhơn ở trong đây cứ chạy Đông chạy Tây, toàn thân bị thiêu nướng, da thịt cháy nám, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Vô gián.
“Lại nữa, ở địa ngục Vô gián này có thành bằng sắt, lửa cháy hừng hực, tội nhơn bị lửa đốt thân, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Vô gián.
“Lại nữa, tội nhơn ở địa ngục Vô gián này, sau thời gian chịu khổ lâu thì cửa mở, tội nhơn liền chạy về hướng cửa mở, trong khi chạy thì các bộ phận của thân đều bốc lửa, cũng như chàng lực sĩ tay cầm bó đuốc lớn bằng cỏ, chạy ngược gió, lửa ấy cháy phừng phực, khi tội nhơn chạy lửa cũng bộc phát như vậy. Khi chạy đến gần cửa, tự nhiên cửa khép lại. Tội nhơn bò càng, nằm phục trên nền sắt nóng, toàn thân bị thiêu nướng, da thịt tiêu tan, đau đớn vô cùng, như muôn thứ độc cùng kéo đến một lúc. Nhưng vì tội cũ chưa hết, nên tội nhơn không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Vô gián.
“Lại nữa, tội nhơn ở địa ngục Vô gián này, những gì mà mắt thấy, chỉ thấy toàn là màu ác; những gì tai nghe, toàn là âm thinh ác; những gì mũi ngửi, toàn là mùi thối ác; những gì thân xúc chạm, toàn là những sự đau đớn; những gì ý nhớ, chỉ nghĩ điều ác. Lại nữa, tội nhơn ở nơi đây, trong khoảnh khắc búng tay, không có một giây phút nào là không khổ. Vì vậy nên gọi là địa ngục Vô gián.
“Sau thời gian chịu khổ lâu, tội nhơn ra khỏi địa ngục này, hoảng hốt chạy càn, mong cầu cứu hộ; nhưng vì bị tội quá khứ lôi kéo, tội nhơn bất ngờ lại sa vào địa ngục Hắc sa… cho đến địa ngục Hàn băng lạnh, và sau đó thì tội nhơn mạng chung.”
Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài kệ:
Thân làm nghiệp bất thiện,
Miệng, ý cũng bất thiện,
Đều vào địa ngục Tưởng,
Sợ hãi, lông dựng đứng.
Ý ác đối cha mẹ,
Phật, và hàng Thinh văn,
Thì vào ngục Hắc thằng,
Khổ đau không thể tả.
Chỉ tạo ba nghiệp ác,
Không tu ba hạnh lành,
Thì vào ngục Đôi áp,
Khổ đau nào tả được.
Ôm lòng sân độc hại,
Sát sanh máu nhơ tay,
Tạo linh tinh hạnh ác,
Vào địa ngục Khiếu hoán.
Thường tạo những tà kiến,
Bị lưới ái phủ kín;
Tạo hạnh thấp hèn này,
Vào ngục Đại khiếu hoán.
Thường làm việc thiêu nướng,
Thiêu nướng các chúng sanh;
Sẽ vào ngục Thiêu chích,
Bị thiêu nướng luôn luôn.
Từ bỏ nghiệp thiện quả,
Quả thiện, đạo thanh tịnh;
Làm các hạnh tệ ác,
Vào ngục Đại thiêu chích.
Tạo tác tội cực nặng,
Tất sinh nghiệp đường ác;
Vào địa ngục Vô gián,
Chịu tội không thể tả.
Ngục Tưởng và Hắc thằng,
Đôi áp, hai Khiếu hoán;
Thiêu chích Đại thiêu chích,
Vô gián là thứ tám.
Tám địa ngục lớn này,
Hoàn toàn rực màu lửa;
Tai họa do ác xưa,
Có mười sáu ngục nhỏ.
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Giữa hai ngọn núi Đại Kim cang kia có cơn gió lớn trỗi lên, tên là Tăng-khư. Nếu như ngọn gió này thổi đến bốn châu thiên hạ, và tám mươi nghìn thiên hạ khác, thì gió sẽ thổi đại địa này và các danh sơn cùng chúa Tu-di bay khỏi mặt đất từ mười dặm cho đến trăm dặm, tung lên bay liệng giữa trời; tất cả thảy đều vỡ vụn. Giống như tráng sĩ tay nắm một nắm trấu nhẹ tung lên giữa hư không. Dưới ngọn gió lớn kia, giả sử thổi vào thiên hạ này, cũng giống như vậy. Vì có hai ngọn núi Đại Kim cang ngăn chận ngọn gió ấy, nên gió không đến được. Này Tỳ-kheo, nên biết, hai ngọn núi Đại Kim cang này có rất nhiều lợi ích, và cũng do nghiệp báo của chúng sanh chiêu cảm nên.
“Lại nữa, gió ở khoảng giữa hai núi này nóng hừng hực; nếu như gió này thổi đến bốn châu thiên hạ, thì những chúng sanh trong đó, và những núi non, biển cả, sông ngòi, cây cối, rừng rậm đều sẽ bị cháy khô. Cũng như giữa cơn nắng mùa hè, cắt một nắm cỏ non để ngay dưới mặt trời, cỏ liền khô héo, thì ngọn gió kia cũng như vậy; nếu ngọn gió đó thổi đến thế giới này, thì sức nóng đó sẽ tiêu rụi tất cả. Vì có hai ngọn núi Kim cang này ngăn chận được ngọn gió đó, nên không thể đến đây được. Các Tỳ-kheo, nên biết, ngọn núi Kim cang này có rất nhiều lợi ích, và cũng do nghiệp báo của chúng sanh chiêu cảm nên vậy.
“Lại nữa, gió giữa hai núi này hôi thối, bất tịnh, tanh tưởi nồng nặc; nếu như ngọn gió này thổi đến bốn châu thiên hạ này, thì sẽ xông lên làm cho chúng sanh bị mù lòa. Nhưng vì có hai núi Đại Kim cang này ngăn chận nên ngọn gió ấy không thể đến được. Tỳ-kheo, nên biết, núi Kim cang này có rất nhiều lợi ích, và cũng do nghiệp báo của chúng sanh chiêu cảm nên vậy.
“Lại nữa, giữa hai núi này lại có mười địa ngục : một là Hậu vân, hai là Vô vân, ba là Ha ha, bốn là Nại hà, năm là Dương minh, sáu là Tu-càn-đề, bảy là Ưu-bát-la, tám là Câu-vật-đầu, chín là Phân-đà-lợi, mười là Bát-đầu-ma. Vì sao gọi là địa ngục Hậu vân? Vì tội nhơn trong ngục này tự nhiên sinh ra thân thể như đám mây dày, cho nên gọi là Hậu vân. Vì sao gọi là Vô vân? Vì chúng sanh chịu tội trong ngục này, tự nhiên thân thể sinh ra như một cục thịt nên gọi là Vô vân. Vì sao gọi là Ha-ha? Vì chúng sanh chịu tội trong ngục này, thường thì thân thể đau đớn, rồi rên la ‘ối ối!’, nên gọi là Ha ha. Vì sao gọi là Nại hà? Vì chúng sanh chịu tội trong ngục này, thường thân thể đau khổ vô cùng, không có nơi nương tựa, nên thốt lên ‘Sao bây giờ!’, nên gọi là Nại hà! Vì sao gọi là Dương minh? Vì chúng sanh chịu tội trong ngục này, thường thân thể, đau đớn vô cùng, muốn thốt lên lời nhưng lưỡi không cử động được, chỉ giống như Dê kêu, nên gọi là Dương minh. Vì sao gọi là Tu-càn-đề? Vì trong ngục này chỉ toàn là màu đen, cũng như màu hoa Tu-càn-đề, nên gọi là Tu-càn-đề. Vì sao gọi là Ưu-bát-la? Vì trong ngục này chỉ toàn là màu xanh, như màu hoa ưu-bát-la, nên gọi là ưu-bát-la. Vì sao gọi là Câu-vật-đầu? Vì trong ngục này toàn là màu hồng, như màu hoa câu-vật-đầu, nên gọi là câu-vật-đầu. Vì sao gọi là Phân-đà-lợi? Vì trong ngục này toàn là màu trắng, như màu hoa phân-đà-lợi, nên gọi là phân-đà-lợi. Vì sao gọi là Bát-đầu-ma? Vì trong ngục này toàn là màu đỏ, cũng như màu hoa bát-đầu-ma, nên gọi là bát-đầu-ma.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Thí dụ như có một cái thùng có sáu mươi bốn hộc, mỗi hộc đựng đầy hạt mè, và có một người cứ một trăm năm lấy đi một hột, như vậy cho đến hết. Thời gian này vẫn chưa bằng thời gian chịu tội trong địa ngục Hậu vân. Chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Hậu vân bằng một tuổi ở địa ngục Vô vân; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Vô vân bằng chúng sanh một tuổi ở địa ngục Ha-ha; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Ha-ha, bằng chúng sanh một tuổi ở địa ngục Nại hà; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Nại hà, bằng chúng sanh một tuổi ở địa ngục Dương minh; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Dương minh bằng một tuổi ở ngục Tu-càn-đề; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Tu-càn-đề, bằng một tuổi ở địa ngục Ưu-bát-la; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Ưu-bát-la, bằng một tuổi ở địa ngục Câu-vật-đầu; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Câu-vật-đầu, bằng một tuổi ở địa ngục Phân-đà-lợi; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Phân-đà-lợi, bằng một tuổi ở địa ngục Bát-đầu-ma; chúng sanh hai mươi tuổi ở địa ngục Bát-đầu-ma, thì gọi là một trung kiếp; hai mươi trung kiếp thì gọi là một đại kiếp.
“Trong địa ngục Bát-đầu-ma lửa cháy hừng hực, dù tội nhơn chỉ còn cách ngọn lửa khoảng trăm do-tuần cũng đã bị lửa thiêu nướng; nếu cách tội nhơn sáu mươi do-tuần, thì hai tai bị điếc, không còn nghe gì cả; nếu cách năm mươi do-tuần, thì đôi mắt bị mù lòa, không còn thấy gì cả. Tỳ-kheo Cù-ba-lê dùng tâm độc ác, hủy báng Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, nên sau khi mạng chung phải đọa vào địa ngục Bát-đầu-ma này.”
Bấy giờ, vị Phạm vương liền nói bài kệ:
Phàm con người ở đời,
Búa rìu từ cửa miệng;
Sở dĩ giết chết mình,
Là do lời nói độc.
Người đáng chê thì khen,
Người đáng khen thì chê;
Miệng làm theo nghiệp ác.
Thân phải chịu tội ấy.
Mánh lới cướp của cải,
Tội ấy cũng còn nhẹ;
Nếu hủy báng Thánh Hiền,
Thì tội ấy rất nặng.
Vô vân, tuổi trăm nghìn,
Hậu vân, tuổi bốn mốt;
Hủy Thánh mắc tội này,
Do tâm, miệng làm ác.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Vị Phạm thiên đã nói bài kệ như vậy, đó là lời nói chơn chánh, được đức Phật ấn khả. Vì sao? Vì nay Ta là đấng Như Lai, Chí Chơn, Đẳng Chánh Giác, cũng nói ý nghĩa như vậy.
Phàm con người ở đời,
Búa rìu từ cửa miệng;
Sở dĩ giết chết mình,
Là do lời nói độc.
Người đáng chê thì khen,
Người đáng khen thì chê;
Miệng làm theo nghiệp ác.
Thân phải chịu tội ấy.
Mánh lới cướp của cải,
Tội ấy cũng còn nhẹ;
Nếu hủy báng Thánh hiền,
Thì tội ấy rất nặng.
Vô vân, tuổi trăm nghìn,
Hậu vân, tuổi bốn mốt;
Hủy Thánh mắc tội này,
Do tâm, miệng làm ác.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Về phía Nam cõi Diêm-phù-đề, trong núi Đại kim cang có cung điện của vua Diêm-la, chỗ vua cai trị ngang dọc sáu nghìn do-tuần. Thành này có bảy lớp, với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, và vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Tại chỗ vua Diêm-la cai trị, ngày đêm ba thời đều có vạc đồng lớn, tự nhiên xuất hiện trước mặt. Nếu vạc đồng đã xuất hiện ở trong cung thì nhà vua cảm thấy sợ hãi, liền bỏ ra ngoài cung; nếu vạc đồng xuất hiện ngoài cung thì vua cảm thấy sợ hãi, liền bỏ vào trong cung. Có ngục tốt to lớn bắt vua Diêm-la nằm trên bàn sắt nóng, dùng móc sắt cạy miệng cho há ra rồi rót nước đồng sôi vào, làm cháy bỏng môi, lưỡi từ cổ đến bụng, thông suốt xuống dưới, không chỗ nào không chín nhừ. Sau khi chịu tội xong, nhà vua cùng thể nữ vui đùa. Các vị Đại thần ở đây lại cũng cùng hưởng phúc báo như vậy.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba vị sứ giả. Những gì là ba? Một là già, hai là bệnh, ba là chết. Nếu có chúng sanh nào thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, thì sau khi qua đời bị đọa vào địa ngục. Lúc này, ngục tốt dẫn tội nhơn đến chỗ vua Diêm-la. Đến nơi rồi, thưa rằng: ‘Đây là người Thiên sứ cho đòi. Vậy xin Đại vương hỏi cung hắn.’ Vua Diêm-la hỏi người bị tội: ‘Ngươi không thấy sứ giả thứ nhất sao?’ Người bị tội đáp: ‘Tôi không thấy.’ Vua Diêm-la nói tiếp: ‘Khi nhà ngươi còn ở trong loài người, có thấy người nào già nua, đầu bạc, răng rụng, mắt lờ, da thịt nhăn nheo, lưng còm chống gậy, rên rỉ mà đi, hay thân thể run rẩy, vì khí lực hao mòn; ngươi có thấy người này không?’ Người bị tội đáp: ‘Có thấy.’ Vua Diêm-la nói tiếp: ‘Tại sao ngươi không tự nghĩ rằng mình cũng sẽ như vậy?’ Người kia đáp: ‘Vì lúc đó tôi buông lung, không tự hay biết được.’ Vua Diêm-la nói: ‘Ngươi buông lung không tu tập thân, miệng và ý, bỏ ác mà làm lành. Nay Ta sẽ cho ngươi biết cái khổ của sự buông lung.’ Vua lại nói tiếp: ‘Nay ngươi phải chịu tội, không phải là lỗi của cha mẹ, không phải là lỗi của anh em, cũng không phải là lỗi của Thiên đế, cũng không phải là lỗi của tổ tiên, cũng không phải là lỗi của hàng tri thức, đầy tớ, sứ giả; cũng không phải là lỗi của Sa-môn, Bà-la-môn. Chính ngươi làm ác, nên chính ngươi phải chịu tội’.
“Bấy giờ, vua Diêm-la cho hỏi tội nhơn về vị Thiên sứ thứ nhất xong, lại hỏi về Thiên sứ thứ hai: ‘Thế nào, nhà ngươi có thấy vị Thiên sứ thứ hai không?’ Đáp rằng: ‘Không thấy.’ Vua lại hỏi: ‘Khi nhà ngươi còn ở trong loài người, ngươi có thấy kẻ bị bệnh tật, khốn đốn, nằm lăn lóc trên giường, thân thể lăn lộn trên phẫn dãi hôi thối, không thể đứng dậy được; cần phải có người đút cơm cho; đau nhức từng lóng xương, nước mắt chảy, rên rỉ, không thể nói năng được; ngươi có thấy người như thế chăng?’ Tội nhơn đáp: ‘Có thấy.’ Vua Diêm-la nói tiếp: ‘Tại sao nhà ngươi không tự nghĩ: rồi đây ta cũng sẽ bị tai hoạn như vậy?’ Tội nhơn đáp: ‘Vì khi ấy buông lung tôi không tự hay biết được.’ Vua Diêm-la nói tiếp: ‘Vì chính ngươi buông lung, nên không thể tu tập thân, miệng và ý, không bỏ việc ác mà làm điều lành. Nay ta sẽ cho ngươi biết thế nào là cái khổ của sự buông lung.’ Vua lại nói: ‘Nay ngươi phải chịu tội, không phải là lỗi của cha mẹ, không phải là lỗi của anh em, cũng không phải là lỗi của Thiên đế, cũng không phải là lỗi của tổ tiên, cũng không phải là lỗi của hàng tri thức, đầy tớ, sứ giả, cũng không phải là lỗi của Sa-môn, Bà-la-môn. Chính ngươi làm ác, nên chính ngươi phải chịu tội.’
“Khi vua Diêm-la hỏi người bị tội về Thiên sứ thứ hai xong, bấy giờ lại hỏi về Thiên sứ thứ ba: ‘Thế nào, nhà ngươi không thấy vị Thiên sứ thứ ba chứ?’ Đáp: ‘Không thấy.’ Vua Diêm-la hỏi tiếp: ‘Khi còn làm người, ngươi có thấy người chết, thân hư hoại, mạng chung, các giác quan đều bị diệt hẳn, thân thể ngay đơ cũng như cây khô, vứt bỏ ngoài gò mả để cho cầm thú ăn thịt, hoặc để trong quan tài, hoặc dùng lửa thiêu đốt chăng?’ Tội nhơn đáp: ‘Có thấy.’ Vua Diêm-la nói tiếp: ‘Tại sao nhà ngươi không tự nghĩ: rồi đây ta cũng sẽ bị chết như người đó không khác gì?’ Người bị tội đáp: ‘Vì khi ấy buông lung tôi không tự hay biết được.’ Vua Diêm-la nói tiếp: ‘Vì chính ngươi buông lung, nên không thể tu tập thân, miệng và ý, không cải đổi việc ác mà thực hành điều thiện. Nay ta sẽ cho ngươi biết thế nào là cái khổ của sự buông lung.’ Vua lại nói: ‘Nay ngươi phải chịu tội, không phải là lỗi của cha mẹ, không phải là lỗi của anh em, cũng không phải là lỗi của Thiên đế, cũng không phải là lỗi của tổ tiên, cũng không phải là lỗi của hàng tri thức, đầy tớ, sứ giả, cũng không phải là lỗi của Sa-môn, Bà-la-môn. Chính ngươi làm ác, nên chính ngươi phải chịu tội.’ Bấy giờ, vua Diêm-la hỏi về Thiên sứ thứ ba xong, bèn giao lại cho ngục tốt. Khi đó ngục tốt liền dẫn đến địa ngục lớn. Địa ngục lớn này ngang dọc một trăm do-tuần, sâu một trăm do-tuần.”
Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài kệ:
Bốn hướng có bốn cửa,
Ngõ ngách đều như nhau;
Dùng sắt làm tường ngục,
Trên che võng lưới sắt.
Dùng sắt làm nền ngục,
Tự nhiên lửa bốc cháy;
Ngang dọc trăm do-tuần,
Đứng yên không lay động.
Lửa đen phừng phực cháy,
Dữ dội khó mà nhìn;
Có mười sáu ngục nhỏ,
Lửa cháy do ác hạnh.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Khi ấy vua Diêm-la tự nghĩ: ‘Chúng sanh ở thế gian, vì mê lầm không ý thức, nên thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác. Do đó sau khi lâm chung, ít có ai không chịu khổ này. Nếu như những chúng sanh ở thế gian, sửa đổi điều ác, sửa thân, miệng, ý để thực hành theo điều lành, thì sau khi lâm chung sẽ được an vui như hàng Chư Thiên vậy. Sau khi ta lâm chung được sinh vào trong cõi người, nếu gặp được đức Như Lai, thì sẽ ở trong Chánh pháp, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo, đem lòng tin trong sạch để tu hành Phạm hạnh thanh tịnh. Những điều cần làm đã làm xong, đã đoạn trừ sanh tử, tự mình tác chứng ngay trong hiện tại, không còn tái sinh’.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn đọc bài kệ:
Tuy là thấy Thiên sứ,
Nhưng vẫn còn buông lung;
Người ấy thường âu lo
Sanh vào nơi ti tiện.
Nếu người có trí tuệ,
Khi gặp thấy Thiên sứ,
Gần gũi pháp Hiền Thánh,
Mà không còn buông lung.
Thấy thụ sinh mà sợ,
Do sanh, già, bệnh, chết.
Không thụ sinh, giải thoát,
Hết sanh, già, bệnh, chết.
Người đó được an ổn.
Hiện tại chứng vô vi,
Đã vượt qua lo sợ,
Chắc chắn nhập Niết-bàn.
PhẨm 5: LONG ĐIỂU
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn loại rồng. Những gì là bốn? Một, sanh ra từ trứng; hai, sanh ra từ bào thai; ba, sanh ra từ nơi ẩm thấp; bốn, sanh ra từ hóa sinh. Đó là bốn loại rồng.
“Có bốn loại Kim sí điểu. Những gì là bốn? Một, sinh ra từ trứng; hai, sinh ra từ bào thai; ba, sinh ra từ nơi ẩm thấp; bốn, sinh ra từ hóa sinh. Đó là bốn loại Kim sí điểu.
“Ở dưới đáy nước đại dương có cung điện của vua rồng Sa-kiệt, ngang dọc là tám vạn do-tuần. Tường cung điện có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, chung quanh trang hoàng bằng bảy thứ báu,… cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Giữa hai ngọn núi chúa Tu-di cùng núi Khư-đà-la có hai cung điện của vua rồng Nan-đà và Bạt-nan-đà. Mỗi cung điện ngang dọc sáu mươi do-tuần. Tường cung điện có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, chung quanh trang hoàng bằng bảy thứ báu,... cho đến, vô số các loài chim ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Phía Bắc bờ đại dương có một cây lớn tên là Cứu-la-thiểm-ma. Loại cây này cả vua rồng và Kim sí điểu cũng có, gốc cây to bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, tàn cây phủ chung quanh năm mươi do-tuần. Phía Đông của cây lớn này có cung điện của loài vua rồng sinh ra từ trứng, và cung điện của loài Kim sí điểu sinh ra từ trứng. Mỗi cung điện ngang dọc là sáu nghìn do-tuần, tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, chung quanh trang hoàng bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Phía Nam của cây lớn này có cung điện của loài vua rồng sinh ra từ thai, và cung điện của loài Kim-sí điểu sinh ra từ thai. Mỗi cung điện ngang dọc là sáu nghìn do-tuần; tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng cây, chung quanh trang hoàng bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Phía Tây của cây lớn này có cung điện của loài vua rồng sinh ra từ ẩm thấp, và cung điện của loài Kim-sí điểu sinh ra từ nơi ẩm thấp. Mỗi cung điện ngang dọc sáu nghìn do-tuần; tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, chung quanh trang hoàng bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Phía Bắc của cây lớn này có cung điện của loài vua rồng sinh ra từ hóa sinh, và cung điện của loài Kim-sí điểu sinh ra từ hóa sinh. Mỗi cung điện ngang dọc là sáu nghìn do-tuần; tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, chung quanh trang hoàng bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ trứng, nếu muốn bắt loài rồng để ăn, thì từ nhánh phía Đông của cây Cứu-la-diêm-ma-la bay xuống, dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng hai trăm do-tuần, mới bắt loài rồng cũng sinh ra từ trứng để ăn một cách tùy ý tự tại. Nhưng không thể bắt loài rồng được sinh ra từ thai, từ ẩm thấp, từ hóa sinh được.
“Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ thai, nếu muốn bắt loài rồng sinh ra từ trứng để ăn, thì từ nhánh phía Đông cây này bay xuống, dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng hai trăm do-tuần, mới bắt loài rồng sinh ra từ trứng để ăn một cách tùy ý tự tại. Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ thai muốn ăn loài rồng sinh ra từ thai, thì từ nhánh phía Nam của cây này bay xuống, và dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng bốn trăm do-tuần, mới bắt loài rồng cũng sinh ra từ thai để ăn một cách tùy ý tự tại. Nhưng không thể bắt loài rồng sinh ra từ ẩm thấp, từ hóa sinh được.
“Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ ẩm thấp, nếu muốn bắt loài rồng sinh ra từ trứng để ăn, thì từ nhánh phía Đông bay xuống, dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng hai trăm do-tuần, mới bắt loài rồng sinh ra từ trứng để ăn một cách tùy ý tự tại. Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ ẩm thấp, nếu muốn bắt loài rồng sinh ra từ thai để ăn, thì từ nhánh phía Nam cây này bay xuống, dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng bốn trăm do-tuần, thì bắt loài rồng cũng sinh ra từ trứng để ăn một cách tùy ý tự tại. Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ ẩm thấp muốn ăn loài rồng sinh ra từ nơi ẩm thấp, thì từ nhánh phía Tây của cây này bay xuống, và dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng tám trăm do-tuần, thì bắt loài rồng cũng sinh ra từ thai để ăn một cách tùy ý tự tại. Nhưng không thể bắt loài rồng sinh ra từ hóa sinh được.
“Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ hóa sanh, nếu muốn bắt loài rồng sinh ra từ trứng để ăn, thì từ nhánh phía Đông bay xuống, dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng hai trăm do-tuần, thì bắt loài rồng sinh ra từ trứng để ăn một cách tùy ý tự tại. Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ biến hóa, nếu muốn bắt loài rồng sinh ra từ thai để ăn, thì từ nhánh phía Nam cây này bay xuống, dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng bốn trăm do-tuần, thì bắt loài rồng sinh ra từ thai để ăn một cách tùy ý tự tại. Khi nào loài Kim-sí điểu sinh ra từ biến hóa muốn ăn loài rồng sinh ra từ ẩm thấp, thì từ nhánh phía Tây của cây này bay xuống, và dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng tám trăm do-tuần, thì bắt loài rồng sinh ra từ nơi ẩm thấp để ăn. Khi nào Kim-sí điểu sinh ra từ biến hóa, nếu muốn ăn loài rồng sinh ra từ biến hóa, thì từ nhánh phía Bắc cây này bay xuống, dùng đôi cánh quạt nước đại dương; khi nước rẽ ra hai bên rộng một nghìn sáu trăm do-tuần, thì bắt loài rồng sanh ra từ biến hóa để ăn một cách tùy ý tự tại. Đó là loài rồng bị loài Kim-sí điểu ăn thịt.
“Tuy nhiên có những loại rồng lớn mà loài Kim-sí điểu không thể ăn thịt được. Đó là: Vua rồng Sa-kiệt-la, Nan-đà, Bạt-nan-đà, Y-na-bà-la, Đề-đầu-lại-tra, Thiện-kiến, A-lô, Ca-câu-la, Ca-Tỳ-la, A-bà-la, Ca-nậu-đạt, Thiện-trú, Ưu-diệm-ca-bà-đầu, Đắc-xoa-ca. Đó là các loài vua rồng lớn không bị loài Kim-sí điểu bắt ăn thịt.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có chúng sanh nào thọ trì giới rồng, tâm ý nghĩ đến loài rồng, đầy đủ pháp của rồng, thì sẽ sinh về trong loài rồng. Nếu có chúng sanh nào trì giới Kim sí điểu, tâm ý nghĩ đến loài Kim sí điểu, đầy đủ pháp của Kim sí điểu, thì sẽ sinh về trong loài Kim-sí điểu. Hoặc có chúng sanh trì giới của thỏ, tâm ý nghĩ về loài thỏ, cắt; đầy đủ pháp của thỏ, thì sẽ sinh vào loài thỏ, cắt. Hoặc có chúng sanh trì giới của chó, hoặc trì giới của trâu, hoặc trì giới của nai, hoặc trì giới câm, hoặc trì giới Ma-ni-bà-đà, hoặc trì giới lửa, hoặc trì giới mặt trăng, hoặc trì giới mặt trời, hoặc trì giới nước, hoặc trì giới cúng dường lửa, hoặc trì pháp khổ hạnh ô uế. Những người ấy nghĩ rằng: ‘Ta trì pháp câm này, pháp Ma-ni-bà-đà, pháp lửa, pháp mặt trăng, mặt trời, pháp nước, pháp cúng dường lửa, các pháp khổ hạnh; ta trì công đức này là để sinh lên cõi Trời.’ Đây là những thứ tà kiến.”
Phật dạy:
“Ta nói những người tà kiến này chắc chắn sẽ đi vào hai nơi: Hoặc sinh vào địa ngục, hay sinh vào hàng súc sanh. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào có những lý luận như vầy, những quan điểm như vầy: ‘Ngã và thế gian là thường hằng, đây là thật, ngoài ra đều hư dối’, hoặc ‘Ngã và thế gian là không thường hằng, đây là thật, ngoài ra đều hư dối’, hoặc ‘Ngã và thế gian vừa thường vừa là không thường, đây là thật ngoài ra đều hư dối’, hoặc ‘Ngã và thế gian chẳng phải thường cũng chẳng phải không thường, đây là thật ngoài ra đều hư dối’; ‘Ngã và thế gian là hữu biên, đây là thật ngoài ra đều hư dối’, hoặc ‘Ngã và thế gian là vô biên, đây là thật ngoài ra đều hư dối’, hoặc ‘Ngã và thế gian vừa hữu biên vừa vô biên, đây là thật ngoài ra đều hư dối’, hoặc ‘Ngã và thế gian chẳng phải hữu biên cũng chẳng phải vô biên, đây là thật ngoài ra đều hư dối’; ‘Thân tức mạng, đây là thật ngoài ra đều hư dối’ hoặc ‘thân khác mạng khác, đây là thật ngoài ra đều hư dối’, hoặc ‘chẳng phải có mạng chẳng phải không mạng, đây là chắc thật ngoài ra đều là hư dối’; hoặc ‘không mạng không thân, đây là thật ngoài ra đều là hư dối.’
“Hoặc có người nói: ‘Sau khi chết còn tồn tại, đây là thật ngoài ra đều là hư dối.’ Có người nói: ‘Sau khi chết không tồn tại, đây là thật ngoài ra đều là hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Sau khi chết vừa tồn tại vừa không tồn tại, đây là thật ngoài ra đều hư dối.’ Lại có người nói: ‘Sau khi chết chẳng phải tồn tại chẳng phải không tồn tại, đây là thật ngoài ra đều hư dối.’
“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào có những lý luận như vầy, những kiến giải như vầy: ‘Thế gian là thường, đây là lời nói chắc thật ngoài ra đều hư dối’, những người ấy hành với kiến chấp về ngã, kiến chấp về thân, kiến chấp về mạng, kiến chấp về thế gian, cho nên nói rằng: ‘Ngã và thế gian là thường.’ Những ai chủ trương là không thường, những người ấy hành với kiến chấp về ngã, kiến chấp về mạng, kiến chấp về thân, kiến chấp về thế gian cho nên nói rằng: ‘Ngã và thế gian là không thường.’ Những ai chủ trương là vừa thường vừa không thường, những người ấy hành với kiến chấp về ngã, kiến chấp về mạng, kiến chấp về thân, kiến chấp về thế gian, cho nên nói rằng: ‘Thế gian vừa thường vừa vô thường.’ Những ai chủ trương rằng chẳng phải thường cũng chẳng phải vô thường, những người ấy hành với kiến chấp về ngã, có kiến chấp về mạng, có kiến chấp về thân, có kiến chấp về thế gian, cho nên nói rằng: ‘Ngã và thế gian chẳng phải thường chẳng phải vô thường.’
“Những ai chủ trương thế gian là hữu biên, những người ấy hành với kiến chấp về ngã, kiến chấp về mạng, kiến chấp về thân, kiến chấp về thế gian, cho nên nói rằng: ‘Mạng là hữu biên; thân là hữu biên; thế gian là hữu biên.’ Từ lúc mới thụ thai cho đến khi bị vứt bỏ nơi gò mả, thì những gì thuộc về thân bốn đại đều chuyển di như vậy tối đa cho đến bảy đời. Khi các hành thân, mạng đã hết thì ngã nhập vào thanh tịnh tụ, cho nên nói rằng: ‘Ngã là có biên.’ Những người chủ trương ngã và thế gian là vô biên, những người này hành với kiến chấp về ngã, kiến chấp về mạng, kiến chấp về thân, kiến chấp về thế gian, cho nên nói rằng: ‘Mạng là vô biên, thân là vô biên, thế gian là vô biên.’ Từ lúc mới thụ thai cho đến khi bị vứt bỏ nơi gò mả, những gì thuộc về thân bốn đại đều chuyển di như vậy tối đa cho đến bảy đời. Khi các hành thân, mạng đã hết thì ngã nhập thanh tịnh tụ, cho nên nói rằng: ‘Ngã và thế gian là vô biên.’ Những ai chủ trương thế gian này vừa hữu biên vừa vô biên, những người ấy hành với kiến chấp về ngã, kiến chấp về mạng, kiến chấp về thân, kiến chấp về thế gian, cho nên nói rằng: ‘Mạng vừa hữu biên vừa vô biên.’ Từ lúc mới thụ thai cho đến khi bị vứt bỏ nơi gò mả, những gì thuộc về thân bốn đại đều chuyển di như vậy tối đa cho đến bảy đời. Khi các hành thân, mạng đã hết thì ngã nhập thanh tịnh tụ, cho nên nói rằng: ‘Ngã vừa hữu biên vừa vô biên.’ Những ai chủ trương ngã và thế gian là không phải hữu biên không phải vô biên, những người ấy hành với kiến chấp về ngã, kiến chấp về mạng, kiến chấp về thân, kiến chấp về thế gian, cho nên nói rằng: ‘Mạng và thân chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên.’ Từ lúc mới thụ thai cho đến khi bị vứt bỏ nơi gò mả, những gì thuộc về thân bốn đại đều chuyển di như vậy tối đa cho đến bảy đời. Khi các hành thân, mạng đã hết thì ngã nhập thanh tịnh tụ, cho nên nói rằng: ‘Ngã chẳng phải hữu biên chẳng phải là vô biên.’
“Những người chủ trương mạng tức là thân, thì thấy có mạng nơi thân này, và cũng thấy có mạng nơi thân khác, cho nên nói rằng: ‘Mạng tức là thân.’ Những người chủ trương mạng khác với thân, là dở nơi thân này thi thấy có mạng nhưng ở nơ thân khác thì không thấy có mạng, cho nên nói rằng: ‘Mạng khác với thân.’ Những ai chủ trương mạng chẳng phải có, chẳng phải không, thì nơi thân này không thấy có mạng, nơi thân khác lại thấy có mạng, cho nên nói rằng: ‘Chẳng phải có, chẳng phải không.’ Những ai chủ trương không có thân, mạng, thì ở nơi thân này họ không thấy có mạng, cho nên nói rằng: ‘Không có mạng, không có thân.’
“Có người bảo ‘Có tồn tại sau khi chết, vì thấy hiện tại có thân mạng, và đời sau cũng có thân mạng tồn tại, cho nên họ bảo rằng: ‘Co tồn tại sau khi chết.’ Có người bảo ‘Không tồn tại sau khi chết’, vì người này bảo đời hiện tại có mạng, nhưng đời sau không có mạng, cho nên nói rằng: ‘Không tồn tại sau khi chết.’ Có người bảo ‘Vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, vì người ấy bảo đời hiện tại mạng bị đoạn diệt, đời sau mạng tồn tại, cho nên nói rằng: ‘Vừa có mạng của đời khác như vậy, không có mạng của đời khác như vậy.’ Có người bảo ‘Chẳng phải tồn tại chẳng phải không tồn tại sau khi chết’, vì người ấy bảo thân, mạng hiện tại bị đoạn diệt; thân, mạng đời sau bị đoạn diệt, cho nên bảo rằng: ‘Chẳng phải tồn tại chẳng phải không tồn tại sau khi chết’.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Lâu xa về thời quá khứ có vị vua tên là Kính Diện. Một hôm nhà vua tập họp những người mù lại một chỗ và hỏi: ‘Này những người mù từ khi mới sinh, các ngươi có biết con voi không?’ Họ đáp: ‘Tâu đại vương, chúng tôi không biết!’ Nhà vua lại hỏi: ‘Các ngươi có muốn biết hình loại con voi ra sao không?’ Họ đáp: ‘Muốn biết.’ Bấy giờ nhà vua ra lệnh cho người hầu dắt con voi đến, và bảo những người mù này dùng tay của mình sờ thử. Trong đó có người sờ trúng vòi voi, thì vua nói rằng đấy là con voi; có người sờ trúng ngà voi, có người sờ trúng tai voi, có người sờ trúng đầu voi, có người sờ trúng lưng voi, có người sờ trúng bụng voi, có người sờ trúng bắp đùi voi, có người sờ trúng cái chân voi, có người sờ trúng bàn chân voi, có người sờ trúng đuôi voi, thì vua cứ theo chỗ sờ được của họ mà bảo: ‘Đó là con voi.’
“Rồi vua Kính-diện liền ra lệnh dắt voi lui, và hỏi những người mù: ‘Voi giống như cái gì?’ Trong những người mù này, người sờ trúng vòi thì bảo voi giống như cái càng xe bị cong; người sờ trúng ngà thì bảo voi giống như cái chày; người sờ trúng tai thì bảo voi giống như cái nia; người sờ trúng đầu thì bảo voi giống như cái vạc; người sờ trúng lưng thì bảo voi giống như gò đất; người sờ trúng bụng thì bảo voi giống như bức tường; người sờ trúng bắp đùi thì bảo voi giống như gốc cây; người sờ trúng cái chân thì bảo voi giống như trụ cột; người sờ trúng bàn chân thì bảo voi giống như cái cối; người sờ trúng đuôi thì bảo voi giống như cây chổi. Họ tranh cãi nhau về việc đúng sai, người này bảo như vậy, người kia bảo không phải như vậy, vân, vân và vân, vân không dứt, đưa đến việc đấu tranh nhau.
“Lúc ấy nhà vua thấy vậy, hoan hỷ cười to. Rồi thì, vua Kính Diện nói bài tụng:
Những người mù tụ tập,
Tranh cãi tại nơi này,
Thân voi vốn một thể,
Tưởng khác sinh thị phi”.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Các dị học ngoại đạo lại cũng như vậy; không biết Khổ đế, không biết Tập đế, Tận đế, và Đạo đế, sinh ra những kiến giải khác nhau, tranh chấp thị phi với nhau. Họ tự cho mình là đúng, nên đưa đến mọi việc tranh tụng. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào có thể biết như thật về Khổ Thánh đế, khổ Tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế, và Khổ xuất yếu Thánh đế, những vị ấy sẽ tự tư duy, và khéo cùng nhau hòa hợp, cùng một lãnh thọ, cùng một Thầy học, như nước với sữa, thì pháp Phật mới rực rỡ, sống an lạc lâu dài.”
Bấy giờ đức Thế Tôn nói bài kệ:
Nếu người không biết khổ,
Không biết chỗ khổ sinh;
Lại cũng không biết khổ,
Sẽ diệt tận ở đâu;
Lại cũng không thể biết,
Con đường diệt khổ tập;
Thì mất tâm giải thoát,
Tuệ giải thoát cũng mất.
Không thể biết gốc khổ,
Nguồn sanh, già, bệnh, chết.
Nếu biết thật về khổ,
Biết nhân sinh ra khổ;
Cũng biết rõ khổ kia,
Sẽ diệt tận nơi nào;
Lại hay khéo phân biệt,
Con đường diệt khổ tập;
Thì được tâm giải thoát,
Tuệ giải thoát cũng vậy.
Người này chấm dứt được,
Cội gốc của khổ ấm;
Hết sanh, già, bệnh, chết,
Nguồn gốc của thủ, hữu.”
Này các Tỳ-kheo, cho nên các ngươi nên siêng cầu phương tiện tư duy về Khổ Thánh đế, Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế, và Khổ xuất yếu Thánh đế.
PhẨm 6: A-TU-LA
Phật bảo các Tỳ kheo:
“Trong đáy nước biển lớn ở phía Bắc của núi Tu-di, có một thành của La-ha A-tu-la, bề ngang rộng khoảng tám vạn do-tuần, thành của nó có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang điểm chung quanh đều bằng bảy thứ báu tạo thành. Chiều cao của thành là ba nghìn do-tuần, rộng hai nghìn do-tuần. Cửa thành của nó cao một nghìn do-tuần, rộng cũng một nghìn do-tuần. Thành vàng thì cửa bạc, thành bạc thì cửa vàng,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít cũng lại như trên. Tiểu thành, chỗ ngự trị của vị vua A-tu-la này ở ngay trong thành lớn có tên là Luân-thâu-ma-bạt-tra, dọc ngang sáu vạn do-tuần. Thành của nó gồm bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang điểm chung quang bằng bảy thứ báu tạo thành. Thành cao ba nghìn do-tuần, rộng hai nghìn do-tuần. Cửa thành của nó cao hai nghìn do-tuần, rộng một nghìn do-tuần. Thành vàng thì cửa bạc, cửa bạc thì thành vàng,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít cũng lại như trên.
“Ở trong thành này, xây dựng riêng nhà hội nghị có tên là Thất-thi-lị-sa, bảy lớp tường hào, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang điểm chung quanh bằng bảy thứ báu tạo thành. Nền nhà hội nghị hoàn toàn dùng bằng xa cừ; cột nhà, sà nhà hoàn toàn đều dùng bảy báu. Chu vi những trụ cột ở chính giữa một nghìn do-tuần, cao một vạn do-tuần. Ở dưới những trụ cột này có tòa Chánh pháp, dọc ngang bảy trăm do-tuần, đều dùng bảy báu chạm trổ mà thành. Nhà này có bốn cửa, được bao quanh bằng bảy lớp đình thềm lan can, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy báu,… cho đến, các loài chim cùng nhau ríu rít, cũng lại như đã kể.
“Ở phía Bắc nhà hội nghị này có cung điện A-tu-la, dọc ngang một vạn do-tuần. Cung điện có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy báu, cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít, cũng như đã kể.
“Phía Đông nhà hội nghị này có một khu rừng vườn tên là Sa-la, dọc ngang một vạn do-tuần. Vườn có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít, cũng lại như đã kể.
“Phía Nam nhà hội nghị này có một khu vườn rừng tên là Cực diệu, dọc ngang một vạn do-tuần như vườn Sa-la.
“Phía Tây nhà hội nghị có một khu vườn rừng tên là Thiểm-ma, dọc ngang một vạn do-tuần cũng như vườn rừng Sa-la.
“Phía Bắc nhà hội nghị này có một khu vườn rừng, tên là Nhạc lâm, bề ngang một vạn do-tuần cũng như vườn rừng Sa-la.
“Giữa hai khu vườn Sa-la và Cực diệu có cây Trú độ, vây bên dưới là bảy do-tuần cao thì một trăm do-tuần, cành lá vươn ra bốn phía cỡ năm mươi do-tuần, cây có bảy lớp bờ tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít, cũng lại như đã kể. Lại nữa, giữa hai khu vườn Thiểm-ma và Nhạc-lâm này có ao Bạt-nan-đà, nước của nó trong mát, không có cáu bẩn, hào báu bảy lớp, chung quanh cạnh thềm là bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Ở trong ao này sinh ra bốn loài hoa, lá hoa bề ngang rộng một do-tuần, hương thơm bay phảng phất cũng một do-tuần; rễ như ổ trục xe, nhựa của nó lưu xuất ra có màu trắng như sữa, vị ngọt như mật, và vô số các loài chim cùng nhau hót líu lo. Hơn nữa, bên cạnh ao này có bảy lớp đình thềm, bảy lớp tường cửa, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Cung điện thần hạ của vua A-tu-la, dọc ngang một vạn do-tuần, rồi chín nghìn, tám nghìn, và cho đến cung điện nhỏ nhất là một nghìn do-tuần. Cung điện có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Cung điện của Tiểu A-tu-la, dọc ngang một nghìn do-tuần, rồi chín trăm, tám trăm, và cho đến cung điện cực nhỏ là một trăm do-tuần. Cung điện có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Phía Bắc nhà hội nghị có bảy đường cấp báu dẫn vào trong cung điện; lại có đường cấp dẫn đến vườn Sa-la; có đường cấp dẫn đến vườn Cực diệu; có đường dẫn đến vườn Thiểm-ma; có đường cấp dẫn đến vườn Nhạc lâm; có đường cấp dẫn đến cây Trú độ; có đường cấp dẫn đến ao Bạt-nan-đà; có đường cấp dẫn đến cung điện Đại thần; có đường cấp dẫn đến cung điện của Tiểu A-tu-la.
“Nếu khi nào vua A-tu-la muốn đến vườn Sa-la để ngoạn cảnh, chỉ cần nghĩ đến vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa , khi ấy vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa lại tự nghĩ rằng: ‘Vua La-ha A-tu-la đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng vô số người hầu kẻ hạ vây quanh theo sau, đến trước vua La-ha A-tu-la, đứng một bên.
“Lại khi Vua A-tu-la lại nghĩ đến vua Ba-la-ha A-tu-la, thì vua Ba-la-ha A-tu-la nghĩ rằng: ‘Nay vua đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số kẻ hầu người hạ vây quanh theo sau đến đứng một bên trước vua La-ha.
“Khi vua A-tu-la lại nghĩ đến vua A-tu-la Thiểm-ma , thì vua A-tu-la Thiểm-ma lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay Vua đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị đóng ngựa vào xe báu, cùng vô số kẻ hầu người hạ vây quanh theo sau, đến đứng một bên trước vua La-ha.
“Khi vua lại nghĩ đến Đại thần của vua A-tu-la, thì Đại thần của A-tu-la lại nghĩ rằng: ‘Nay Vua đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị đóng ngựa vào xe báu, cùng vô số kẻ hầu người hạ vây quanh theo sau, đến đứng một bên trước vua La-ha. Lúc này, vua lại nghĩ đến Tiểu A-tu-la, thì Tiểu A-tu-la lại nghĩ rằng: ‘Nay Vua đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị cùng mọi người đến đứng một bên trước vua La-ha.
“Lúc này, vua La-ha mình mặc áo báu, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số mọi người vây quanh trước sau đến trong rừng Sa-la, tự nhiên có gió thổi cửa tự mở, tự nhiên gió thổi đất sạch, tự nhiên gió thổi hoa rụng xuống đất, ngập đến đầu gối. Sau khi vua La-ha vào vườn này rồi, cùng nhau vui đùa từ một ngày, hai ngày,… cho đến bảy ngày. Sau khi vua đùa xong, liền trở về lại cung điện mình. Sau đó việc ngoạn cảnh đối với vườn Cực diệu, vườn Thiểm-ma, vườn Nhạc lâm, cũng lại như vậy. Lúc này, vua La-ha luôn luôn có năm Đại A-tu-la hầu cận và bảo vệ hai bên: một tên là Đề Trì, hai tên là Hùng Lực, ba tên là Võ Di, bốn tên là Đầu Thủ, năm tên là Tồi Phục. Năm Đại A-tu-la này luôn luôn hầu cận bảo vệ hai bên. Cung điện của vua La-ha này ở dưới nước biển lớn. Nước biển ở trên được duy trì bởi bốn thứ gió: một là trụ phong, hai là trì phong, ba là bất động, bốn là kiên cố; chúng giữ cho nước biển lớn, treo ngược giữa hư không, giống như mây nổi, cách cung điện A-tu-la một vạn do-tuần, không bao giờ bị rớt. Oai thần, công đức, và phước báo của vua A-tu-la là như vậy.”
PhẨm 7: TỨ THIÊN VƯƠNG
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Cách phía Đông Tu-di sơn vương một nghìn do-tuần có thành của Đề-đầu-lại-tra Thiên vương tên là Hiền Thượng, dọc ngang sáu nghìn do-tuần. Thành này có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, có vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như đã kể.
“Cách phía Nam Tu-di sơn vương một nghìn do-tuần có thành của Tỳ-lâu-lặc Thiên vương tên là Thiện Kiến, dọc ngang sáu nghìn do-tuần. Thành này có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, có vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Cách phía Tây Tu-di sơn vương một nghìn do-tuần có thành Tỳ-lâu-bà-xoa Thiên vương, tên là Chu-la Thiện kiến, dọc ngang sáu nghìn do-tuần. Thành có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, có vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Cách phía Bắc Tu-di sơn vương một nghìn do-tuần có thành của Tỳ-sa-môn Thiên vương. Vua có ba thành: một tên là Khả úy, hai là Thiên kính, ba là Chúng qui; mỗi thành dọc ngang sáu nghìn do-tuần. Thành này có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, có vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Phía Bắc thành Chúng qui có vườn rừng, tên là Già-Tỳ-diên-đầu, dọc ngang bốn nghìn do-tuần, tường của vườn có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, có vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Ở quãng giữa vườn và thành có ao tên là Na-lân-ni rộng bốn mươi do-tuần. Nước của nó lắng trong không bợn nhơ. Ven hồ được lát bằng mương nước được làm bằng bảy báu; bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu; hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, lẫn lộn màu sắc ở trong đó, ánh sáng phản chiếu cả nửa do-tuần, hương thơm phảng phất nghe khắp cả nửa do-tuần. Vả lại rễ của nó lớn như ổ trục xe. Nhựa của nó lưu xuất ra màu trắng như sữa, và có vị ngọt như mật,… cho đến, có vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Trừ cung điện mặt trời, mặt trăng ra, cung điện của các Tứ thiên vương, rộng độ bốn mươi do-tuần. Tường cung điện có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến có vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Các cung điện này rộng bốn mươi do-tuần, hai mươi do-tuần, và nhỏ nhất bề ngang rộng năm do-tuần. Từ thành Chúng qui có đường cấp báu dẫn đến thành Hiền thượng; lại có đường cấp dẫn đến thành Thiện kiến; lại có đường cấp dẫn đến thành Châu-la Thiện kiến; lại có đường cấp dẫn đến thành Khả úy, thành Thiên kính; lại có đường cấp dẫn đến vườn Già-Tỳ-diên-đầu; lại có đường cấp dẫn đến ao Na-lân-ni, lại có đường cấp dẫn đến cung điện Đại thần của Tứ thiên vương.
“Khi Tỳ-Sa-môn thiên vương muốn đến ngoạn cảnh tại vườn Già-Tỳ-diên-đầu, thì lập tức nghĩ đến Đề-đầu-lại Thiên vương; Đề-đầu-lại Thiên vương lại nghĩ rằng: ‘Hiện tại Tỳ-Sa-môn Thiên vương đang nghĩ đến ta.’ Liền tự mình sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số thần Càn-thát-bà vây quanh trước sau, đến đứng một bên trước Tỳ-Sa-môn Thiên vương. Khi vua Tỳ-Sa-môn nghĩ đến Tỳ-lâu-lặc Thiên vương, thì Tỳ-lâu-lặc Thiên vương lại tự nghĩ rằng: ‘Nay vua Tỳ-Sa-môn đang nghĩ đến ta.’ Liền tự mình sửa soạn trang bị đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số thần Cứu-bàn-trà vây quanh trước sau, đến đứng một bên trước Tỳ-Sa-môn Thiên vương. Khi vua Tỳ-Sa-môn nghĩ đến Tỳ-lâu-bà-xoa, thì Tỳ-lâu-bà-xoa lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện tại Tỳ-Sa-môn Thiên vương đang nghĩ đến ta.’ Liền tự mình sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số Long thần vây quanh trước sau, đến đứng một bên trước vua Tỳ-sa-môn. Khi vua Tỳ-Sa-môn nghĩ đến Đại thần của Tứ thiên vương, thì Đại thần của Tứ thiên vương lại tự nghĩ rằng: ‘Nay vua Tỳ-Sa-môn đang nghĩ đến ta.’ Liền tự mình sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng dẫn theo với vô số Chư Thiên, đến đứng một bên trước Tỳ-Sa-môn Thiên vương.
“Lúc này, Tỳ-Sa-môn Thiên vương liền sửa soạn trang bị, mặc y báu, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số trăm nghìn thiên thần đến vườn Tỳ-diên-đầu, tự nhiên có gió thổi cửa tự mở, tự nhiên có gió thổi sạch đất, tự nhiên có gió thổi hoa rụng khắp mặt đất, ngập đến đầu gối. Nhà vua ở trong vườn này cùng nhau vui đùa, từ một ngày, hai ngày,… cho đến bảy ngày; sau khi ngoạn cảnh xong trở về cung điện của mình. Vua Tỳ-Sa-môn luôn luôn có năm vị đại quỷ thần hầu cận bảo vệ hai bên: một là Bát-xà-lâu, hai là Đàn-đà-la, ba là Hê-ma-bạt-đề, bốn là Đề-kệ-la, năm là Tu-dật-lộ-ma, năm vị quỷ thần này luôn luôn theo hầu bảo vệ. Oai thần, công đức, phước báo của vua Tỳ-Sa-môn là như vậy.”
PhẨm 8: ĐAO-LỊ THIÊN
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Trên đỉnh Tu-di sơn vương có thành của trời Tam Thập Tam. Thành dọc ngang rộng tám vạn do-tuần; có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Thành cao một trăm do-tuần, phần trên rộng sáu mươi do-tuần. Cửa thành cao sáu mươi do-tuần, rộng ba mươi do-tuần. Cách nhau năm trăm do-tuần là có một cái cửa; tại mỗi cửa này có năm trăm quỷ thần giữ gìn bảo vệ trời Tam Thập Tam. Thành bằng vàng thì cửa bằng bạc, thành bạc thì cửa vàng,… cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót bi thương, cũng lại như vậy.
“Trong thành lớn này lại có thành nhỏ, dọc ngang rộng sáu vạn do-tuần. Thành có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Thành cao một trăm do-tuần, rộng sáu mươi do-tuần. Cửa thành cách nhau năm trăm do-tuần, cao sáu mươi do-tuần, rộng ba mươi do-tuần; tại mỗi cửa thành có năm trăm quỷ thần thị vệ tại bên cửa, để giữ gìn trời Tam Thập Tam. Thành bằng vàng thì cửa bằng bạc, thành bằng bạc thì cửa bằng vàng; thành bằng thủy tinh thì cửa bằng lưu ly, thành bằng lưu ly thì cửa bằng thủy tinh; thành bằng xích châu thì cửa bằng mã não, thành bằng mã não thì cửa bằng xích châu; thành bằng xa cừ thì cửa bằng các thứ báu khác.
“Về lan can này: nếu lan can bằng vàng thì tam cấp bằng bạc, lan can bằng bạc thì tam cấp bằng vàng; lan can bằng thủy tinh thì tam cấp bằng lưu ly, lan can bằng lưu ly thì tam cấp bằng thủy tinh; lan can bằng xích châu thì tam cấp bằng mã não, lan can bằng mã não thì tam cấp bằng xích châu; lan can bằng xa cừ thì tam cấp bằng các thứ báu khác. Trên những lan can này có lưới báu; dưới lưới vàng thì treo linh bạc, dưới lưới bạc thì treo linh vàng; lưới bằng lưu ly thì treo linh bằng thủy tinh, lưới bằng thủy tinh thì treo linh bằng lưu ly; lưới bằng xích châu thì treo linh bằng mã não, lưới bằng mã não thì treo linh bằng xích châu; lưới bằng xa cừ thì treo linh bằng các thứ báu khác. Về cây vàng: nếu rễ vàng, cành vàng thì lá hoa bằng bạc ròng. Về cây bạc: nếu rễ bạc, cành bạc thì lá hoa bằng vàng ròng. Về cây thủy tinh: nếu rễ, cành bằng thủy tinh thì lá, hoa bằng lưu ly. Về cây lưu ly: nếu rễ, cành bằng lưu ly thì lá hoa bằng thủy tinh. Về cây xích châu: nếu rễ, cành bằng xích châu thì lá hoa bằng mã não. Về cây mã não: nếu rễ, cành bằng mã não thì lá hoa bằng xích châu. Về cây xa cừ: nếu rễ, cành bằng xa cừ thì lá hoa bằng các thứ báu khác.
“Về bảy lớp thành này: thành có bố n cửa, cửa có lan can. Trên bảy lớp thành đều có đền đài, lầu các bao bọc chung quanh, có vườn rừng ao tắm, sinh ra các loài hoa quí nhiều màu sắc xen lẫn nhau, cây báu thành hàng, hoa trái tốt tươi đầy dẫy, hương thơm bay phảng phất khắp nơi làm đẹp lòng mọi người. Có chim le le, chim nhạn, uyên ương, cùng các loài chim kỳ lạ, vô số hàng nghìn loại, cùng nhau ca hót.
“Khoảng giữa bên ngoài thành nhỏ này có cung điện của Long vương Y-la-bát, dọc ngang rộng sáu nghìn do-tuần. Vách tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu… cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Trong thành Thiện kiến này có Thiện pháp đường, dọc ngang một trăm do-tuần; có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Nền nhà hoàn toàn bằng vàng ròng, trên mặt phủ lưu ly. Chu vi những cây cột trong nhà này là mười do-tuần, cao một trăm do-tuần, dưới những trụ cột của ngôi nhà này là nơi đặt ngự tòa của Thiên đế, bề ngang rộng độ một do-tuần, có nhiều màu sắc xen lẫn nhau được tạo thành bởi bảy thứ báu. Ngự tòa này êm ái, mềm mại như lụa trời, và bên tả bên hữu, giáp hai bên tòa, có mười sáu chỗ ngồi.
“Pháp đường này có bốn cửa; chung quanh là lan can bằng bảy thứ báu. Đường cấp của ngôi nhà này dọc ngang năm trăm do-tuần, có bảy lớp cửa ngoài, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu... cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Phía Bắc ngôi nhà Thiện kiến có cung điện Đế Thích, dọc ngang một nghìn do-tuần; tường vách cung điện có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Phía Đông ngôi nhà Thiện kiến có vườn rừng tên là Thô sáp, ngang rộng độ một nghìn do-tuần; tường vách cung điện có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Trong vườn Thô sáp có hai ụ đá do vàng trời trang sức, một gọi là Hiền, hai gọi là Thiện hiền, bề ngang mỗi ụ rộng năm mươi do-tuần, đá này mềm mại, độ mềm mại của nó như vải trời.
“Phía Nam cung điện Thiện kiến có khu vườn tên là Họa lạc, ngang rộng một nghìn do-tuần; vách tường của khu vườn có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Trong vườn này có hai ụ đá bằng bảy thứ báu, một là Họa, hai là Thiện họa, bề ngang mỗi ụ rộng độ năm mươi do-tuần, ụ đá này mềm mại, độ mềm mại của nó như thiên y.
“Phía Tây ngôi nhà Thiện kiến có khu vườn tên là Tạp, ngang rộng một nghìn do-tuần, bờ tường của khu vườn có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Trong khu vườn này có hai ụ đá, một là Thiện kiến, hai là Thuận thiện kiến, do vàng trời trang sức và do bảy báu tạo thành, bề ngang mỗi ụ rộng độ năm mươi do-tuần, ụ đá này mềm mại, và độ mềm mại của nó như thiên y.
“Phía Bắc ngôi nhà Thiện kiến có khu vườn tên là Đại hỷ, ngang rộng một nghìn do-tuần, bờ tường của khu vườn có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Trong vườn này có hai ụ đá, một gọi là Hỷ, hai gọi là Đại hỷ, do xa cừ trang sức, ngang rộng năm mươi do-tuần, ụ đá này mềm mại, độ mềm mại của nó như thiên y.
“Ở quãng giữa vườn Thô sáp và vườn Họa lạc có ao Nan-đà, ngang rộng một trăm do-tuần; nước của nó lắng trong, không có một chút bợn nhơ, chung quanh bên cạnh thềm là bảy lớp hào báu, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Bốn phía hồ này có bốn bậc thang, chung quanh lan can làm bằng bảy báu,… cho đến có vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Lại nữa trong ao này lại sinh ra bốn loại hoa xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, xanh nhạt, nhiều màu xen lẫn nhau; bóng rợp của một lá hoa này che một do-tuần; hương thơm phảng phất khắp một do-tuần; rễ của nó như ổ trục xe, nhựa của nó lưu xuất ra có màu trắng như sữa, vị ngọt như mật. Bốn phía ao này lại có những khu vườn.
“Giữa hai khu vườn Tạp và khu vườn Đại hỷ có cây tên là Trú độ, chu vi độ bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá bao trùm ra bốn phía độ năm mươi do-tuần, ngoài cây có ngôi đình trống, bề ngang rộng năm trăm do-tuần, bờ tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Ngoài ra các cung điện khác của Đao-lị thiên, ngang rộng một nghìn do-tuần, tường cung điện có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Những cung điện này ngang rộng từ chín trăm, tám trăm cho đến nhỏ nhất là một trăm do-tuần, bờ tường cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Những cung điện nhỏ, ngang rộng từ một trăm do-tuần, chín mươi, tám mươi, cho đến cực nhỏ là mười hai do-tuần, bờ tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Phía Bắc ngôi nhà Thiện kiến có hai đường cấp dẫn đến cung điện Đế Thích. Phía Đông ngôi nhà Thiện kiến có hai đường cấp dẫn đến khu vườn Thô sáp; lại có hai đường cấp dẫn đến vườn Họa lạc; lại có đường cấp dẫn đến trong khu vườn Tạp; lại có đường cấp dẫn đến khu vườn Đại hỷ; lại có đường cấp dẫn đến ao Đại hỷ; lại có đường cấp dẫn đến cây Trú độ; lại có đường cấp dẫn đến cung điện Tam Thập Tam thiên; lại có đường cấp dẫn đến cung điện Chư thiên; lại có đường cấp dẫn đến cung điện Y-la-bát Long vương.
“Nếu khi Thiên Đế Thích muốn du ngoạn đến trong vườn Thô sáp, liền nghĩ đến vị Đại thần của trời Tam Thập Tam, tức thì Đại thần Tam Thập Tam thiên nghĩ rằng: ‘Hiện nay Đế Thích đang nghĩ đến ta.’ Liền tự mình sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số mọi người vây quanh trước sau đến đứng một bên trước Đế Thích. Khi Đế Thích nghĩ đến Chư thiên khác, thì Chư thiên nghĩ rằng: ‘Hiện nay Đế Thích đang nghĩ đến ta.’ Liền tự mình sửa soạn trang bị, cùng với vô số chúng Chư Thiên theo nhau đến đứng một bên trước Đế Thích. Khi Đế Thích nghĩ đến Y-la-bát Long vương, thì Y-la-bát Long vương lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay Đế Thích đang nghĩ đến ta.’ Long vương liền tự biến hóa thân hình ra ba mươi ba cái đầu, mỗi cái đầu có sáu cái răng, mỗi cái răng có bảy hồ tắm, mỗi hồ tắm có bảy hoa sen lớn,mỗi hoa sen có một trăm lá, mỗi lá hoa có bảy ngọc nữ, ca nhạc, múa xướng, đánh trống, khảy đàn, vỗ nhịp ở trên đó. Sau khi vị Long vương biến hóa như vậy rồi, đi đến đứng một bên trước Đế Thích.
“Lúc này, Thích Đề-hoàn Nhân mặc vào thân mình những đồ trang sức quý báu cùng anh lạc, ngồi trên đầu thứ nhất của Y-la-bát Long vương, kế đó, hai bên mỗi đầu còn có mười sáu vị thiên vương ở trên đỉnh đầu Long vương này, theo thứ tự mà ngồi. Bấy giờ, Thiên đế Thích cùng với vô số quyến thuộc Chư thiên vây quanh đến vườn Thô sáp, tự nhiên có gió thổi cửa tự động mở, tự nhiên có gió thổi khiến cho đất sạch; tự nhiên có gió thổi làm những đóa hoa rơi khắp mặt đất, và tích tụ hoa rụng lại ngập đến cả đầu gối. Lúc này Thiên Đế Thích ngồi trên hai ụ đá Hiền và Thiện hiền theo ý thích, còn Ba mươi ba vị thiên vương mỗi người tự theo thứ tự mà ngồi. Lại nữa, có những Chư thiên không được phép theo hầu để đến tham quan viên quán này, không được vào vườn để vui đùa ngũ dục. Vì sao? Vì công đức mà họ vốn thực hành không đồng. Lại có những Chư thiên thấy được khu vườn mà không vào được, và không được cùng nhau vui đùa ngũ dục. Vì sao? Vì công đức mà họ vốn thực hành không đồng. Lại có những Chư thiên thấy được, vào được, nhưng không được cùng nhau vui đùa ngũ dục. Vì sao? Vì công đức mà họ vốn thực hành không đồng. Lại có những Chư thiên vào được, thấy được, và vui đùa ngũ dục được. Vì sao? Vì công đức mà họ vốn thực hành đồng nhau.
“Sau thời gian du hí trong vườn, Chư thiên đã tự vui ngũ dục, từ một ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày, họ đã cùng nhau vui đùa xong, và mỗi người tự trở về cung điện. Khi Thiên đế Thích ngoạn du vườn Họa lạc, vườn Tạp, vườn Đại hỷ cũng lại như vậy.
“Vì sao gọi là vườn Thô sáp? Vì lúc vào trong vườn này, thì thân thể trở nên thô nhám. Vì sao gọi là vườn Họa lạc? Vì lúc vào vườn này, thì thân thể tự nhiên có những sắc màu như vẽ dùng để vui đùa. Vì sao gọi là vườn Tạp? Vì thường những ngày mùng tám, ngày mười bốn, ngày mười lăm của mỗi tháng, ngoại trừ người nữ A-tu-la, các thể nữ được thả tự do để cùng các Thiên tử ở trong vườn này cùng du hí hỗn tạp với nhau, cho nên gọi là vườn Tạp. Vì sao gọi là vườn Đại hỷ? Vì lúc vào vườn này, thì có thể vui đùa một cách hoan hỷ, cho nên gọi là Đại hỷ. Vì sao gọi là nhà Thiện pháp? Vì ở trên ngôi nhà này mà tư duy về pháp vi diệu, nhận lãnh cái vui thanh tịnh, cho nên gọi là nhà Thiện pháp. Vì sao gọi là cây Trú độ? Vì cây này có vị thần tên là Mạn-đà thường thường tấu nhạc để tự vui đùa, cho nên gọi là Trú độ. Lại nữa, cành nhánh của cây lớn này vươn ra bốn phía, hoa lá rậm rạp tốt tươi như đám mây báu lớn, cho nên gọi là Trú độ.
“Hai bên tả hữu của Thích Đề-hoàn Nhân thường có mười đại Thiên tử theo sau để hầu hạ và bảo vệ đó là: một tên là Nhân-đà-la, hai tên là Cù-di, ba tên là Tỳ-lâu, bốn tên là Tỳ-lâu-bà-đề, năm tên là Đà-la, sáu tên là Bà-la, bảy tên là Kỳ-bà, tám tên là Linh-hê-nậu, chín tên là Vật-la, mười tên là Nan-đầu. Thích Đề-hoàn nhân có thần lực lớn và oai đức như vậy.
Các loại hoa mọc trong nước mà người Diêm-phù-đề quí như: Ưu-bát-la, Bát-đầu-ma, Câu-vật-đầu, Phân-đà-lợi, Tu-càn-đầu, hương thơm của chúng thanh khiết nhẹ nhàng. Cũng vậy, các loại hoa mọc ra trên đất liền; đó là: Giải thoát hoa, Đảm-bặc-hoa, Bà-la-đà-hoa, Tu-mạn-châu-na hoa, Bà-sư hoa, Đồng nữ hoa. Giống như những hoa sinh ra ở nước, ở đất liền, thì những hoa sinh ra ở Câu-da-ni, Uất-đan-viết, Phất-vu-đãi, Long cung, Kim sí điểu cung cũng lại như vậy. Những hoa sinh ra ở trong thủy cung của A-tu-la: Hoa Ưu-bát-la, hoa Bát-đầu-ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân-đà-lợi, hương thơm của chúng nhẹ nhàng thanh khiết. Những hoa sinh ra nơi đất liền: hoa Thù-hảo, hoa Tần-phù, hoa đại Tần-phù, hoa Già-già-lợi, hoa đại Già-già-lợi, hoa Mạn-đà-la, hoa đại Mạn-đà-la. Những hoa sinh ra ở nước, ở đất liền này được Tứ thiên vương, Tam Thập Tam thiên, Diễm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa Tự Tại thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên yêu quý cũng lại như vậy.
“Cõi Trời có mười loại pháp; đó là: một, bay đi không hạn số; hai, bay đến không hạn số; ba, đi vô ngại; bốn, đến vô ngại; năm, thân Trời không có da, xương, gân, mạch, máu, thịt; sáu, thân không có việc đại, tiểu tiện bất tịnh; bảy, thân không mệt nhọc; tám, thiên nữ không sinh đẻ; chín, mắt Trời không nháy; mười, thân tùy thuộc vào màu sắc của ý mình, như thích xanh thì hiện xanh, thích vàng thì vàng, đỏ, trắng và các màu khác tùy theo ý mình mà hiện. Đó là mười pháp của Chư thiên.
“Con người có bảy màu sắc, đó là: Có người màu lửa, có người màu xanh, có người màu vàng, có người màu đỏ, có người màu đen, có người màu trắng. Chư thiên, A-tu-la cũng có bảy màu sắc như vậy.
“Các Tỳ-kheo, ánh sáng của con đom đóm không bằng đèn, nến; ánh sáng của đèn, nến không bằng bó đuốc; ánh sáng của bó đuốc không bằng đống lửa; ánh sáng của đống lửa không bằng ánh sáng của sắc thân, y phục, anh lạc, thành quách, cung điện của Tứ thiên vương; ánh sáng của sắc thân, y phục, anh lạc, thành quách, cung điện của Tứ thiên vương không bằng ánh sáng của Tam Thập Tam thiên; ánh sáng của Tam Thập Tam thiên không bằng ánh sáng của Diệm-ma thiên; ánh sáng của Diệm-ma thiên không bằng ánh sáng của Đâu-suất thiên, ánh sáng của Đâu-suất thiên không bằng ánh sáng của Hóa Tự Tại thiên; ánh sáng của Hóa Tự Tại thiên không bằng ánh sáng của Tha Hóa Tự Tại thiên; ánh sáng của Tha Hóa Tự Tại thiên không bằng ánh sáng của sắc thân, y phục, cung điện Phạm-ca-di thiên; ánh sáng của sắc thân, y phục, cung điện Phạm-ca-di thiên không bằng ánh sáng của Quang Âm thiên; ánh sáng của Quang Âm thiên không bằng ánh sáng của Biến Tịnh thiên; ánh sáng của Biến Tịnh thiên không bằng ánh sáng của Quả thật thiên; ánh sáng của Quả thật thiên không bằng ánh sáng của Vô tưởng thiên; ánh sáng của Vô tưởng thiên không bằng ánh sáng của Vô phiền thiên thiên; ánh sáng của Vô phiền thiên không bằng ánh sáng của Vô nhiệt thiên; ánh sáng của Vô nhiệt thiên không bằng ánh sáng của Thiện kiến thiên; ánh sáng của Thiện kiến thiên không bằng ánh sáng của Thiện hiện thiên; ánh sáng của Thiện hiện thiên không bằng ánh sáng của Sắc cứu cánh thiên; ánh sáng của Sắc cứu cánh thiên không bằng ánh sáng của Tha Hóa Tự Tại thiên; ánh sáng của Tha Hóa Tự Tại thiên không bằng ánh sáng của Phật. Từ ánh sáng của con đom đóm đến ánh sáng của Phật, mà kết hợp những thứ ánh sáng như vậy lại, thì cũng không bằng ánh sáng của Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, và Đạo đế. Cho nên, các Tỳ-kheo, muốn tỳm cầu ánh sáng, thì phải cầu ánh sáng của Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, và Đạo đế. Các ngươi nên như vậy mà tu hành.
“Thân người ở cõi Diêm-phù-đề cao ba khủy tay rưỡi; y (phục) dài bảy khủy tay, rộng ba khủy tay rưỡi. Thân người ở Cù-da-ni, Phất-vu-đãi cũng cao ba khủy tay; y (phục) dài bảy khủy tay, rộng ba khủy tay rưỡi. Thân người Uất-đan-viết cao bảy khủy tay; y dài mười bốn khủy tay, rộng bảy khủy tay. Thân A-tu-la cao một do-tuần; y dài hai do-tuần, rộng một do-tuần, y dày sáu lạng. Thân của Tứ thiên vương cao nửa do-tuần; y dài một do-tuần, rộng nửa do-tuần, y dày nửa lạng. Thân của Đao-lị thiên cao một do-tuần; y dài hai do-tuần, rộng một do-tuần, y dày sáu lạng. Thân của Diệm-ma thiên cao hai do-tuần; y dài bốn do-tuần, rộng hai do-tuần, y dày ba lạng. Thân của Đâu-suất thiên cao bốn do-tuần; y dài tám do-tuần, rộng bốn do-tuần, y dày một lạng rưỡi. Hóa Tự Tại thiên cao tám do-tuần; y dài mười sáu do-tuần, rộng tám do-tuần, y dày một lạng. Thân của Tha Hóa Tự Tại thiên cao mười sáu do-tuần; y dài ba mươi hai do-tuần, rộng mười sáu do-tuần, y dày nửa lạng. Từ Chư thiên trở lên, mỗi nơi tùy theo thân hình của họ mà mặc y phục.
“Tuổi thọ của người Diêm-phù-đề là một trăm năm, ít ai vượt qua khỏi; mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của người Câu-da-ni là hai trăm năm, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của người Phất-vu-đãi là ba trăm năm, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của người Uất-đan-viết là một nghìn năm, không có tăng hay giảm. Tuổi thọ của ngạ quỷ là bảy vạn năm, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của loài rồng, và kim sí điểu là một kiếp, hoặc có giảm đi. Tuổi thọ của A-tu-la là một nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Tứ thiên vương là năm trăm năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Đao-lị thiên là một nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Diệm-ma thiên là hai nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Đâu-suất thiên là bốn nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Hóa Tự Tại thiên là tám nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Tha Hóa Tự Tại thiên là sáu nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Phạm-ca-di thiên là một kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Quang Âm thiên là hai kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Biến Tịnh thiên là ba kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Quả thật thiên là bốn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Vô tưởng thiên là năm trăm kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Vô tạo thiên là một nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Vô nhiệt thiên là hai nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Thiện kiến thiên là ba nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Đại Thiện kiến thiên là bốn nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Sắc cứu cánh thiên là năm nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Không vô biên xứ thiên là một vạn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Thức vô biên xứ thiên là hai vạn một nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Vô sở hữu xứ thiên là bốn vạn hai nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Phi tưởng phi phi tưởng thiên là tám vạn bốn nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Trong giới hạn ấy, được gọi là chúng sanh; trong giới hạn ấy được gọi là tuổi thọ; trong giới hạn ấy được gọi là thế giới; trong giới hạn ấy là sự luân chuyển của tập hợp uẩn, xứ, giới, qua lại trong các cõi, sanh, già, bịnh, chết.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tất cả chúng sanh do bốn loại thức ăn mà tồn tại. Một là đoàn thực có thô có tế. Hai là xúc thực. Ba là ý tư thực. Bốn là thức thực. Những loại thức ăn này chúng sanh ăn không giống nhau. Như người cõi Diêm-phù-đề dùng các loại cơm, bột, cá thịt, gọi là loại đoàn thực. Y phục, tắm giặt, được gọi là tế hoạt thực. Người Câu-da-ni, Phất-vu-đãi cũng ăn các loại cơm, bột, cá thịt được gọi là đoàn thực; y phục, tắm giặt là tế hoạt thực. Người Uất-đan-viết thì chỉ ăn lúa gạo chín tự nhiên, đầy đủ vị trời lấy là đoàn thực; cũng lấy y phục, tắm giặt làm tế hoạt thực. Loài rồng, kim sí điểu, thì ăn các con giải, con đà, con cá, con ba-ba lấy làm đoàn thực, và tắm gội, y phục làm tế hoạt thực. A-tu-la thì ăn đoàn thực sạch lấy làm đoàn thực, và lấy tắm giặt, y phục làm tế hoạt thực. Tứ thiên vương, Đao-lị thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa Tự Tại thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên ăn loại đoàn thực sạch lấy làm đoàn thực, và tắm giặt, y phục làm tế hoạt thực. Chư thiên từ đây trở lên dùng hỷ lạc thiền định làm thức ăn.
“Những chúng sanh nào dùng xúc thực? Những chúng sanh, sinh ra từ trứng dùng xúc thực.
“Những chúng sanh nào dùng ý tư thực? Có chúng sanh nhờ vào ý tư thực mà được tồn tại, tăng trưởng các căn, tuổi thọ không dứt, đó là ý tư thực.
“Những chúng sanh nào dùng thức thực? Những chúng sanh ở địa ngục và cõi Vô sắc thiên, những loại chúng sanh này dùng thức thực.
“Người cõi Diêm-phù-đề dùng các thứ vàng bạc, đồ quý báu, lúa gạo, lụa là, nô bộc để mưu sinh buôn bán mà tự nuôi sống. Người Câu-da-ni dùng bò, dê, châu báu để trao đổi mà nuôi sống. Người Phất-vu-đãi dùng thóc, vải, châu ngọc để trao đổi mà tự nuôi sống. Người Uất-đan-viết tuy không dùng cách trao đổi nhưng cũng mưu sinh để tự nuôi sống.
“Người cõi Diêm-phù-đề có sự mai mối hôn nhân, con trai lấy vợ, con gái lấy chồng. Người Câu-da-ni, và người Phất-vu-đãi, cũng có mai mối hôn nhân, con trai lấy vợ, con gái lấy chồng. Người Uất-đan-viết, thì không có vấn đề hôn nhân, không có sự lấy chồng, lấy vợ của con trai và con gái. Loài rồng và kim sí điểu cùng A-tu-la, thì cũng có hôn nhân, có giá thú giữa con trai và con gái. Tứ thiên vương, Đao-lị thiên,… cho đến Tha Hóa Tự Tại thiên cũng có hôn nhân, và có giá thú giữa người nam và người nữ. Chư thiên từ đây trở lên không còn có nam và nữ.
“Người cõi Diêm-phù-đề, vì giữa nam và nữ giao hội nhau, thân và thân xúc chạm nhau, nên sanh ra âm dương. Những người Câu-da-ni, người Phất-vu-đãi, người Uất-đan-viết cũng dùng thân với thân xúc chạm nhau nên cũng sanh ra âm dương. Các loài rồng, kim sí điểu cũng dùng thân với thân xúc chạm nhau nên cũng sanh ra âm dương. Loài A-tu-la thì thân với thân gần gũi nhau phát sanh khí mà trở thành âm dương. Tứ thiên vương, Đao-lị thiên thì cũng lại như vậy. Diệm-ma thiên, thì gần gũi nhau mà thành âm dương. Đâu-suất thiên thì cầm tay nhau mà thành âm dương. Hóa Tự Tại thiên thì nhìn kỹ nhau mà thành âm dương. Tha Hóa Tự Tại thiên thì láy mắt nhìn nhau mà thành âm dương. Chư thiên từ đây trở lên thì không còn dâm dục nữa.
“Nếu có chúng sanh nào, với thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, thì sau khi thân hoại mạng chung, sau đó thức người đời diệt mất; thức nê lê bắt đầu sinh ra. Nhân thức nên có danh sắc. Nhân danh sắc nên có sáu xứ. Hoặc có chúng sanh với thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, thì sau khi thân hoại mạng chung, bị đọa vào trong loài súc sanh; sau đó thức người đời bị diệt; thức súc sanh bắt đầu sinh ra; nhân thức nên có danh sắc; nhân danh sắc nên có sáu xứ. Hoặc có chúng sanh với thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, thì sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đọa vào trong ngạ quỷ; sau đó thức người đời bị diệt, thức ngạ quỷ bắt đầu sinh ra; nhân thức nên có danh sắc; nhân danh sắc nên có sáu xứ. Hoặc có chúng sanh với thân làm thiện, miệng nói những lời thiện, ý nghĩ điều thiện, thì sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sinh vào trong cõi người; sau đó thức đời trước diệt, thức loài người bắt đầu sinh ra; nhân thức nên có danh sắc; nhân danh sắc nên có sáu xứ.
“Hoặc có chúng sanh với thân làm thiện, miệng nói lời thiện, ý nghĩ điều thiên, thì sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sinh về cõi Tứ thiên vương; sau đó thức đời trước diệt; thức loài trời Tứ thiên vương bắt đầu sinh ra; nhân thức nên có danh sắc; nhân danh sắc nên có sáu xứ.
“Lúc bắt đầu sinh ở cõi Trời, hình dạng cũng giống hệt như con nít chừng hai, ba tuổi của cõi người này, tự nhiên hóa hiện, ngồi trên đầu gối Trời. Vị Trời ấy liền nói: ‘Đây là con ta.’ Do quả báo của hành vi, nên tự nhiên mà có nhận thức; liền tự nghĩ rằng: ‘Ta do đã làm những gì, mà nay ta sinh ra nơi này?’ Rồi tự nhớ lại: ‘Đời trước ta ở nhân gian, thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện, ý nghĩ điều thiện. Vì đã làm những việc này nên nay được sanh về cõi Trời. Giả như ở đây ta mạng chung, mà sinh vào cõi nhân gian trở lại, thì phải thanh tịnh thân, khẩu, ý, và siêng năng gấp đôi trong việc tu tập các hạnh lành.’ Sau khi sinh ra chưa lâu, hài nhi tự biết đói, lúc ấy tự nhiên trước mặt hài nhi này có đồ để đựng quí, trong đó đựng thức ăn thanh tịnh của cõi Trời, tự nhiên có, đủ cả trăm mùi vị. Nếu phước báo nhiều thì thức ăn màu trắng. Nếu phước báo mà vừa thì thức ăn có màu xanh. Còn nếu phước báo ít thì thức ăn có màu đỏ. Đứa trẻ này dùng tay lấy thức ăn đưa vào miệng, thức ăn tự nhiên tiêu mất, như váng sữa được chế vào trong lửa. Khi đứa trẻ ăn xong, mới tự cảm thấy khát, thì tự nhiên có đồ đựng quý, đựng đầy nước cam lồ. Nếu là người có nhiều phước báo thì nước này có màu trắng; nếu người này phước báo vừa vừa thì nước này có màu xanh; nếu là ngưới có phước báo ít thì nước này có màu đỏ. Đứa trẻ này lấy nước uống; nước tự động tiêu mất như váng sữa được chế vào lửa vậy.
“Đứa trẻ này sau khi ăn uống xong, thì thân thể cao lớn cũng như các chư Thiên khác, liền vào trong hồ nước mà tự mình thưởng thức sự tắm gội rửa ráy. Khi đã tự mình thưởng thức xong thì ra khỏi hồ tắm, đến dưới cây Hương. Cây hương sẽ cong xuống; nó dùng tay lấy các loại hương tự thoa vào thân mình. Sau đó lại đến cây Y kiếp-bối. Cây cong xuống, nó lấy các loại y mặc vào thân mình. Tiếp đến nơi cây Trang nghiêm. Cây cong xuống, nó lấy các thứ đồ trang sức, để tự trang điểm thân. Tiếp đến cây Hoa man, cây nghiêng xuống môït bên, lấy tràng hoa đội lên đầu. Tiếp đến cây Khí, cây nghiêng xuống một bên, để lấy các thứ đồ vật báu. Tiếp đến cây Quả, cây nghiêng xuống một bên, hái trái tự nhiên, hoặc ăn hay ngậm, hoặc lọc nước mà uống. Tiếp đến cây nhạc khí, cây nghiêng xuống một bên, lấy nhạc khí Trời, khảy lên âm thanh trong trẻo vi diệu hòa cùng lời ca. Khi đứa trẻ cõi Trời hướng đến các khu vườn, thì thấy vô số thiên nữ đang khảy đàn đánh trống ca hát nói cười với nhau. Bấy giờ đứa trẻ cõi Trời dạo chơi thấy những cảnh như vậy, bèn sinh lòng đắm nhiễm, nhìn Đông mà quên Tây, nhìn Tây mà quên Đông. Lúc mà đứa trẻ này mới sinh, tự biết mà tự nghĩ rằng: ‘Do hành vi gì mà nay ta được sinh ra nơi này?’ Khi đang dạo chơi xem cảnh nơi kia, thì lại quên hết ý nghĩ này. Thế rồi, liền có thể nữ theo hầu.
“Hoặc có chúng sanh với thân làm thiện, miệng nói lời thiên, ý nghĩ điều thiện, thì sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về cõi Đao-lị thiên; sau đó thức đời trước diệt; thức kia bắt đầu sinh ra; nhân thức này nên có danh sắc, nhân danh sắc nên có sáu xứ. Kẻ mới bắt đầu sinh của cõi Trời kia, giống như đứa trẻ hai hay ba tuổi ở cõi Diêm-phù-đề, tự nhiên biến hiện ra ở trên đầu gối của Trời, và vị Trời ấy nói: ‘Đây là con trai của ta. Đây là con gái của ta.’ Cũng lại như đã kể trên.
“Hoặc có chúng sanh với thân, miệng, ý đều thiện, thì sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về cõi Diệm-ma thiên; kẻ mới bắt đầu sinh của cõi trời kia, giống như đứa trẻ ba, bốn tuổi ở cõi Diêm-phù-đề này.
“Hoặc có chúng sanh với thân, miệng ý đều thiện, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về cõi Đâu-suất thiên; kẻ mới sinh ở cõi Trời này, giống như đứa trẻ bốn, năm tuổi ở thế gian này.
“Hoặc có chúng sanh với thân, miệng, ý đều thiện, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về cõi Hóa-tự-tại thiên; kẻ mới sinh ở cõi Trời này, giống như đứa trẻ năm, sáu tuổi ở thế gian này.
“Hoặc có chúng sanh với thân, miệng, ý đều thiện, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về cõi Tha Hóa Tự Tại thiên; kẻ mới sinh ở cõi Trời này, giống như đứa trẻ sáu, bảy tuổi ở thế gian này, cũng lại như vậy.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Mỗi nửa tháng có ba ngày trai, đó là: ngày mồng tám, ngày mười bốn, và ngày mười lăm. Đó là ba ngày trai. Vì sao trong mỗi nửa tháng lấy ngày mùng tám làm ngày trai? Vì vào ngày mồng tám của mỗi nửa tháng là ngày Tứ thiên vương thường bảo sứ giả rằng: ‘Các ngươi nên đi khảo sát thế gian, xem xét mọi người, có biết hiếu thuận với cha mẹ, có kính thuận với Sa-môn, Bà-la-môn, có tôn kính các bậc trưởng lão, có trai giới, bố thí, có cứu giúp người cùng thiếu hay không?’ Sau khi sứ giả nghe những lời dạy này rồi, liền đi khảo sát khắp trong thiên hạ, để biết có người hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính Sa-môn, Bà-la-môn, kính trọng các bậc trưởng lão, trì giới giữ trai, bố thí cho người cùng thiếu. Sau khi xem xét đầy đủ rồi, thấy có những người bất hiếu với cha mẹ, bất kính sư trưởng, không tu trai giới, không cứu giúp người cùng thiếu, về thưa với nhà vua rằng: ‘Tâu Thiên vương, ở thế gian những người hiếu thuận với cha mẹ, kính trọng sư trưởng, tịnh tu trai giới, giúp đỡ những người cùng thiếu thì rất ít! rất ít!’ Sau khi Tứ thiên vương nghe xong, sầu lo không vui, đáp rằng: ‘Than ôi! nếu người thế gian, có nhiều kẻ ác, bất hiếu với cha mẹ, không kính trọng sư trưởng, không tu tập trai giới, không giúp đỡ người cùng thiếu, thì chúng chư Thiên sẽ tổn giảm, và chúng A-tu luân sẽ tăng thêm.’ Trường hợp nếu sứ giả thấy ở thế gian mà có người hiếu kính mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ người nghèo, thì trở về bạch với Thiên vương rằng: ‘Ở thế gian có người hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ người cùng thiếu.’ Tứ thiên vương sau khi nghe xong rất là hoan hỷ, xướng lên rằng: ‘Lành thay! Ta đã nghe những lời tốt lành, rằng thế gian nếu có những người có thể hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ những người nghèo thiếu, thì chúng chư Thiên sẽ tăng thêm, và chúng A-tu-la sẽ giảm bớt.’
“Vì sao lấy ngày mười bốn làm ngày trai? Vì ngày mười bốn là ngày mà Tứ thiên vương bảo Thái tử rằng: ‘Ngươi nên đi khảo sát khắp thiên hạ, xem xét mọi người, để biết có người hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ người nghèo thiếu hay không?’ Sau khi vâng lời dạy của vua xong, Thái tử liền đi khảo sát thiên hạ, xem xét mọi người, có biết hiếu thuận mẹ cha, tôn trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ người nghèo thiếu hay không. Khi đã quán sát tất cả rồi, nhận thấy thế gian có người không hiếu thuận mẹ cha, không kính sư trưởng, không tu trai giới, không giúp đỡ người nghèo thiếu, trở về thưa vua rằng: ‘Tâu Thiên vương, ở thế gian người hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính sư trưởng, tu hành trai giới thanh tịnh, giúp đỡ những người nghèo thiếu thì rất ít! rất ít!’ Tứ thiên vương nghe xong, sầu lo không vui, bảo rằng: ‘Than ôi! Nếu thế gian có nhiều kẻ ác, không hiếu thuận mẹ cha, không tôn trọng sư trưởng, không tu tập trai giới, không giúp đỡ những người nghèo thiếu, thì chúng Chư Thiên sẽ giảm bớt, chúng A-tu-la sẽ tăng thêm.’ Nếu Thái tử nhận thấy thế gian có người hiếu thuận mẹ cha, tôn kính sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ những người nghèo thiếu, thì liền trở về thưa vua rằng: ‘Tâu Thiên vương, ở thế gian có người hiếu thuận với mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ những người nghèo thiếu.’ Tứ thiên vương nghe xong, lòng rất vui mừng, xướng lên rằng: ‘Lành thay! Ta nghe được những lời tốt lành, là ở thế gian nếu có những người hiếu thuận với mẹ cha, tôn trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ những người nghèo thiếu, thì chúng Chư Thiên sẽ tăng thêm, chúng A-tu-la sẽ giảm bớt.’ Cho nên ngày mười bốn là ngày trai.
“Vì sao lấy ngày mười lăm làm ngày trai? Vì ngày mười lăm là ngày Tứ thiên vương đích thân tự đi khảo sát thiên hạ, xem xét mọi người ở trong thế gian, có hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ những người nghèo thiếu hay không? Nếu nhận thấy người thế gian phần nhiều bất hiếu với mẹ cha, không tôn trọng sư trưởng, không siêng trai giới, không giúp đỡ kẻ nghèo thiếu, Tứ thiên vương đến điện Thiện pháp tâu với Đế Thích: ‘Đại vương biết cho, chúng sanh ở thế gian phần nhiều bất hiếu với mẹ cha, không kính trọng sư trưởng, không tu trai giới, không giúp đỡ kẻ nghèo thiếu!’ Sau khi Đế Thích và Chư Thiên Đao-lị nghe xong lòng buồn lo không vui nói rằng: ‘Than ôi! Nếu chúng sanh ở thế gian phần nhiều là ác, không hiếu thuận mẹ cha, không tôn kính sư trưởng, không tu trai giới, không giúp kẻ cùng thiếu, thì chúng Chư Thiên sẽ giảm bớt, chúng A-tu-la sẽ tăng lên.’ Nếu Tứ thiên vương nhận thấy thế gian có người hiếu thuận với mẹ cha, tôn kính sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ kẻ nghèo thiếu, thì trở về điện Thiện pháp tâu với Đế Thích: ‘Người thế gian có kẻ hiếu thuận với mẹ cha, tôn kính sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp kẻ nghèo thiếu.’ Sau khi Đế Thích và Chư Thiên Đao-lị nghe xong lòng rất là hoan hỷ, xướng lên rằng: ‘Lành thay! Nếu ở thế gian mà có kẻ hiếu thuận mẹ cha, tôn kính sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp kẻ nghèo thiếu, thì chúng chư Thiên sẽ tăng, chúng A-tu-la sẽ giảm.’ Cho nên lấy ngày mười lăm là ngày trai giới. Vì lý do trên nên có ba ngày trai. Bấy giờ, Đế Thích muốn cho Chư Thiên càng thêm hoan hỷ hơn, liền nói bài kệ:
Thường lấy ngày mồng tám,
Mười bốn, rằm mỗi tháng,
Cải hóa, tu trai giới,
Người này đồng với ta.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Đế Thích nói bài kệ này, không phải là khéo thọ, không phải là khéo nói; Ta cũng không ấn khả. Vì sao? Vì Đế Thích chưa dứt hết dâm dục, sân hận, si mê, chưa thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ não. Ta bảo người này chưa lìa khỏi gốc khổ. Tỳ-kheo nào của Ta, nếu lậu hoặc đã hết, đắc A-la-hán, những gì cần làm đã làm xong, đã trút bỏ gánh nặng, đã được tự lợi, đã sạch hết kết sử các hữu, chân chánh giải thoát, thì Tỳ-kheo đó mới đáng nói bài kệ này:
Thường lấy ngày mồng tám,
Mười bốn, rằm mỗi tháng,
Vâng lời tu trai giới,
Người này đồng với ta.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo kia nói bài kệ này mới gọi là khéo thọ, mới gọi là khéo nói, được Ta ấn khả. Vì sao? Vì Tỳ-kheo kia đã dứt sạch dâm dục, sân hận, si mê, đã thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ não. Ta bảo người kia đã lìa khỏi gốc khổ.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tất cả chỗ ở như nhà cửa của mọi người đều có quỷ thần, không có chỗ nào là không có cả. Tất cả mọi đường sá, mọi ngã tư, hàng thịt, chợ búa, cùng bãi tha ma đều có quỷ thần, không có chỗ nào là không có cả. Phàm các loài quỷ thần đều tùy thuộc vào chỗ nương náu mà có tên. Như nếu nương vào người thì gọi là người; nương vào thôn thì gọi là thôn; nương vào thành thì gọi là thành; nương vào nước thì gọi là nước; nương vào đất thì gọi là đất; nương vào núi thì gọi là núi, nương vào sông thì gọi là sông.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tất cả mọi loại cây cối dù là cực nhỏ như trục xe cũng đều có quỷ thần nương tựa, không có chỗ nào là không có. Tất cả mọi người nam, người nữ khi mới bắt đầu sinh ra đều có quỷ thần theo bên ủng hộ; nếu khi nào họ chết thì quỷ thần giữ gìn họ, thu nhiếp tinh khí của họ, nên người này sẽ chết ngay.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Giả như có Phạm-chí ngoại đạo hỏi rằng: ‘Chư hiền! Nếu như tất cả nam nữ khi bắt đầu sinh ra đều có quỷ thần theo bên giữ gìn, ủng hộ; khi người kia sắp chết, quỷ thần giữ gìn ủng hộ kia sẽ thu nhiếp tinh khí họ, thì người này chết. Nhưng tại sao người hiện nay lại có người bị quỷ thần quấy nhiễu, có người không bị quỷ thần quấy nhiễu?’ Nếu có người hỏi câu này, thì các ngươi nên trả lời cho họ rằng: ‘Người thế gian hành động phi pháp, tà kiến điên đảo, tạo ra mười nghiệp ác, những người như vậy, trong trăm hay nghìn mới có một thần theo bảo hộ thôi. Giống như đàn bò, đàn dê, trong trăm hay nghìn con cũng chỉ có một người chăn giữ. Ở đây cũng như vậy, vì hành động phi pháp, tà kiến điên đảo, tạo ra mười nghiệp ác, nên những người như vậy, trong trăm hay nghìn người mới có một thần bảo hộ thôi. Nếu có người nào tu hành pháp thiện, chánh kiến, chánh tín, chánh hạnh, đầy đủ mười nghiệp thiện, chỉ một người như vậy, thì cũng có trăm nghìn thần bảo hộ rồi. Giống như quốc vương, Đại thần của quốc vương có trăm nghìn người hộ vệ một người. Ở đây cũng như vậy, người tu hành pháp thiện, đầy đủ mười nghiệp thiện, như một người có trăm nghìn thần hộ vệ. Vì nhân duyên này cho nên, người thế gian có nguời bị quỷ thần quấy nhiễu, có người không bị quỷ thần quấy nhiễu.
“Người cõi Diêm-phù-đề có ba điều hơn người Câu-da-ni, đó là: một, dõng mãnh, nhớ dai, có khả năng tạo nghiệp hành; hai, dõng mãnh, nhớ dai, siêng tu phạm hạnh; ba, vì dõng mãnh, nhớ dai, nên Phật ra đời ở cõi này. Do có ba điều này nên hơn người Câu-da-ni. Người Câu-da-ni có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, nhiều bò; hai, nhiều dê; ba, nhiều châu ngọc. Do có ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề có ba điều hơn người Phất-vu-đãi, đó là: một, dõng mãnh, nhớ dai, có khả năng tạo ra nghiệp hành; hai, dõng mãnh, nhớ dai, thường tu phạm hạnh; ba, dõng mãnh, nhớ dai, Phật ra đời ở cõi này. Vì ba điều này nên hơn Phất-vu-đãi. Người Phất-vu-đãi có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, cõi này rất rộng; hai, cõi này rất lớn; ba, đất đai cõi này rất vi diệu. Vì ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề có ba điều hơn người Uất-đan-viết, đó là: một, mạnh mẽ, nhớ dai, có khả năng tạo ra hành nghiệp; hai, mạnh mẽ, nhớ dai, thường tu hành phạm hạnh; ba, mạnh mẽ, nhớ dai, Phật ra đời ở cõi này. Đó là ba điều hơn người Uất-đan-viết. Người Uất-đan-viết có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, không bị ràng buộc lệ thuộc; hai, không có vật sở hữu của ngã; ba, tuổi thọ cố định là nghìn năm. Vì ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề cũng với ba điều trên mà hơn đường ngạ quỷ. Đường ngạ quỷ có ba điều hơn Diêm-phù-đề, đó là: một, sống lâu; hai, thân to lớn; ba, người khác làm mà mình chịu. Vì ba điều này nên hơn Diêm-phù-đề.”
“Người Diêm-phù-đề cũng vì ba điều trên nên hơn loài rồng, kim sí điểu. Loài rồng, kim sí điểu lại có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, sống lâu; hai, thân to lớn; ba, cung điện. Vì ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề vì ba điều trên nên hơn A-tu-la. A-tu-la lại có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, cung điện cao, rộng; hai, cung điện trang nhiêm; ba, cung điện thanh tịnh. Vì ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề vì ba điều trên mà hơn Tứ thiên vương. Tứ thiên vương lại có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, sống lâu; hai, đoan chánh; ba, an vui nhiều; vì ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề cũng vì ba điều trên mà hơn Đao-lị thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa-tự-tại thiên, Tha-hóa-tự-tại thiên. Các hàng Chư Thiên này lại có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, sống lâu; hai, đoan chánh; ba, an vui nhiều.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Chúng sanh cõi Dục có mười hai loại, đó là: 1. Địa ngục, 2. Súc sanh, 3. Ngạ quỷ, 4. Người, 5. A-tu-la, 6. Tứ thiên vương, 7. Đao-lị thiên, 8. Diệm-ma thiên, 9. Đâu-suất thiên, 10. Hóa Tự Tại thiên, 11. Tha-hóa-tự-tại thiên, 12. Ma thiên.
“Chúng sanh cõi Sắc có hai mươi hai loại, đó là: 1. Phạm thân thiên, 2. Phạm phụ thiên, 3. Phạm chúng thiên, 4. Đại Phạm thiên, 5. Quang thiên, 6. Thiểu quang thiên, 7. Vô lượng quang thiên, 8. Quang Âm thiên, 9. Tịnh thiên, 10. Thiểu tịnh thiên, 11. Vô lượng tịnh thiên, 12. Biến Tịnh thiên, 13. Nghiêm sức thiên, 14. Tiểu nghiêm sức thiên, 15. Vô lượng nghiêm sức thiên, 16. Nghiêm thắng quả thật thiên, 17. Vô tưởng thiên, 18. Vô phiền thiên, 19. Vô nhiệt thiên, 20. Thiện kiến thiên, 21. Đại thiện kiến thiên, 22. A ca nị trá thiên.
“Chúng sanh cõi Vô sắc có bốn loại, đó là: 1. Không trí thiên, 2. Thức trí thiên, 3. Vô sở hữu trí thiên, 4. Hữu-tưởng vô tưởng trí thiên.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Có bốn loại đại thiên thần, đó là: 1. Địa thần, 2. Thủy thần, 3. Phong thần, 4. Hỏa thần. Xưa kia Địa thần nảy sinh ra nhận thức sai lầm rằng: ‘Trong đất không có nước, lửa, và gió.’Lúc đó Ta biết rõ tâm niệm của Thần đất này, liền đến bảo rằng: “Ngươi đang nảy sanh ra ý nghĩ rằng: ‘Trong đất không có nước, lửa và gió phải không?’ Địa thần đáp: ‘Trong đất quả thực không có nước, lửa và gió.’ Lúc ấy Ta bảo rằng: ‘Ngươi chớ nảy sanh ý niệm này là trong đất không có nước, lửa và gió. Vì sao? Vì trong đất có nước, lửa và gió, chỉ vì yếu tố đất nhiều nên lấy đất mà gọi tên.’”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Lúc ấy Ta vì Địa thần mà lần lượt nói pháp để dứt trừ nhận thức sai lầm này, và chỉ bày, khuyến khích, làm cho lợi ích, làm cho hoan hỷ; nói về thí, về giới, về sinh thiên; nói dục là bất tịnh, là ô nhiễm, là tai họa; xuất yếu là trên hết, và trình bày khai mở phạm hạnh thanh tịnh. Lúc ấy Ta biết rõ tâm niệm Địa thần đã thanh tịnh, nhu nhuyến, không còn năm ấm cái, dễ dàng khai hóa. Như pháp thường của chư Phật, Ta chỉ bày giảng rộng về Khổ thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Địa thần liền ngay tại chỗ xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Ví như áo trắng sạch sẽ dễ được nhuộm màu, Địa thần cũng như vậy, lòng tin đã thanh tịnh, nên được mắt pháp, không còn hồ nghi, thấy pháp quyết định, không còn rơi vào đường ác, không hướng theo đạo khác, thành tựu được pháp vô úy, mà bạch với Ta rằng: ‘Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, cho phép con được làm Ưu-bà-di ở trong Chánh pháp’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Xưa kia, Thủy thần nảy sanh ác kiến, nói rằng: ‘Trong nước không có đất, lửa và gió.’ Lúc ấy Địa thần biết rõ tâm niệm Thủy thần sinh ra nhận thức này, nên đến nói với Thủy thần rằng: ‘Thật sự Ngươi có sinh ra kiến giải này, là trong nước không có đất, lửa và gió phải không?’ Đáp rằng: ‘Có thật như vậy.’ Địa thần nói: ‘Ngươi chớ sinh ra kiến giải này, là trong nước không có đất, lửa và gió. Vì sao? Vì trong nước có đất, lửa và gió, nhưng chỉ vì yếu tố nước nhiều quá, nên dùng yếu tố nước để gọi tên.’ Bấy giờ, Địa thần liền vì y mà nói pháp, dứt trừ kiến giải sai lầm này, và chỉ bày, khuyến khích, làm cho lợi ích, làm cho hoan hỷ; nói về thí, về giới, về sinh thiên; nói dục là bất tịnh, là ô nhiễm, là tai họa; xuất yếu là trên hết, và trình bày khai mở phạm hạnh thanh tịnh. Lúc ấy Địa thần biết rõ tâm niệm Thủy thần đã thanh tịnh, nhu nhuyến, không còn năm ấm cái, dễ dàng khai hóa. Như pháp thường của chư Phật, chỉ bày giảng rộng về Khổ thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Thủy thần liền ngay tại chỗ xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Ví như áo trắng sạch sẽ dễ được nhuộm màu, Thủy thần cũng như vậy, lòng tin đã thanh tịnh, nên được mắt pháp, không còn hồ nghi, thấy pháp quyết định, không còn rơi vào đường ác, không theo đường khác, thành tựu được pháp vô úy, mà bạch với Địa thần rằng: ‘Nay tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, xin nhận tôi là Ưu-bà-di ở trong Chánh pháp’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Xưa kia Hỏa thần nảy sanh ra ác kiến, nói rằng: ‘Trong lửa không có đất, nước và gió.’ Lúc ấy Địa thần và Thủy thần biết rõ tâm niệm Thủy thần sinh ra nhận thức này, nên cùng nói với Hỏa thần rằng: ‘Thật sự ngươi có sinh ra kiến giải này phải không?’ Đáp rằng: ‘Có thật như vậy.’ Hai thần nói: ‘Ngươi chớ sinh ra kiến giải này. Vì sao? Vì trong lửa có đất, nước và gió, nhưng chỉ vì yếu tố lửa nhiều quá, nên dùng yếu tố lửa để gọi tên.’ Bấy giờ, hai vị thần Địa và Thủy liền vì y mà nói pháp, dứt trừ kiến giải sai lầm này, và chỉ bày, khuyến khích, làm cho lợi ích, làm cho hoan hỷ; nói về thí, về giới, về sinh thiên; nói dục là bất tịnh, là ô nhiễm, là tai họa; xuất yếu là trên hết, và trình bày khai mở phạm hạnh thanh tịnh. Lúc ấy hai thần biết rõ tâm niệm Hỏa thần đã thanh tịnh, nhu nhuyến, không còn năm ấm cái, dễ dàng khai hóa. Như pháp thường của chư Phật, chỉ bày giảng rộng về Khổ thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Hỏa thần liền ngay tại chỗ xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Ví như áo trắng sạch sẽ dễ được nhuộm màu, Hỏa thần cũng như vậy, lòng tin đã thanh tịnh, nên được mắt pháp, không còn hồ nghi, thấy pháp quyết định, không còn rơi vào đường ác, không theo đường khác, thành tựu được pháp vô úy, mà bạch với hai thần rằng: ‘Nay tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, xin nhận tôi là Ưu-bà-di ở trong Chánh pháp’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Xưa kia Phong thần nảy sanh ra nhận thức sai lầm rằng: ‘Trong gió không có đất, nước và lửa.’ Lúc ấy Địa thần, Thủy thần, Hỏa thần biết rõ tâm niệm Thủy thần sinh ra nhận thức này, nên đến nói rằng: ‘Thật sự Ngươi có sinh ra kiến giải này phải không?’ Đáp rằng: ‘Có thật như vậy.’ Ba vị thần nói: ‘Ngươi chớ sinh ra kiến giải này. Vì sao? Vì trong gió có đất, nước và lửa, nhưng chỉ vì yếu tố gió nhiều quá, nên dùng yếu tố gió để gọi tên.’ Bấy giờ, ba vị thần liền vì y mà nói pháp, dứt trừ kiến giải sai lầm này, và chỉ bày, khuyến khích, làm cho lợi ích, làm cho hoan hỷ; nói về thí, về giới, về sinh thiên; nói dục là bất tịnh, là ô nhiễm, là tai họa; xuất yếu là trên hết, và trình bày khai mở phạm hạnh thanh tịnh. Lúc ấy ba thần biết rõ tâm niệm của Phong thần đã thanh tịnh, nhu nhuyến, không còn năm ấm cái, dễ dàng khai hóa. Như pháp thường của chư Phật, chỉ bày giảng rộng về Khổ thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Phong thần liền ngay tại chỗ xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Ví như tấm vải trắng sạch sẽ dễ được nhuộm màu, Phong thần cũng như vậy, lòng tin đã thanh tịnh, nên được mắt pháp, không còn hồ nghi, thấy pháp quyết định, không còn rơi vào đường ác, không theo đường khác, thành tựu được pháp vô úy, mà bạch với ba thần rằng: ‘Nay tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, xin nhận tôi là Ưu-bà-di ở trong Chánh pháp’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Mây có bốn thứ, đó là: một là màu trắng; hai là màu đen; ba là màu đỏ; bốn là màu hồng. Mây có màu trắng vì yếu tố đất đặc biệt nhiều; mây có màu đen vì yếu tố nước đặc biệt nhiều hơn; mây có màu đỏ vì yếu tố lửa đặc biệt nhiều hơn; mây có màu hồng vì yếu tố gió đặc biệt nhiều hơn. Mây cách mặt đất từ hai mươi dặm, ba mươi dặm, bốn mươi dặm,…cho đến bốn nghìn dặm; ngoại trừ kiếp sơ, còn sau đó thì mây lên đến cõi Quang-âm thiên. Chớp có bốn loại, đó là: Chớp ở phương Đông gọi là Thân quang; chớp ở phương Nam gọi là Nan hủy; chớp ở phương Tây gọi là Lưu diễm; chớp ở phương Bắc gọi là Định minh. Vì sao mây ở trong hư không có hiện tượng ánh chớp này? Có lúc Thân quang cùng Nan hủy chạm nhau, có khi Thân quang cùng với Lưu diễm chạm nhau, có khi Thân quang cùng với Định minh chạm nhau, có khi Nan hủy cùng với Lưu diễm chạm nhau, có khi Nan hủy cùng với Định minh chạm nhau, có khi Lưu diễm cùng với Định minh chạm nhau; vì những nhân duyên này nên mây giữa hư không sinh ra ánh chớp. Và vì sao mây ở giữa hư không lại sinh ra sấm chớp? Vì ở giữa hư không có khi địa đại cùng với thủy đại chạm nhau, có khi địa đại cùng với hỏa đại chạm nhau, có khi địa đại cùng với phong đại chạm nhau, có khi thủy đại cùng với hỏa đại chạm nhau, có khi thủy đại cùng với phong đại chạm nhau; vì những nhân duyên này mà mây giữa hư không sinh ra sấm chớp.
“Có năm lý do mà các thầy tướng không thể tiên đoán, và không thể biết được một cách chắc chắn về mưa nên dẫn đến việc sai lầm trong lúc đoán, đó là: một, trong mây có sấm chớp, đóan rằng sắp mưa; nhưng vì hỏa đại nhiều nên nó thiêu hủy mây đi, vì vậy mà không mưa. Đó là lý do thứ nhất khiến cho các thầy tướng đoán sai lầm. Hai, trong mây có sấm chớp, đoán rằng sắp mưa, nhưng vì phong đại nổi lên, thổi mây bay tứ tán vào trong các núi, vì lý do này nên khiến cho các thầy tướng đoán sai lầm. Ba, trong mây có sấm chớp, đoán rằng sắp mưa, nhưng bấy giờ Đại A-tu-la đem phù vân đặt giữa biển cả, vì lý do này mà thầy tướng đoán sai lầm. Bốn, trong mây có sấm chớp, đoán rằng sắp mưa, nhưng vì thần mây, thần mưa đang buông lung dâm loạn, nên rốt cùng không làm mưa, vì lý do này nên thầy tướng đoán sai lầm. Năm, trong mây có sấm chớp, đoán rằng sắp mưa, nhưng vì mọi người trong thế gian hành động buông lung phi pháp, làm hạnh bất tịnh, tham lam, keo kiệt, ghen ghét, kiến giải điên đảo, nên khiến trời không mưa xuống, vì lý do này nên thầy tướng đoán sai. Đó là năm lý do làm cho các thầy tướng không thể biết để đoán mưa một cách chắc chắn được.”
PhẨm 9: TAM TAI
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Có bốn sự kiện trường cửu, không lường, không giới hạn, không thể dùng năm, tháng, ngày để mà tính kể được. Bốn sự kiện, đó là: Một, ở thế gian có những thứ tai nạn khởi lên từ từ; khi thế giới này tan hoại, trung gian là một khoảng thời gian trường cửu, không lường, không giới hạn, không thể dùng năm, tháng, ngày để mà tính kể được. Hai, sau khi thế giới này tan hoại rồi, thì trung gian là một khoảng trống vắng mênh mông, không có thế giới; thời gian này là mịt mù trường cửu, không thể dùng số lượng năm, tháng, ngày để mà tính được. Ba, khi trời đất mới bắt đầu khởi hướng nhắm đến sự hình thành, khoảng thời gian này là trường cửu, không thể dùng số lượng năm, tháng, ngày để mà tính được. Bốn, sau khi trời đất đã hoàn thành rồi, tồn tại lâu dài không hoại, không thể dùng số lượng năm, tháng, ngày để mà tính được. Đó là bốn sự kiện trường cửu, không lường, không có giới hạn, không thể dùng số lượng năm, tháng, ngày để tính toán được.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Ở thế gian có ba thứ tai kiếp; đó là: Một, tai kiếp lửa. Hai, tai kiếp nước. Ba, tai kiếp gió. Có giới hạn phía trên của ba tai kiếp. Thế nào là ba? Đó là: một, Quang Âm thiên; hai, Biến Tịnh thiên; ba, Quả thật thiên. Khi tai kiếp lửa khởi lên, cháy lên cho đến Quang Âm thiên, thì Quang Âm thiên là giới hạn. Khi tai kiếp nước khởi lên, ngập cho đến Biến Tịnh thiên, thì Biến Tịnh thiên là giới hạn. Khi tai kiếp gió khởi lên, thổi cho đến Quả thật thiên, thì Quả thật thiên là giới hạn.
“Thế nào là tai kiếp lửa? Khi tai kiếp lửa bắt đầu sắp sửa khởi, con người thế gian này lúc đó đều thực hành Chánh pháp, đều chánh kiến không điên đảo, đều tu mười thiện hành. Khi thực hành pháp này, có người đạt được nhị thiền, liền có thể cất mình bay lên ở giữa hư không, trụ vào Thánh nhơn đạo, Thiên đạo, Phạm đạo, và lớn tiếng xướng lên rằng: ‘Các Hiền giả! Sung sướng thay, đệ nhị thiền không tầm không tứ! Sung sướng thay, đệ nhị thiền! ’ Lúc ấy, người thế gian nghe những lời này rồi, liền ngửa mặt lên trời nói với họ rằng: ‘Lành thay! Lành thay! xin vì tôi mà nói đạo của đệ nhị thiền không tầm, không tứ.’ Khi ấy, người ở giữa hư không nghe những lời của người kia rồi liền nói về đạo của nhị thiền không tầm, không tứ. Sau khi người thế gian nghe nói rồi, liền tu đạo của nhị thiền không tầm, không tứ, nên khi thân hoại mạng chung được sinh về Quang Âm thiên.
“Lúc ấy, những chúng sanh có tội trong địa ngục, sau khi mạng chung lại được sinh vào cõi Người, và tu tập pháp của đệ nhị thiền không tầm, không tứ, nên sau khi thân hoại mạng chung được sinh về Quang Âm thiên. Những chúng sanh ở trong các loài Súc sanh, Ngạ quỷ, A-tu-la, Tứ thiên vương, Đao-lị thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa Tự Tại thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên, Phạm thiên, sau khi thân hoại mạng chung sanh lại cõi nhơn gian; sau đó tu tập nhị thiền không tầm, không tứ, thân hoại mạng chung sẽ sinh về Quang Âm thiên. Vì những nhân duyên này nên đường địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la, cho đến Phạm thiên tất cả đều diệt. Ngay lúc bấy giờ, trước tiên là địa ngục diệt, sau đó súc sanh diệt; súc sanh diệt rồi thì ngạ quỷ diệt; ngạ quỷ diệt rồi thì A-tu-la diệt; A-tu-la diệt rồi thì Tứ thiên vương diệt; Tứ thiên vương diệt rồi thì Đao-lị thiên diệt; Đao-lị thiên diệt rồi thì Diệm-ma thiên diệt; Diệm-ma thiên diệt rồi thì Đâu-suất thiên diệt; Đâu-suất thiên diệt rồi thì Hóa Tự Tại thiên diệt; Hóa Tự Tại thiên diệt rồi thì Tha Hóa Tự Tại thiên diệt; Tha Hóa Tự Tại thiên diệt rồi thì Phạm thiên diệt; Phạm thiên diệt rồi thì sau đó con người diệt, không còn sót gì lại sau này. Khi con người đã diệt, không còn gì nữa, thế gian này sẽ hủy hoại cho đến thành là tai. Sau đó trời không mưa, trăm thứ lúa thóc, cỏ cây tự nhiên chết khô.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát, vượt qua thế gian.
“Sau đó, qua một thới gian rất lâu, có một trận bão lớn bạo khởi, thổi nước biển lớn, làm cho nước biển, sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, bị tách làm hai; mang cung điện mặt trời đem đặt lưng chừng núi Tu-di; cách mặt đất bốn vạn hai nghìn do-tuần, đặt làm quỹ đạo của mặt trời. Do nhân duyên này mà thế gian có hai mặt trời xuất hiện. Sau khi hai mặt trời xuất hiện, những giòng sông, ngòi, kênh, rạch nhỏ có được trên thế gian này, đều khô kiệt.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau đó một thời gian rất lâu có một trận bão lớn bạo khởi, thổi nước biển lớn, làm cho nước biển, sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, bị tách làm hai; mang cung điện mặt trời, đem đặt lưng chừng núi Tu-di; cách mặt đất bốn vạn hai nghìn do-tuần, an trí quỹ đạo mặt trời. Do nhân duyên này mà thế gian có ba mặt trời xuất hiện. Sau khi ba mặt trời xuất hiện, những nơi có nước nhiều như: sông Hằng, sông Da-bà-na, sông Bà-la, sông A-di-la-bà-đề, sông A-ma-khiếp, sông Tân-đà, sông Cố-xá tất cả đều khô cạn, không còn một giọt.
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ, Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau đó một thời gian rất lâu có một trận bão lớn bạo khởi, thổi nước biển lớn, làm cho nước biển, sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, bị tách làm hai; mang cung điện mặt trời, đem đặt lưng chừng núi Tu-di; cách mặt đất bốn vạn hai nghìn do-tuần, an trí quỹ đạo mặt trời. Do nhân duyên này mà thế gian có bốn mặt trời xuất hiện. Sau khi bốn mặt trời xuất hiện, thì những con suối, nguồn nước, hồ, vực, trong thế gian như ao lớn Thiện kiến, ao lớn A-nậu-đạt, ao Tứ-phương-đà-diên, ao Ưu-bát-la, ao Câu-vật-đầu, ao Phân-đà-lợi, ao Ly; dọc ngang rộng năm mươi do-tuần, thảy đều khô cạn hết.
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau đó, một thời gian lâu dài, có một trận bão lớn bạo khởi, thổi nước biển lớn, làm cho nước biển, sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, bị tách làm hai; mang cung điện mặt trời, đem đặt lưng chừng núi Tu-di; cách mặt đất bốn vạn hai nghìn do-tuần, an trí quỹ đạo mặt trời. Do nhân duyên này mà thế gian có năm mặt trời xuất hiện. Sau khi năm mặt trời xuất hiện, thì nước trong biển lớn bị vơi dần từ một trăm do-tuần cho đến bảy trăm do-tuần.
“Vì vậy nên biết rằng: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Bấy giờ, nước biển lớn vơi dần hết chỉ còn có từ bảy trăm do-tuần, rồi sáu trăm do-tuần, rồi năm trăm do-tuần, rồi bốn trăm do-tuần, và… cho đến chỉ tồn tại một trăm do-tuần. Vì vậy nên biết rằng: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Bấy giờ, nước biển lớn từ từ vơi dần chỉ còn từ bảy do-tuần, rồi sáu do-tuần, rồi năm do-tuần, và… cho đến chỉ còn tồn tại một do-tuần.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: ‘Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau đó nước biển vơi dần chỉ còn từ bảy cây đa-la, rồi sáu cây đa-la, và… cho đến chỉ còn bằng một cây đa-la.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy, nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau đó nước biển chuyển cạn dần từ bảy người, rồi sáu người, rồi năm người, rồi bốn người, rồi ba người, rồi hai người, rồi một người, cho đến chỉ còn từ thắt lưng, rồi đầu gối, rồi đến… mắt cá chân người.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng để cho con người chán nản và lo sợ, nên tỳm đạo giải thoát độ thế gian.
“Sau đó, nước biển chỉ còn giống như sau cơn mưa xuân; cũng giống như nước trong dấu chân trâu, từ từ cạn hết, không đủ thấm ướt ngón tay người’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau đó, qua một thời gian lâu dài, có trận bão lớn bạo khởi, thổi cát đáy biển, độ sâu tám vạn bốn nghìn do-tuần, dạt lên hai bờ; mang cung điện mặt trời đem đặt lưng chừng núi Tu-di, an trí quỹ đạo mặt Trời. Do nhân duyên này mà thế gian có sáu mặt trời xuất hiện. Sau khi sáu mặt trời xuất hiện, thì bốn châu thiên hạ, cùng tám vạn núi trong thiên hạ, núi lớn, Tu-di sơn vương… đều bốc khói cháy xém, giống như thợ gốm khi bắt đầu đun đồ gốm, thì lúc sáu mặt trời xuất hiện lại cũng như vậy.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau đó, qua một thời gian lâu dài, có trận bão lớn bạo khởi, thổi cát đáy biển, độ sâu tám vạn bốn nghìn do-tuần, dạt lên hai bờ; mang cung điện mặt trời đem đặt lưng chừng núi Tu-di, an trí quỹ đạo mặt trời. Do nhân duyên này mà. thế gian có bảy mặt trời xuất hiện. Sau khi bảy mặt trời xuất hiện, thì bốn châu thiên hạ này, cùng tám vạn núi trong thiên hạ, các núi lớn, Tu-di sơn vương… tất cả đều rực lửa. Cũng như thợ gốm khi đốt to, ngọn lửa bốc lên, lúc bảy mặt trời xuất hiêïn lại cũng như vậy.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian. Bốn châu thiên hạ này, cùng tám vạn núi trong thiên hạ, các núi lớn, Tu-di sơn vương… tất cả đều rực lửa. Cùng lúc, cung điện Tứ thiên vương, cung điện Đao-lị thiên, cung điện Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa Tự Tại thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên, cung điện Phạm thiên cũng đều rực lửa.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau khi bốn châu thiên hạ này… cho đến Phạm thiên, thảy đều rực lửa, gió thổi ngọn lửa đến cõi Quang Âm thiên. Các Thiên tử sơ sinh khi thấy ngọn lửa này đều sanh lòng sợ hãi, nói rằng: ‘Ối! Vật gì đây?’ Chư thiên sinh trước nói với Chư Thiên sinh sau rằng: ‘Chớ sợ hãi! Lửa kia đã từng đến và dừng lại ngang đó.’ Vì nghĩ đến ánh lửa trước nên gọi là Quang niệm thiên.
“Khi bốn thiên hạ này,… cho đến Phạm thiên, bốc lửa, thì Tu-di sơn vương dần dần sụp lở, từ một trăm do-tuần, hai trăm do-tuần,… cho đến bảy trăm do-tuần.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.
“Sau khi bốn châu thiên hạ này,… cho đến Phạm thiên đều bị lửa đốt sạch, sau đó đại địa cùng Tu-di sơn không còn chút tro tàn nào hết. Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.”
“Sau khi đại địa bị lửa đốt cháy sạch rồi, thì nước ở bên dưới đất cũng hết; gió ở bên dưới nước cũng hết. Vì vậy nên biết: Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt qua thế gian.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Khi tai kiếp lửa khởi lên, thì trời không mưa xuống, trăm thứ lúa, cỏ, cây tự nhiên bị khô chết. Ai sẽ tin? Chỉ có ai đã thấy thì sẽ tự biết mà thôi! Cũng vậy, cho đến, nước ở bên dưới đất hết, gió ở bên dưới nước cũng hết; ai sẽ tin? Chỉ có ai đã thấy thì sẽ tự biết mà thôi!
“Đó là tai kiếp lửa.
“Thế nào là sự phục hồi của kiếp lửa ? Sau đó rất lâu, rất lâu, có đám mây đen lớn ở giữa hư không, cho đến cõi Quang Âm thiên; mưa đổ xuống khắp nơi, giọt mưa như bánh xe. Mưa như vậy trải qua vô số trăm nghìn năm, nước mưa lớn dần, cao đến vô số trăm nghìn do-tuần, cho đến cõi Quang Âm thiên.
“Bấy giờ, có bốn trận gió lớn nổi lên, giữ nước này trụ lại. Những gì là bốn? Một là trụ phong, hai là trì phong, ba là bất động, bốn là kiên cố. Sau đó nước này vơi bớt một trăm nghìn do-tuần, rồi vô số trăm nghìn vạn do-tuần. Bốn mặt của nước này khởi lên trận gió lớn tên gió là tăng già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Phạm-ca-di. Khi nước kia vơi mãi cho đến vô số trăm nghìn vạn do-tuần, bốn mặt của nước này lại nổi lên gió lớn, được gọi là tăng-già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung này trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Tha Hóa Tự Tại.
“Khi nước kia vơi bớt mãi cho đến vô số nghìn vạn do-tuần, bốn mặt nước này nổi lên gió lớn, có gió tên là tăng-già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung này trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Hóa Tự Tại.
“Khi nước kia rút xuống vô số trăm nghìn do-tuần, có gió tên là tăng-già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung này trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Đâu-suất.
“Khi nước kia rút xuống vô số trăm nghìn do-tuần, có gió tên là tăng-già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung này trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Diệm-ma.
“Khi nước kia rút xuống vô số trăm nghìn do-tuần, trên nước có bọt, và sâu sáu mươi vạn tám nghìn do-tuần, các biên của nó không có bờ mé. Cũng như dòng nước suối nguồn hang động ở thế gian này, trên nước của nó có bọt; thì kia cũng như vậy.
“Vì nhân duyên gì mà có núi Tu-di? Vì có cuồng phong nổi dậy, nên thổi bọt nước này tạo thành núi Tu-di, cao sáu mươi vạn tám nghìn do-tuần, dọc ngang tám vạn bốn nghìn do-tuần, và do bốn báu tạo thành: Vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly.
“Vì nhân duyên gì mà có bốn cung điện A-tu-la? Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn, ở tại bốn mặt của núi Tu-di nổi lên cung điện lớn; mỗi cung điện dọc ngang tám vạn do-tuần, tự nhiên biến thành cung điện bảy báu.
“Lại vì nhân duyên gì mà có cung điện của Tứ thiên vương? Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên lưng chừng nửa núi Tu-di, độ bốn vạn hai nghìn do-tuần, tự nhiên biến thành cung điện bảy báu. Vì vậy cho nên gọi là cung điện Tứ thiên vương.
“Vì nhân duyên gì có cung điện Đao-lị thiên? Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên tới đỉnh núi Tu-di, tự nhiên biến thành cung điện bảy báu.
“Lại vì nhân duyên gì mà có núi Già-đà-la? Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Tu-di không xa, tự nhiên hóa thành núi báu, chân núi ăn sâu vào trong đất bốn vạn hai nghìn do-tuần, dọc ngang bốn vạn hai nghìn do-tuần, biên ngoài thì không hạn, sắc tạp bên cạnh do bảy báu mà thành, vì nhân duyên này nên có núi Già-đà-la.
“Lại vì nhân duyên gì mà có núi Y-sa? Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Già-đà-la không xa, tự nhiên hóa thành núi Y-sa, cao hai vạn một nghìn do-tuần, dọc ngang hai vạn một nghìn do-tuần, ngoài biên thì không hạn, nhiều màu sắc xen nhau, do bảy báu mà thành. Vì nhân duyên này nên có núi Y-sa. Sau khi cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Y-sa không xa, tự nhiên hóa thành núi Thọ thần đà-la, cao một vạn hai nghìn do-tuần, dọc ngang một vạn hai nghìn do-tuần, ngoài biên thì không hạn, nhiều màu xen nhau, do bảy báu mà thành. Vì nhân duyên này nên có núi Thọ-thần-đà-la.
“Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Thọ-cự-đà-la không xa, tự nhiên hóa thành núi A-bát-ni-lâu, cao sáu nghìn do-tuần, dọc ngang sáu nghìn do-tuần, biên ngoài thì không hạn, nhiều sắc xen nhau, do bảy báu mà thành. Vì nhân duyên này nên có núi A-bát-ni-lâu.
“Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi A-bát-ni-lâu không xa, tự nhiên hóa thành núi Ni-lân-đà-la, cao ba nghìn do-tuần, dọc ngang ba nghìn do-tuần, biên ngoài thì không hạn, nhiều sắc tạp xen, do bảy báu mà thành. Vì nhân duyên này nên có núi Ni-lân-đà-la.
“Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Ni-lân-đà-la không xa, tự nhiên hóa thành núi Tỳ-ni-đà, cao một nghìn hai trăm do-tuần, dọc ngang một nghìn hai trăm do-tuần, biên ngoài thì không hạn, sắc tạp xen nhau, do bảy báu mà thành, vì nhân duyên này nên có núi Tỳ-ni-đà.
“Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Tỳ-ni-đà không xa, tự nhiên hóa thành núi Kim cang luân, cao ba trăm do-tuần, dọc ngang ba trăm do-tuần, biên ngoài thì không hạn, sắc tạp xen nhau, do bảy báu mà thành, vì nhân duyên này nên có núi Kim cang luân.
“Vì sao có một cung điện mặt trăng, bảy cung điện mặt trời? Một thời gian sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn, thì tự nhiên biến thành một cung điện mặt trăng, bảy cung điện mặt trời, sắc tạp xen nhau, do bảy báu mà thành, vì bị bão thổi ngược trở lại chỗ cũ nên vì nhân duyên này mà có cung điện mặt trời và cung điện mặt trăng.
“Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn, thì tự nhiên biến thành bốn châu thiên hạ, cùng tám vạn thiên hạ. Vì nhân duyên này nên có bốn châu thiên hạ cùng tám vạn thiên hạ.
“Sau đó, cuồng phong thổi bọt nước lớn, thì tại tứ thiên hạ cùng tám vạn thiên hạ, tự nhiên biến thành núi Đại Kim cang luân, cao mười sáu vạn tám nghìn do-tuần, dọc ngang rộng mười sáu vạn tám nghìn do-tuần, biên giới của nó thì không có hạn; kim cang rắn chắc không thể hủy hoại. Vì nhân duyên này nên có núi Đại Kim cang luân.
“Sau đó một thời gian rất lâu, rất lâu, có mây tự nhiên phủ đầy không trung, và mưa lớn khắp nơi, những giọt nước mưa như bánh xe; nước này tràn đầy khắp nơi dìm bốn châu thiên hạ cùng núi Tu-di v.v…
“Sau đó, cuồng phong thổi đất làm thành hầm hố lớn; nước khe suối đều chảy vào hết trong đó, nhân đây mà làm thành biển. Vì nhân duyên này nên có bốn biển nước lớn. Nước biển mặn đắng có ba nhân duyên. Những gì là ba? Một, mây tự nhiên giăng khắp hư không cho đến Quang Âm thiên, mưa khắp mọi nơi, tẩy rửa cung trời, rửa sạch thiên hạ; từ cung trời Phạm-ca-di, cung trời Tha Hóa Tự Tại xuống đến cung trời Diệm-ma, bốn thiên hạ, tám vạn thiên hạ, các núi, núi lớn, Tu-di sơn vương, thảy đều được tẩy rửa sạch sẽ; trong những nơi này, tất cả các thứ nước dịch bất tịnh, dơ dáy và mặn, đều trôi xuôi xuống mà vào trong biển cả hợp thành một vị, nên nước biển có vị mặn. Hai, vì xưa kia có vị Đại Tiên trì cấm chú vào nước biển, muốn cho lúc nào nó cũng mặn đắng, người không uống được, cho nên chúng mặn đắng. Ba, vì trong nước biển lớn này có nhiều loại chúng sanh cư trú, thân hình chúng to dài đến, hoặc trăm do-tuần, hai trăm do-tuần… cho đến bảy trăm do-tuần, thở hít, ăn vào mửa ra, đại tiểu tiện đều ở trong đó, nên nước biển mặn.
“Đó là tai kiếp lửa.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thế nào là tai kiếp nước?
“Khi tai kiếp nước bắt đầu, con người trong thế gian này đều phụng hành Chánh pháp, đều chánh kiến, không theo tà kiến, mà tu tập mười thiện nghiệp. Sau khi tu tập thiện hành, có người đạt được đệ tam thiền không có hỷ, thân họ có thể cất lên ở giữa hư không, an trụ Thánh nhơn đạo, Thiên đạo, Phạm đạo, và lớn tiếng xướng lên rằng: ‘Các Hiền giả! Sung sướng thay, đệ tam thiền không có hỷ!’ Lúc ấy, người thế gian nghe những lời này rồi, liền ngửa mặt lên trời nói với họ rằng: ‘Lành thay! Lành thay! xin vì tôi mà nói đạo của tam thiền không có hỷ.’ Lúc này, người ở giữa hư không nghe những lời của người kia rồi liền nói về đạo của tam thiền không có hỷ. Sau khi người thế gian nghe nói rồi, liền tu đạo của tam thiền không có hỷ, nên khi thân hoại mạng chung họ được sinh về Biến Tịnh thiên.
“Bấy giờ, những chúng sanh ở trong địa ngục, sau khi tội nghiệp của họ đã mãn, thân hoại mạng chung tái sinh vào nhơn gian. Rồi cũng tu tập đạo của đệ tam thiền; sau khi tu tập đạo thiền, thân hoại mạng chung, được sinh về Biến Tịnh thiên. Những chúng sanh của các loài súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la, Tứ thiên vương, Đao-lị thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa Tự Tại thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên, Phạm thiên, Quang Âm thiên sau khi thân hoại mạng chung cũng tái sinh vào cõi nhơn gian; nếu họ cũng tu tập đạo của đệ tam thiền, khi thân hoại mạng chung họ cũng sẽ được sinh về Biến Tịnh thiên. Vì nhân duyên này nên đạo địa ngục bị diệt tận, và súc sanh, ngạ quỷ, A tu luân, Tứ thiên vương,… cho đến cõi Quang Âm thiên cũng đều diệt tận. Vào lúc bấy giờ, trước tiên là địa ngục biến mất, sau đó súc sanh biến mất; súc sanh biến mất rồi, thì ngạ quỷ biến mất; ngạ quỷ biến mất rồi, thì A-tu-la biến mất; khi A-tu-la biến mất rồi, thì Tứ thiên vương biến mất; khi Tứ thiên vương biến mất rồi, thì Đao-lị thiên biến mất, khi Đao-lị thiên biến mất rồi, thì Diệm-ma thiên biến mất; Diệm-ma thiên biến mất rồi, thì Đâu-suất thiên biến mất; khi Đâu-suất thiên biến mất rồi, thì Hóa Tự Tại thiên biến mất; khi Hóa Tự Tại thiên biến mất rồi, thì Tha Hóa Tự Tại thiên biến mất; khi Tha Hóa Tự Tại thiên biến mất rồi, thì Phạm thiên biến mất; khi Phạm thiên biến mất rồi, thì Quang Âm thiên biến mất; khi Quang Âm thiên biến mất, sau đó thì loài người hoàn toàn biến mất. Sau khi loài người hoàn toàn biến mất, thế gian này hủy diệt. Như thế là hoàn thành tai kiếp.
“Rất lâu sau đó, rất lâu, có đám mây đen lớn bạo khởi, trên cho đến Biến Tịnh thiên, mưa khắp mọi nơi, mưa xuống hoàn toàn là nước nóng. Thứ nước này sôi sục, đun nấu thiên hạ, làm cho các cung điện cõi trời thảy đều bị tiêu hết, không còn sót thứ gì, giống như đặt dầu bơ vào trong lửa, đều bị chảy tiêu hết, không còn sót thứ gì, cung điện Quang Âm thiên cũng lại như vậy. Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.
“Sau đó, mưa này lại xâm phạm đến cung điện cõi trời Phạm-ca-di, cũng đun chảy tiêu hết, không sót thứ gì, giống như dầu bơ đem đặt vào trong lửa, không còn sót thứ gì, thì cung điện Phạm-ca-di lại cũng như vậy.
“Sau đó, nước mưa này lại xâm phạm đến các cung điện Tha Hóa Tự Tại thiên, Hóa Tự Tại thiên, Đâu-suất thiên, Diệm-ma thiên, cũng bị đun chảy tiêu hết, không còn sót thứ gì, giống như dầu bơ đem đặt vào trong lửa, không còn sót thứ gì, thì các cung điện Chư Thiên lại cũng như vậy.
“Sau đó, nước mưa này lại xâm phạm đến bốn châu thiên hạ, cùng tám vạn thiên hạ, các núi, núi lớn, Tu-di sơn vương cũng đều bị đun nấu tiêu hết, không còn sót thứ gì, giống như dầu bơ đem đặt vào trong lửa, đều bị nung chảy tiêu hết, không còn sót thứ gì, những thứ này lại cũng như vậy. Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.
“Sau đó, nước này đã đun nấu đại địa không còn sót gì nữa rồi, thì nước bên dưới đất cũng hết, gió bên dưới nước cũng hết. Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm đạo giải thoát vượt khỏi thế gian.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Sự nung chảy, tiên tận ngang đến cung điện Biến Tịnh thiên này, ai là người có thể tin? Chỉ có ai thấy mới có thể biết mà thôi!
“Từ cung điện Phạm-ca-di bị nung chảy tiêu hết… cho đến, nước bên dưới đất cũng hết, gió bên dưới nước cũng hết, ai là người có thể tin? Chỉ có ai thấy, mới có thể biết mà thôi!
“Đó là tai họa do nước.
“Thế nào là sự hồi phục của tai kiếp nước? Sau đó một thời gian rất lâu, rất lâu, xuất hiện đám mây đen lớn bao phủ khắp hư không, lên đến cõi Biến Tịnh thiên, mưa khắp nơi, những giọt nước mưa như bánh xe. Mưa kéo dài vô số trăm nghìn vạn năm như vậy, nước mưa này lớn dần dần cho đến cõi Biến Tịnh thiên. Có bốn loại gió lớn giữ nước này lại một chỗ đó là: một là trụ phong, hai là trì phong, ba là bất động, bốn là kiên cố.
“Sau đó, nước này vơi giảm vô số trăm nghìn do-tuần, bốn mặt gió lớn nổi dậy gọi là tăng-già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại, rồi bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng biến thành cung điện Quang Âm thiên, trang sức bằng bảy báu. Vì nhân duyên này mà có cung điện Quang Âm thiên.
“Khi nước kia vơi giảm dần cho đến vô số trăm nghìn do-tuần, gió tăng-già thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại, rồi bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng biến thành cung điện Phạm-ca-di, trang sức bằng bảy báu. Như đã kể, cho đến, nước biển có cùng một vị mặn đắng, cũng như lúc tai họa do lửa phục hồi, đó là tai kiếp nước.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thế nào là tai kiếp gió? Khi tai kiếp gió bắt đầu khởi, con người trong thế gian này đều phụng hành Chánh pháp, đều chánh kiến, không theo tà kiến, mà tu tập mười thiện nghiệp. Khi tu tập hành vi thiện, có người đạt được đệ tứ thiền với xả và niệm thanh tịnh, họ ở giữa hư không, trụ vào Thánh nhơn đạo, Thiên đạo, Phạm đạo, và lớn tiếng xướng lên rằng: ‘Các Hiền giả! Nên biết, sung sướng thay, đệ tứ thiền với xả và niệm thanh tịnh! Sung sướng thay, đệ tứ thiền với xả và niệm thanh tịnh!’ Lúc ấy, người thế gian nghe những lời này rồi, liền ngửa mặt lên trời nói với họ rằng: ‘Lành thay! Lành thay! xin vì tôi mà nói về đạo của tứ thiền với xả và niệm thanh tịnh!’ Lúc này, người ở giữa hư không nghe những lời của người kia rồi liền nói về đạo của tứ thiền. Sau khi người thế gian nghe nói rồi, liền tu đạo của tứ thiền, nên khi thân hoại mạng chung được sinh về Quả thật thiên.
“Bấy giờ, những chúng sanh ở trong địa ngục, sau khi tội nghiệp đã mãn, thân hoại mạng chung, tái sinh vào nhơn gian. Rồi cũng tu tập đạo của đệ tứ thiền; sau khi tu tập đạo thiền, thân hoại mạng chung, tái sinh về Quả thật thiên. Còn những chúng sanh của các loài súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la, Tứ thiên vương,… cho đến Biến Tịnh thiên, sau khi thân hoại mạng chung cũng sẽ tái sinh vào cõi nhơn gian; nếu cũng tu tập đạo của đệ tứ thiền, khi thân hoại mạng chung cũng sẽ tái sinh về Quả thật thiên. Vì nhân duyên này nên đạo địa ngục được diệt tận, và súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la, Tứ thiên vương,… cho đến cõi Biến Tịnh thiên cũng đều diệt tận.
“Vào lúc bấy giờ, trước tiên là địa ngục diệt tận, sau đó súc sanh diệt tận; súc sanh diệt tận rồi, thì ngạ quỷ diệt tận; khi ngạ quỷ diệt tận rồi, thì A-tu-la diệt tận; khi A-tu-la diệt tận rồi, thì Tứ thiên vương diệt tận; khi Tứ thiên vương diệt tận rồi… như vậy lần lượt cho đến Biến Tịnh thiên diệt tận; khi Biến Tịnh thiên diệt tận rồi, sau đó, con người bị diệt tận không còn sót. Khi con người đã bị diệt tận không còn sót, thì thế gian này bị tan hoại, thế là hoàn thành tai kiếp.
“Rất lâu, rất lâu sau đó, có gió lớn nổi lên, tên là đại tăng -già,… cho đến Quả thật thiên. Gió lan khắp mọi nơi, thổi cung điện Biến Tịnh thiên, Quang Âm thiên, khiến cho các cung điện va chạm nhau tan vỡ ra thành phấn bụi, giống như lực sĩ cầm hai cái chày đồng, làm cho chúng va chạm nhau, cả hai đều vỡ vụn không còn gì hết, thì hai cung điện va chạm nhau cũng lại như vậy. Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm đạo giải thoát vượt khỏi thế gian.’
“Sau đó, gió này thổi cung điện Phạm-ca-di thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên, các cung điện va chạm nhau, tan vỡ ra thành phấn bụi không còn gì hết, giống như lực sĩ cầm hai cái chày đồng, làm cho chúng va chạm nhau, cả hai đều vỡ không còn gì hết, thì hai cung điện va chạm nhau cũng lại như vậy. Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm đạo giải thoát vượt thế gian.
“Sau đó, gió này thổi cung điện Hóa Tự Tại thiên, Đâu-suất thiên, Diệm-ma thiên, các cung điện này va chạm nhau, tan vỡ ra thành phấn bụi không còn lại gì hết, giống như lực sĩ cầm hai cái chày đồng, làm cho chúng va chạm nhau, cả hai đều vỡ vụn không còn gì hết, thì những cung điện này va chạm nhau không còn gì hết cũng lại như vậy. Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.”
“Sau đó, gió này thổi bốn thiên hạ, cùng tám vạn thiên hạ, các núi, núi lớn, Tu-di sơn vương đem đặt giữa hư không, cao trăm nghìn do-tuần, những ngọn núi này va chạm nhau, tan vỡ ra thành phấn bụi, giống như lực sĩ tay cầm vỏ trấu nhẹ rải vào không trung, thì tứ châu thiên hạ, Tu-di, các núi này vỡ vụn, phân tán ra, cũng lại như vậy. Vì vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hãy nên tỳm con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.
“Sau đó, gió thổi sạch đại địa; nước bên dưới đất hết, gió bên dưới nước hết. Cho nên phải biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm nên tỳm con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Khi hai cung điện Biến Tịnh thiên và Quang Âm thiên va chạm nhau, tan vỡ ra thành phấn bụi, ai là người có thể tin? Chỉ có độc nhất người thấy mới có thể biết mà thôi. Như vậy cho đến nước bên dưới đất hết, gió bên dưới nước hết, ai là người sẽ tin? Chỉ có độc nhất người thấy mới có thể biết mà thôi.
“Đó là tai kiếp gió.
“Thế nào là sự hồi phục của tai kiếp?
“Sau một thời gian rất lâu xuất hiện đám mây đen lớn bao phủ khắp hư không, lên đến cõi Quả thật thiên. Rồi mưa xuống khắp nơi; những giọt nước mưa như bánh xe, mưa kéo dài vô số trăm nghìn vạn năm, nước này lớn dần, cho đến Quả thật thiên. Lúc bấy giờ, có bốn loại gió lớn giữ nước này lại một chỗ. Những gì là bốn? Một là trụ phong, hai là trì phong, ba là bất động, bốn là kiên cố. Sau đó, nước này dần dần rút xuống vô số trăm nghìn do-tuần; bốn phía mặt nước gió lớn nổi dậy, gọi là tăng già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại, bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng biến thành cung điện Biến Tịnh thiên, được trang sức bằng bảy báu, xen lẫn các loại tạp sắc. Vì nhân duyên này mà có cung điện Biến Tịnh thiên.
“Khi nước kia rút dần cho đến vô số trăm nghìn do-tuần, thì gió tăng-già kia thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại, bị gió thổi lìa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng biến thành cung điện Quang Âm thiên, được trang sức bằng bảy báu, xen lẫn các loại tạp sắc… cho đến nước biển có cùng một vị mặn đắng, cũng như đã nói về tai kiếp lửa.
“Đó là tai kiếp gió. Đó là ba tai kiếp, và là ba lần phục hồi.”
PhẨm 10: CHIẾN ĐẤU
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vào thuở xưa, khi chư Thiên cùng A-tu-la chiến đấu. Bấy giờ Thích đề-hoàn Nhân lệnh gọi Chư Thiên Đao-lị đến bảo rằng: ‘Nay các ngươi đi đánh nhau với bọn chúng. Nếu thắng, hãy bắt A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la, trói với năm chỗ trói, rồi mang đến giảng đường Thiện pháp. Ta muốn nhìn thấy.’ Rồi, Chư Thiên Đao-lị sau khi vâng lệnh Đế Thích, mỗi người tự trang bị cho mình.
“Lúc bấy giờ, A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la ra lệnh các A-tu-la rằng: ‘Nay các ngươi hãy đi đánh nhau với bọn chúng. Nếu thắng, hãy bắt Thích đề-hoàn Nhân, trói với năm chỗ trói, rồi mang đến giảng đường Thất diệp. Ta muốn nhìn thấy.’ Các A-tu-la sau khi vâng lệnh của A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa, mỗi người tự trang bị cho mình.
“Bấy giờ, chư Thiên cùng chúng A-tu-la chiến đấu với nhau. Chư Thiên đắc thắng, và A-tu-la bại trận. Chư thiên Đao-lị bắt vua A-tu-la trói lại với năm chỗ trói, mang về chỗ Thiện pháp đường cho Thiên Đế Thích nhìn thấy. Khi ấy vua A-tu-la thấy sự khoái lạc ở trên Trời, sanh lòng quyến luyến vui thích, liền tự nghĩ: ‘Nơi này thù thắng, khả dĩ ở được; trở lại cung điện A-tu-la làm gì?’ Khi khởi lên ý nghĩ này, thì năm nơi đang bị trói trên thân lập tức được mở ra, và năm thứ dục lạc ở trên Trời hiện ra trước mắt. Nhưng khi A-tu-la nghĩ đến việc trở lại cung điện trước kia, thì năm nơi trên thân liền bị trói chặt trở lại, và năm thứ dục lạc tự biến mất. Khi ấy những nơi bị trói buộc trên thân của A-tu-la trở nên bền chắc hơn. Sự trói buộc của Ma còn hơn thế nữa. Chấp ta và của ta là sự trói buộc của Ma. Không chấp ta và của ta thì sự trói buộc của Ma được cởi mở. Chấp thủ ngã là bị trói, chấp thủ ái là bị trói, ‘ngã sẽ tồn tại’ là bị trói, ‘ngã sẽ không tồn tại’ là bị trói; ‘ngã có sắc ’ là bị trói, ‘ngã không sắc’ là bị trói, ‘ngã vừa có sắc vừa không có sắc’ là bị trói, ‘ngã có tưởng’ là bị trói, ‘ngã không có tưởng’ là bị trói, ‘ngã vừa có tưởng vừa không có tưởng’ là bị trói; ngã là tai hoạn lớn, là ung nhọt, là gai nhọn. Cho nên, đệ tử Hiền Thánh biết rằng ngã là tai hoạn lớn, là ung nhọt, là gai nhọn, nên xả bỏ ý tưởng về ngã mà tu vô ngã hành. Hãy quán sát tự ngã kia là một gánh nặng, là buông lung, là hữu; ‘sẽ tồn tại tự ngã’ là hữu vi, ‘sẽ không tồn tại tự ngã’ là hữu vi; ‘tự ngã có sắc’ là hữu vi, ‘tự ngã không có sắc’ là hữu vi, ‘tự ngã vừa có sắc vừa không có sắc’ là hữu vi; ‘tự ngã có tưởng’ là hữu vi, ‘tự ngã không có tưởng’ là hữu vi, ‘tự ngã vừa có tưởng vừa không có tưởng’ là hữu vi; hữu vi là tai hoạn lớn, là ung nhọt, là gai nhọn. Cho nên, đệ tử Hiền Thánh biết rằng hữu vi là tai hoạn lớn, là ung nhọt là gai nhọn, nên xả bỏ hữu vi mà thực hành vô vi hành.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Vào thuở xưa, khi Chư thiên cùng A-tu-la chiến đấu. Bấy giờ Thích đề-hoàn Nhân lệnh gọi Chư Thiên Đao-lị đến bảo rằng: ‘Nay các ngươi đi đánh nhau với bọn chúng. Nếu thắng, hãy bắt A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la, trói với năm chỗ trói, rồi mang đến giảng đường Thiện pháp. Ta muốn nhìn thấy.’ Chư Thiên Đao-lị sau khi vâng lệnh Đế Thích, mỗi người tự trang bị cho mình.
“Lúc bấy giờ, A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la ra lệnh các A-tu-la rằng: ‘Nay các ngươi hãy đi đánh nhau với bọn chúng. Nếu thắng, hãy bắt Thích đề-hoàn Nhân trói với năm chỗ trói, rồi mang đến giảng đường Thất diệp. Ta muốn nhìn thấy.’ Các A-tu-la sau khi vâng lệnh của A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la, mỗi người tự trang bị cho mình.
“Rồi thì, chư Thiên cùng chúng A-tu-la chiến đấu với nhau. Chư Thiên đắc thắng, và A-tu-la bại trận. Chư thiên Đao-lị bắt vua A-tu-la trói chặt với năm chỗ trói, mang về chỗ Thiện pháp đường cho Thiên đế Thích nhìn thấy. Lúc ấy, Thiên đế Thích thong thả dạo trên Thiện pháp đường. Vua A-tu-la từ xa trông thấy Đế Thích, tuy đang bị trói chặt với năm chỗ trói, vẫn mở miệng mắng chửi.
“Lúc bấy giờ, người hầu của Thiên đế, ở trước mặt Thiên đế liền nói kệ rằng:
Việc gì Thiên đế sợ,
Tự lộ yếu kém mình?
Bị mắng thẳng vào mặt,
Sao lặng nghe lời ác?”
“Thiên đế Thích đáp lại người hầu bằng bài kệ rằng:
Nó cũng không sức mạnh,
Ta cũng không sợ hãi.
Việc gì, người đại trí,
Hơn thua với kẻ ngu?
“Lúc bấy giờ, người hầu lại làm bài tụng tâu Đế Thích rằng:
Nay không bẻ đứa ngu,
E sau càng khó nhịn.
Hãy đánh nó bằng gậy,
Khiến kẻ ngu hối lỗi.
“Bấy giờ, Thiên đế Thích lại làm bài tụng trả lời người hầu rằng:
Ta thường bảo, người trí
Không tranh cùng kẻ ngu;
Nếu ngu mắng, trí im,
Là thắng kẻ ngu này.
“Khi ấy, người hầu lại làm bài tụng tâu Đế Thích rằng:
Thiên vương sở dĩ im,
Vì e giảm đức trí;
Nhưng kẻ ngu độn kia,
Cho rằng Vua sợ hãi.
Kẻ ngu không tự lượng,
Cho có thể địch Vua;
Liều chết đến xúc phạm,
Muốn Vua lui như bò.
“Bấy giờ, Thiên đế Thích lại làm bài tụng trả lời người hầu rằng:
Ngu kia không thấy biết,
Bảo ta lòng sợ hãi.
Ta quán đệ nhất nghĩa:
Nhịn im là tối thượng.
Điều xấu trong các xấu:
Trong sân lại nổi sân;
Ở trong sân không sân,
Là chiến đấu tối thượng.
Con người có hai duyên,
Vì mình cũng vì người;
Mọi người có tranh tụng,
Ai không tranh là thắng.
Con người có hai duyên,
Vì mình cũng vì người;
Thấy người không tranh tụng,
Lại cho là ngu đần.
Nếu người có sức lớn,
Nhịn được người không sức;
Sức này là đệ nhất,
Là tối thượng trong nhẫn.
Ngu tự cho mình mạnh,
Sức này chẳng là sức;
Người mạnh nhẫn như pháp,
Sức này không ngăn được.
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Lúc bấy giờ, Thiên đế Thích há là người nào khác sao? Không nên có ý nghĩ như vậy. Lúc ấy, Thiên đế Thích chính là bản thân Ta vậy. Vào lúc bấy giờ, Ta tu tập nhẫn nhục, không hành động nóng vội, thường thường khen ngợi người hay nhẫn nhục. Nếu có người trí nào muốn hoằng dương đạo của Ta, thì phải tu tập nhẫn nhục im lặng, chớ ôm lòng phẫn hận đấu tranh.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thuở xa xưa, Chư Thiên Đao-lị cùng A-tu-la đánh nhau. Bấy giờ Thích đề-hoàn Nhân nói với A-tu-la Chất-đa rằng: ‘Tại sao các khanh lại ôm lòng sân hại, trang bị binh khí, đánh nhau để làm gì? Nay ta sẽ cùng khanh giảng luận đạo lý, để biết rõ thắng thua.’ Lúc ấy, Chất-đa A-tu-la kia nói với Đế Thích rằng: ‘Giả sử, nếu vất bỏ binh khí, chỉ bàn luận tranh tụng về nghĩa lý thôi, vậy thì ai biết thắng bại?’ Đế Thích dạy rằng: ‘Chỉ cần bàn luận thôi, hiện tại trong chúng của ngươi, và trong chúng chư Thiên của Ta, tự có người có trí tuệ biết rằng ai thắng, ai bại.’ Lúc ấy, A-tu-la nói với Đế Thích rằng: ‘Nhà ngươi nói kệ trước đi.’ Đế Thích trả lời: ‘Nhà ngươi là Cựu thiên, nhà ngươi nên nói trước đi.’ Bấy giờ, Chất-đa A-tu-la liền đọc kệ cho Đế Thích nghe:
Nay không bẻ đứa ngu,
E sau càng khó nhịn.
Hãy đánh nó bằng gậy,
Khiến kẻ ngu hối lỗi.
“Sau khi A-tu-la nói bài kệ này xong, chúng A-tu-la phấn khởi vui mừng, cao tiếng khen hay. Chỉ có chúng chư Thiên là im lặng không nói. Rồi vua của A-tu-la nói với Đế Thích rằng: ‘Đến lượt ngươi nói kệ.’ Bấy giờ, Đế Thích liền nói kệ cho A-tu-la nghe:
Ta thường bảo, người trí
Không tranh cùng kẻ ngu;
Nếu ngu mắng, trí im,
Là thắng kẻ ngu này.
“Sau khi Thiên đế Thích nói bài kệ này xong, Chư Thiên Đao-lị đều rất đỗi vui mừng, cất tiếng khen hay. Lúc này chúng A-tu-la im lặng không nói. Bấy giờ, Thiên Đế Thích nói với A-tu-la rằng: ‘Đến lượt nhà ngươi nói kệ.’ Lúc này, A-tu-la lại nói kệ:
Thiên vương sở dĩ im,
Vì e giảm đức trí;
Nhưng kẻ ngu độn kia,
Cho rằng Vua sợ hãi.
Kẻ ngu không tự lượng,
Cho có thể địch Vua;
Liều chết đến xúc phạm,
Muốn Vua lui như bò.
“Sau khi A-tu-la nói bài kệ này xong, chúng A-tu-la nhảy nhót vui mừng, lớn tiếng khen hay. Lúc này chúng Đao-lị thiên im lặng không nói. Bấy giờ, A-tu-la vương nói với Đế Thích rằng: ‘Đến lượt nhà ngươi nói kệ.’ Thiên đế Thích bèn nói kệ cho A-tu-la nghe rằng:
Người ngu không thấy biết,
Bảo ta lòng sợ hãi.
Ta quán đệ nhất nghĩa:
Nhịn im là tối thượng.
Điều xấu trong các xấu:
Trong sân lại nổi sân;
Ở trong sân không sân,
Là chiến đấu tối thượng.
Con người có hai duyên,
Vì mình cũng vì người;
Mọi người có tranh tụng,
Ai không tranh là thắng.
Con người có hai duyên,
Vì mình cũng vì người;
Thấy người không tranh tụng,
Lại cho là ngu đần.
Nếu người có sức lớn,
Nhịn được người không sức;
Sức này là đệ nhất,
Là tối thượng trong nhẫn.
Ngu tự cho mình mạnh,
Sức này chẳng là sức;
Người mạnh nhẫn như pháp,
Sức này không ngăn được.
“Sau khi Thích Đề-hoàn Nhân nói bài kệ này xong, chúng Đao-lị thiên nhảy nhót vui mừng, cất tiếng khen hay; chúng A-tu-la thì im lặng không nói. Lúc này, chúng Trời, và chúng A-tu-la, tạm thời tự rút lui, cùng bảo nhau rằng: ‘Những bài kệ tụng của A-tu-la nói ra có điều xúc phạm, dấy lên sự đáp trả bằng đao kiếm, làm nảy sinh ra gốc rễ của đấu tranh và kiện tụng, nuôi lớn các oán kết, dựng lập gốc cây tam hữu. Còn những bài kệ tụng của Thiên đế Thích nói ra không gây kích động, không đưa đến đao kiếm, không sinh ra tranh đấu kiện tụng, không nuôi lớn oán kết, tuyệt gốc tam hữu. Những lời nói của Thiên Đế Thích là tốt lành; Chư thiên đã thắng, A-tu-la đã bại.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Lúc bấy giờ, Thiên đế Thích là người nào khác sao? Chớ có quan niệm này. Vì sao? Vì đó chính là bản thân Ta. Vào lúc bấy giờ, Ta dùng những lời nhu hòa mà thắng chúng A-tu-la.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thuở xa xưa, khi Chư thiên lại đánh nhau với A-tu-la lần nữa. Bấy giờ A-tu-la thắng, Chư thiên bại. Lúc ấy, Thích đề-hoàn Nhân sợ hãi, cỡi xe báu nghìn căm bỏ chạy. Giữa đường, ông thấy trên cây thiểm-bà-la có một tổ chim, trong tổ có hai con chim con, liền dùng kệ tụng bảo người điều khiển xe rằng:
Cây này có hai chim,
Người nên lui xe tránh,
Chẳng thà giặc hại ta,
Chớ thương tổn hai chim.
“Người điều khiển xe nghe Đế Thích nói kệ, liền dừng xe và quay xe tránh chim trên cây. Khi ấy, đầu xe quay về phía A-tu-la. Chúng A-tu-la từ xa nhìn thấy xe báu quay đầu lại, quân của chúng bảo nhau: ‘Giờ Thiên đế Thích cỡi xe báu nghìn căm quay đầu nhắm về phía chúng ta, có lẽ muốn giao đấu trở lại. Chúng ta không thể đương cự được!’ Chúng A-tu-la liền thối lui và tan rã, nhân đây mà chư Thiên chiến thắng, và A-tu-la bại tẩu.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Lúc bấy giờ, Đế Thích há là người nào khác sao? Chớ có quan niệm như vậy. Vì sao? Vì chính đó là bản thân Ta. Vào lúc bấy giờ, Ta đối với chúng sanh phát khởi lòng thương xót. Này các Tỳ-kheo, các ngươi ở trong pháp của Ta xuất gia tu đạo, thì nên phát khởi lòng từ bi, thương xót chúng sanh.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thuở xa xưa, khi chư Thiên cùng A-tu-la đánh nhau. Bấy giờ chư Thiên đắc thắng, và A-tu-la bại trận. Sau khi chiến thắng, Thiên đế Thích trở về cung, xây dựng một ngôi nhà đặt tên là Tối thắng, Đông Tây dài một trăm do-tuần, Nam Bắc rộng sáu mươi do-tuần. Ngôi nhà này gồm trăm gian, trong mỗi gian có bảy đài lưới giăng. Trên mỗi đài có bảy ngọc nữ; mỗi ngọc nữ có bảy người để sai. Thích đề-hoàn Nhân cũng không lo cung cấp các thứ trang điểm, áo chăn, đồ ăn thức uống; mà tất cả tùy theo hành vi đã tạo từ trước, mỗi người tự thọ lãnh phước báo ấy. Do chiến thắng A-tu-la, nên nhân đây lòng sinh vui mừng mà xây dựng ngôi nhà này, cho nên gọi là Tối thắng đường. Lại nữa, những ngôi nhà có được trong nghìn thế giới xem ra không có ngôi nhà nào bằng ngôi nhà này, cho nên gọi là Tối thắng.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thuở xa xưa, A-tu-la tự nghĩ rằng: ‘Ta có oai đức lớn, thần lực không phải ít, nhưng Đao-lị-thiên, mặt trời, mặt trăng, Chư Thiên thường ở nơi hư không, du hành tự tại trên đỉnh đầu ta. Nay ta hãy lấy mặt trời, mặt trăng này làm ngọc đeo tai, thử chúng có còn du hành tự tại được không?’
“Rồi, vua A-tu-la nổi lòng sân hận cực độ, liền nghĩ đến A-tu-la Chùy Đỏa; A-tu-la Chùy Đỏa lại nghĩ rằng: ‘Hiện nay, vua A-tu-la đã nghĩ đến ta, chúng ta nên nhanh chóng trang bị.’ Liền ra lệnh tả hữu chuẩn bị binh khí đầy đủ, cỡi cỗ xe báu, cùng với vô số chúng A-tu-la theo dẫn đường trước sau, đến trước vua A tu luân, đứng một bên.
“Bấy giờ, vua lại nghĩ đến A-tu-la Xá-ma-lê. A-tu-la Xá-ma-lê lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay, vua đã nghĩ đến ta, chúng ta nên nhanh chóng trang bị.’ Liền ra lệnh tả hữu chuẩn bị binh khí đầy đủ, cỡi cỗ xe báu, cùng với vô số chúng A-tu-la theo dẫn đường trước sau, đến trước chỗ vua A tu luân, đứng một bên.
“Bấy giờ, vua lại nghĩ đến Tỳ-ma-chất-đa A tu luân. Tỳ-ma-chất-đa A-tu-la lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay, vua đang nghĩ đến ta, chúng ta nên nhanh chóng trang bị.’ Liền ra lệnh tả hữu chuẩn bị binh khí đầy đủ, cỡi cỗ xe báu, cùng với vô số chúng A-tu-la theo dẫn đường trước sau, đến trước chỗ vua A tu luân, đứng một bên.
“Bấy giờ, vua lại nghĩ đến Đại thần A tu luân; Đại thần A-tu-la lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay, vua đang nghĩ đến ta. Chúng ta nên nhanh chóng trang bị.’ Liền ra lệnh tả hữu chuẩn bị binh khí đầy đủ, cỡi cỗ xe báu, cùng với vô số chúng A-tu-la theo dẫn đường trước sau, đến trước vua A tu luân, đứng một bên.
“Bấy giờ, vua lại nghĩ đến các Tiểu A tu luân. Các Tiểu A-tu-la lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay, vua đang nghĩ đến ta. Chúng ta nên nhanh chóng trang bị.’ Liền ra lệnh tả hữu chuẩn bị binh khí đầy đủ, cỡi cỗ xe báu, cùng với vô số chúng A-tu-la theo dẫn đường trước sau, đến trước vua A tu luân, đứng một bên.
“Bấy giờ, vua A-tu-la là La-ha liền tự mình trang bị, mình mặc áo giáp đồng báu, đóng ngựa vào các cỗ xe báu, cùng với vô số trăm nghìn chúng A-tu-la và binh khí trang bị, vây quanh trước sau, ra khỏi chỗ ở của chúng, muốn đến đánh nhau cùng chư Thiên.
“Bấy giờ, Nan-đà Long vương, và Bạt-nan-đà Long vương dùng thân mình quấn quanh núi Tu-di bảy vòng làm chấn động cả sơn cốc, trải một lớp mỏng mây mờ, lơ thơ từng giọt mưa rơi, và dùng đuôi đập vào nước biển làm cho nước biển dậy sóng, dâng lên đến đỉnh núi Tu-di. Lúc bấy giờ, Đao-lị thiên liền tự nghĩ: ‘Nay, mây mờ giăng mỏng, lơ thơ từng giọt mưa rơi, nước biển dậy sóng, lên đến tận nơi này, chắc thế nào A-tu-la cũng muốn đến đây gây chiến, nên có những điềm lạ này chăng?’
“Lúc này, nhiều vô số ức vạn binh chúng các loài rồng trong biển, đều cầm dáo mác, cung tên, đao kiếm, áo giáp đồng dày, và trang bị binh khí tề chỉnh, đối đầu cùng quân binh A-tu-la chiến đấu. Khi binh chúng các loài rồng mà thắng, thì lập tức đuổi A-tu-la vào trong cung điện của chúng. Nếu các loài rồng mà bị bại, các loài rồng không trở lại cung điện, mà sẽ chạy đến chỗ quỷ thần Già-lâu-la báo cáo rằng: ‘Chúng A-tu-la muốn đánh nhau với Chư thiên. Chúng tôi đã đón đánh. Nhưng hiện chúng đang đắc thắng. Các ngươi nên chuẩn bị các thứ binh khí, binh chúng cùng sức mạnh, để chiến đấu cùng với chúngï.’
“Các quỷ thần Già-lâu-la nghe vậy, lập tức tự trang bị, chuẩn bị các đồ binh khí, áo giáp đồng dày, cùng các loài rồng hợp tác chiến đấu chống lại A tu luân. Nếu mà thắng, họ lập tức đuổi A-tu-la vào trong cung điện của chúng. Nếu mà bị bại, họ không trở lại cung điện, mà sẽ chạy lui đến chỗ quỷ thần Trì Hoa báo cáo rằng: ‘Chúng A-tu-la muốn chiến đấu cùng Chư thiên. Chúng tôi đã đón đánh. Nhưng hiện chúng đang thắng. Các ngươi nên chuẩn bị các thứ binh khí, binh chúng cùng sức mạnh, để đánh nhau với chúng.’
“Các quỷ thần Trì Hoa nghe các loài rồng (và các quỷ thần Già-lâu-la) bao cáo, liền tự trang bị, chuẩn bị các đồ binh khí, áo giáp đồng dày, binh chúng cùng sức mạnh, cùng chiến đấu lại A tu luân. Nếu mà thắng, họ lập tức đuổi A-tu-la vào trong cung điện của chúng. Nếu mà bị bại, họ không trở lại cung điện, mà sẽ chạy đến chỗ quỷ thần Thường Lạc báo cáo rằng: ‘Chúng A-tu-la muốn đánh nhau cùng Chư thiên. Chúng tôi đã đón đánh. Nhưng hiện chúng đang thắng. Các ngươi nên chuẩn bị các thứ binh khí, cùng sức mạnh, để đánh nhau với chúng.’
“Sau khi các quỷ thần Thường Lạc nghe báo cáo vậy, liền tự trang bị, chuẩn bị các đồ binh khí, áo giáp đồng dày, binh chúng cùng sức mạnh, cùng chiến đấu lại A tu luân. Nếu mà thắng, họ lập tức đuổi A-tu-la vào trong cung điện của chúng. Nếu mà bị bại, họ không trở lại cung điện, mà sẽ chạy đến Tứ thiên vương báo cáo rằng: ‘Chúng A-tu-la muốn chiến đấu cùng Chư thiên. Chúng tôi đã đón đánh. Nhưng hiện chúng đang thắng. Các ngài nên chuẩn bị các thứ binh khí, binh chúng cùng sức mạnh, để đánh nhau với chúng.’
“Sau khi Tứ thiên vương nghe những báo cáo này rồi, liền tự trang bị, chuẩn bị các đồ binh khí, áo giáp đồng dày, binh chúng cùng sức mạnh, cùng chiến đấu lại A tu luân. Nếu mà thắng, họ lập tức đuổi A-tu-la vào trong cung điện của chúng. Nếu không thắng, Tứ thiên vương sẽ đến giảng đường Thiện pháp, tâu Thiên Đế Thích và Chư thiên Đao-lị rằng: ‘Chúng A-tu-la muốn chiến đấu cùng Chư thiên. Nay Chư thiên Đao-lị hãy tự trang bị, chuẩn bị binh khí, binh chúng cùng sức mạnh, để đi đánh nhau với chúng.’
“Bấy giờ, Thiên đế Thích ra lệnh cho người hầu rằng: ‘Ngươi đem lời nói của ta đến báo lại cho Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa Tự Tại thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên rằng: ‘A-tu-la cùng vô số chúng muốn đến chiến đấu. Nay Chư thiên nên tự trang bị, chuẩn bị các đồ binh khí để hổ trợ ta chiến đấu.’
“Bấy giờ, người hầu này vâng lệnh của Đế Thích, liền đến Diệm-ma thiên,… cho đến Tha Hóa Tự Tại thiên, đem những lời của Đế Thích mà báo cáo rằng: ‘A-tu-la cùng vô số chúng muốn đến chiến đấu. Nay Chư thiên nên tự trang bị, chuẩn bị binh khí để hổ trợ ta chiến đấu.’
“Diệm-ma thiên sau khi nghe những lời này rồi, liền tự trang bị, chuẩn bị các đồ binh khí, áo giáp đồng dày, đóng xe báu vào ngựa, cùng vô số trăm nghìn thiên chúng trước sau vây quanh, đóng binh tại phía Đông của núi Tu-di. Thiên tử Đâu-suất nghe những báo cáo này rồi, cũng liền tự trang bị, chuẩn bị các đồ binh khí, áo giáp đồng dày, đóng xe báu vào ngựa, cùng vô số trăm nghìn thiên chúng, đóng binh tại phía Nam của núi Tu-di. Các thiên tử Hóa Tự Tại thiên nghe những lời này rồi, cũng trang bị binh chúng, đóng binh tại phía Tây của núi Tu-di. Các thiên tử Tha Hóa Tự Tại thiên nghe những lời này rồi, cũng trang bị binh chúng, đóng binh tại phía bắc của núi Tu-di.
“Khi Thiên đế Thích nghĩ đến ba mươi ba vị thiên thần của Đao-lị thiên, ba mươi ba vị thiên thần của Đao-lị thiên tự nghĩ rằng: ‘Hiện tại Thiên đế Thích đang nghĩ đến ta. Vậy chúng ta nên nhanh chóng trang bị.’ Họ liền ra lệnh tả hữu chuẩn bị các đồ binh khí, cỡi cỗ xe báu, cùng vô số chúng Chư thiên trước sau vây quanh, đến trước Thiên đế Thích, đứng một bên.
“Khi Thiên đế Thích nghĩ đến các thiên thần khác của Đao-lị, các thiên thần khác của Đao-lị liền tự nghĩ rằng: ‘Hiện tại Đế Thích đang nghĩ đến ta. Vậy chúng ta nên nhanh chóng trang bị.’ Họ liền ra lệnh tả hữu chuẩn bị các đồ binh khí, đóng xe báu vào ngựa, cùng vô số chúng Chư thiên trước sau vây quanh, đến trước Đế Thích, đứng một bên.
“Khi Thiên đế Thích nghĩ đến quỷ thần Diệu Tượng, quỷ thần Diệu Tượng liền tự nghĩ rằng: ‘Hiện tại Đế Thích đã nghĩ đến ta. Vậy chúng ta nên nhanh chóng trang bị.’ Liền ra lệnh tả hữu chuẩn bị các đồ binh khí, đóng xe báu vào ngựa, cùng vô số thiên chúng trước sau vây quanh, đến đứng trước Đế Thích.
“Khi Đế Thích nghĩ đến Long vương Thiện Trụ, Long vương Thiện Trụ tự nghĩ rằng: ‘Nay Thiên đế Thích nghĩ đến ta, nay ta nên đến.’ Long vương liền đi đến đứng trước Đế Thích.
“Lúc bấy giờ, Đế Thích liền tự trang bị, chuẩn bị các đồ binh khí, mình mặc áo giáp đồng báu, cỡi trên đỉnh đầu Long vương Thiện Trụ, cùng vô số Chư thiên quỷ thần trước sau vây quanh, tự ra khỏi thiên cung, đánh nhau với A-tu-la.
“Đồ vật trang bị như các thứ binh khí, đao kiếm, dáo, mác, cung tên, rìu, đục, búa lớn, búa nhỏ, bánh xe quay, dây tơ cột, binh khí, áo giáp đồng, tất cả đều dùng bảy báu để tạo thành. Lại dùng mũi nhọn đâm thêm vào người A-tu-la, nhưng thân ông ta vẫn không bị thương tổn, chỉ chạm vào bên ngoài khi đâm mà thôi. Chúng A-tu-la tay cũng cầm đao kiếm bảy báu, dáo mác, cung tên, rìu đục, búa lớn, búa nhỏ, bánh xe quay, dây cột bằng tơ, và dùng mũi nhọn đâm thêm vào thân Chư thiên, nhưng cũng chỉ chạm đến bên ngoài mà thôi, không gây bất cứ thương tổn nào.
“Như vậy, chính do dục mà khiến chư Thiên cùng A-tu-la đánh nhau; do bởi nhân là dục như vậy.”
PhẨm 11: BA TRUNG KIẾP
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Có ba trung kiếp. Những gì là ba? Một là kiếp đao binh. Hai là kiếp đói kém. Ba là kiếp tật dịch.
“Thế nào là kiếp đao binh?
“Người thế gian này vốn thọ bốn vạn tuổi. Sau đó giảm xuống, thọ hai vạn tuổi. Sau đó lại giảm nữa, thọ một vạn tuổi. Lần lượt giảm, thọ một ngàn năm, năm trăm năm, ba trăm năm, hai trăm năm. Như nay con người thọ một trăm tuổi, với số ít vượt quá, mà phần nhiều là dưới.
“Sau đó, tuổi thọ con người giảm dần xuống còn mười tuổi. Khi đó, người nữ sinh ra chừng năm tháng là đi lấy chồng. Bấy giờ, các loại mỹ vị có được trong thế gian như bơ sữa, mật, đường mía, đường đen, những gì có vị ngon, tự nhiên biến mất; ngũ cốc không sinh sản, chỉ còn có loại lúa hoang mà thôi. Lúc bấy giờ, các loại y phục cao cấp như gấm vóc, lụa là, kiếp bối, sô-ma, tất cả đều không còn nữa, mà chỉ còn có loại vải dệt thô sơ bằng cỏ. Bấy giờ, mặt đất này hoàn toàn chỉ sinh gai gốc, muỗi mòng, ong, bọ cạp, rắn, rết, trùng độc; còn vàng bạc, lưu ly, bảy báu, châu ngọc, tự nhiên chúng bị vùi vào đất hết, và chỉ có đá, cát, các thứ xấu xí là dẫy đầy. Lúc này chúng sanh chỉ làm mười điều ác càng ngày càng tăng, không còn nghe đến danh từ mười điều thiện, cho đến không có cả danh từ thiện, huống chi là có người làm việc thiện! Bấy giờ, trong loài người ai không có hiếu với cha mẹ, không kính trọng sư trưởng, hay làm việc ác thì được cúng dường, được mọi người cung kính hầu hạ. Cũng người nay ai hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư trưởng, thường làm việc lành, thì được cúng dường, được mọi người cung kính hầu hạ, thời bấy giờ người làm việc ác kia lại cũng được cúng dường như vậy. Bây giờ, con người thân hoại mạng chung bị đọa vào trong súc sanh, cũng như con người hiện tại được sinh lên cõi trời. Lúc đó con người gặp nhau thường ôm lòng độc hại, chỉ muốn giết nhau. Cũng giống như thợ săn gặp được đàn nai, chỉ muốn giết chúng, không có bất cứ một ý nghĩ thiện nào; con người lúc đó cũng như vậy, chỉ muốn giết nhau, không có một chút ý nghĩ thiện nào. Bấy giờ, mặt đất này chỉ là sông ngòi, khe suối, núi đồi, đất đống, không có chỗ đất nào bằng phẳng cả. Khi có người đi đến, tức thì kinh sợ, run rẩy, lông tóc dựng đứng.
“Bấy giờ, trong vòng bảy ngày có sự nổi lên của kiếp đao kiếm. Lúc ấy, những thứ cỏ, cây, ngói, đá mà con người cầm trong tay đều biến thành đao kiếm; những thứ đao kiếm này rất bén nhọn, đụng đến vật gì thì vật đó đều sẽ bị cắt đứt. Chúng sát hại lẫn nhau. Trong lúc này có người có trí tuệ thấy đao binh sát hại nhau nên hoảng sợ tránh vào núi rừng, hang động, khe suối, những chỗ không người. Trốn tránh trong vòng bảy ngày, tâm nghĩ miệng tự nói: ‘Ta không hại người, người chớ hại ta.’ Trong vòng bảy ngày người này chỉ ăn rễ cây cỏ để tự nuôi sống mình. Qua bảy ngày, sau đó mới lại ra khỏi rừng núi. Lúc này, gặp được một người, vui mừng nói rằng: ‘Nay gặp được người còn sống! Nay gặp được người còn sống!’ Cũng giống như cha mẹ vì gặp lại một người con bị thất lạc lâu ngày không thấy nhau, nên vui mừng nhảy nhót mà không thể tự kiềm chế chính mình được, thì sự kiện người này cũng như vậy, vì sự vui mừng nên nhảy nhót mà không thể tự kiềm chế được cảm xúc vui nơi chính mình. Khi ấy thì người dân trong vòng bảy ngày chỉ có khóc lóc mà thôi; cũng trong vòng bảy ngày này họ lại cùng gặp vui nên vui vẻ chúc mừng nhau. Người lúc bấy giờ khi thân hoại mạng chung đều đọa vào địa ngục. Vì sao? Vì con người ấy luôn luôn ôm lòng sân hận và phẫn nộ, họ chỉ có một tâm hại nhau mà thôi, vì không có tâm nhân từ nên gọi là kiếp đao binh.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thế nào gọi là kiếp đói kém? Con người bấy giờ phần nhiều làm những việc phi pháp, tà kiến điên đảo, làm mười nghiệp ác. Vì làm mười nghiệp ác nên trời không mưa xuống, làm cho trăm thứ cỏ cây chết khô, ngũ cốc không thành, mà chỉ có gốc rạ mà thôi.
“Thế nào gọi là đói kém? Vì lúc bấy giờ, người dân phải thu quét những hạt thóc còn rơi rớt lại các nơi như ruộng vườn, đường sá, đầu ngõ, và trong phân đất để tự sống còn, nên mới gọi là đói kém.
“Lại nữa, lúc đói kém, người bấy giờ lượm nhặt xương cốt từ những nơi như lò sát sanh, chợ búa, các đường sá và các bãi tha ma, rồi nấu nước trấp mà uống, nhờ vậy mà họ sống, nên gọi là ‘đói xương trắng’.
‘Lại nữa, vào kiếp đói kém, ngũ cốc được gieo trồng đều biến thành cỏ cây. Con người lúc này lấy bông nấu nước trấp để uống. Lại nữa, vào thời đói kém, bông của các loài cây cỏ rụng phủ kín cả mặt đất, lúc ấy mọi người phải đào đất lấy bông để nấu ăn, nhờ vậy mà tự tồn tại, nên gọi là ‘đói cây cỏ’. Bấy giờ, chúng sanh thân hoại mạng chung đọa vào trong ngạ quỷ. Sao vậy? Vì những người sống trong kiếp đói kém này, thường ôm lòng tham lam keo bẩn, không có lòng bố thí nhân ái, không chịu chia xẻ cùng người, và không nhớ nghĩ đến những tai ách của người khác.
“Đấy là kiếp đói kém.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thế nào là kiếp tật dịch ? Người đời bấy giờ, tu hành Chánh pháp, chánh kiến không điên đảo, đầy đủ thập thiện hành. Có quỷ thần thế giới phương khác đến, mà quỷ thần ở đây thì buông lung dâm loạn, không thể hộ vệ con người được. Quỷ thần thế giới khác xâm lấn, nhiễu loạn con người thế gian này, họ dùng tay đánh đập, dùng gậy quật ngã, rồi hút lấy tinh khí, khiến cho tâm người loạn lên, rồi cưỡng bức mang đi. Giống như quốc vương ra lệnh cho các tướng soái những thứ phải bảo vệ, nhưng giặc cướp ở phương khác đến xâm phạm quấy nhiễu, mà các tướng soái ở đây lại buông lung, nên nước nhà bị chúng cướp mất. Ở đây cũng vậy, những quỷ thần ở thế giới khác đến bắt giữ mọi người ở thế gian này, chúng đánh đập, quật ngã, rồi hút lấy tinh khí mọi người, và cưỡng bức mang đi.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Giả sử quỷ thần ở thế gian này dù không buông lung dâm loạn, nhưng khi quỷ thần có sức mạnh lớn ở thế giới khác đến, thì quỷ thần ở thế gian này cũng phải sợ hãi mà đi trốn. Các đại quỷ thần kia bèn xâm lấn, quấy nhiễu người ở đây, đánh đập, quật ngã, hút lấy tinh khí, giết chết rồi bỏ đi. Giống như Quốc vương, hay Đại thần của quốc vương sai khiến các tướng soái bảo vệ nhơn dân; tuy tất cả các tướng lãnh này đều trong sạch thận trọng, không buông lung, nhưng khi các tướng soái mạnh bạo, có binh lính đông đảo kia lại đến khuấy phá thành ấp, làng xóm, mà cướp đoạt người vật. Ở đây lại cũng như vậy, nếu quỷ thần ở thế gian này dù không dám buông lung đi nữa, nhưng khi các quỷ thần có sức mạnh lớn ở thế giới khác đến, thì các quỷ thần thế gian này cũng sẽ sợ hãi tránh đi, và những hàng quỷ thần lớn mạnh kia sẽ xâm đoạt, nhiễu hại người thế gian này; đánh đập, quật ngã, hút lấy tinh khí, và giết hại mọi người rồi bỏ đi.
“Khi ấy, người dân trong kiếp tật dịch, sau khi thân hoại mạng chung đều sinh lên cõi trời. Vì sao? Vì con người lúc ấy đều hướng tâm từ bi đến nhau, thăm hỏi nhau: ‘Bệnh tật của bạn có giảm không? Thân thể có được an ổn không?’ Vì những nhân duyên này, nên họ được sinh lên cõi trời. Cho nên gọi là kiếp tật dịch.
“Đó là ba trung kiếp.”
PhẨm 12: THẾ BỔN DUYÊN
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Sau khi qua khỏi hỏa tai, khi trời đất của thế gian này sắp sửa thành tựu trở lại, một số chúng sanh khác phước hết, hành hết, mạng hết, mạng chung ở cõi trời Quang Âm thiên, sinh vào cung điện Phạm thiên trống không, rồi sinh tâm đắm nhiễm chỗ đó, yêu thích chỗ đó, nên nguyện cho chúng sanh khác cũng sinh vào nơi này. Sau khi phát sanh ý nghĩ này rồi, thì những chúng sanh khác phước hết, hành hết, mạng hết, từ cõi trời Quang Âm thiên, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cung điện Phạm thiên trống không. Bấy giờ, vị Phạm thiên sinh ra trước liền tự nghĩ rằng: ‘Ta là Phạm vương, là Đại Phạm thiên vương, không có ai sáng tạo ra ta, ta tự nhiên mà có, không bẩm thọ cái gì từ ai hết; ở trong một nghìn thế giới ta hoàn toàn tự tại, thông rõ các nghĩa lý, giàu có sung mãn, có khả năng tạo hóa vạn vật; ta là cha mẹ của tất cả chúng sanh.’
“Các Phạm thiên sanh sau lại tự nghĩ rằng: ‘Vị Phạm thiên sanh trước kia là Phạm vương, là Đại Phạm thiên vương. Vị ấy tự nhiên mà có, không do ai có sáng tạo; là đấng Tối Tôn ở trong một nghìn thế giới, không bẩm thọ từ ai cái gì, thông rõ các nghĩa lýù, giàu có sung mãn, có khả năng sáng tạo vạn vật, là cha mẹ của tất cả chúng sanh. Ta từ vị ấy mà có.’
“Nhan sắc dung mạo của vị Phạm thiên vương này thường như đồng tử, cho nên Phạm vương được gọi là Đồng tử.
“Hoặc có lúc, khi thế giới này chuyển thành trở lại, phần lớn chúng sanh có kẻ sinh về Quang Âm thiên, bằng hóa sinh tự nhiên, sống bằng thức ăn là sự hoan hỉ, mình phát ra ánh sáng, có thần túc bay trong hư không, an vui không ngại, mạng sống lâu dài. Sau đó thế gian này biến thành đại hồng thủy, tràn ngập khắp nơi. Vào lúc bấy giờ thiên hạ hoàn toàn tối tăm, không có mặt trời mặt trăng, tinh tú, ngày đêm, và cũng không có năm tháng hay con số bốn mùa. Sau đó, khi thế gian này bắt đầu sắp chuyển biến, một số chúng sanh khác phước hết, hành hết, mạng hết, từ cõi Quang Âm thiên sau khi mạng chung sinh đến thế gian này, bằng hóa sinh, và ăn bằng sự hoan hỷ, tự thân phát sáng, có thần túc bay trong hư không, an vui không ngại, sống lâu dài ở đây. Khi ấy, không có nam nữ, tôn ty, trên dưới, cũng không có những tên khác nhau. Các chúng cùng sinh ở thế gian này, cho nên gọi là chúng sinh.
“Bấy giờ, đất này tự nhiên phát sinh ra vị đất, ngưng tụ trong đất. Cũng như đề hồ, vị đất khi xuất hiện cũng như vậy; giống như sanh tô, vị ngọt như mật. Sau đó chúng sanh dùng tay nếm thử để biết vị ra sao. Vừa mới nếm, liền có cảm giác ngon, nên sanh ra mê đắm vị ấy. Như vậy, lần lượt nếm mãi không thôi nên sanh ra tham đắm, bèn lấy bàn tay mà vốc, dần thành thói ăn bốc. Ăn bốc mãi như thế, những chúng sanh khác thấy vậy lại bắt chước ăn, và cách ăn này không bao giờ chấm dứt. Khi ấy, những chúng sanh này thân thể trở nên thô kịch, ánh sáng mất dần, không còn có thần túc, không thể bay đi. Bấy giờ, chưa có mặt trời mặt trăng. Ánh sáng của chúng sanh biến mất. Khi ấy, trời đất hoàn toàn tối om, không khác như trước. Một thời gian lâu, rất lâu về sau, có một trận cuồng phong mạnh nổi lên thổi nước biển lớn, sâu tám vạn bốn nghìn do-tuần, khiến cho biển bị tách làm hai, mang cung điện mặt Trời đặt ở lưng núi Tu-di, an trí quỹ đạo mặt Trời, mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây, đi quanh khắp thiên hạ.
“Nhật cung thứ hai mọc từ phương Đông, lặn phương Tây. Chúng sanh khi ấy nói: ‘Đấy là ngày hôm qua’ hoặc nói: ‘Không phải ngày hôm qua.’
“Nhật cung thứ ba đi quanh núi Tu-di, mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây. Chúng sanh khi ấy bảo rằng: ‘Nhất định là một ngày’. Ngày, có nghĩa là nhân của ánh sáng đi trước, do đó gọi là ngày. Mặt trời có hai nghĩa: một, trụ thường độ; hai, cung điện. Nhìn xa từ bốn hướng, cung điện có hình tròn. Nóng lạnh dễ chịu, được tạo thành bởi vàng của trời; được xen bằng pha lê. Hai phần là vàng trời, thuần chân không pha tạp; trong suốt từ trong ra ngoài, ánh sáng rọi xa. Một phần là pha lê, thuần chân không tạp, trong suốt từ trong ra ngoài, ánh sáng rọi xa.
“Nhật cung rộng năm mươi mốt do-tuần. Đất và vách tường của cung điện mỏng như bẹ lau.
“Tường cung có bảy lớp, với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp chuông báu, bảy lớp hàng cây, các trang trí chung quanh đều được làm bằng bảy báu. Tường bằng vàng thì cửa bằng bạc, tường bạc thì cửa vàng; tường lưu ly thì cửa thủy tinh, tường thủy tinh thì cửa lưu ly; tường ngọc đỏ thì cửa mã não, tường mã não thì cửa ngọc đỏ; tường xa cừ thì cửa bằng các thứ báu, tường bằng các thứ báu thì cửa xa cừ. Lại nữa, các lan can kia, nếu thanh ngang bằng vàng thì cọc bằng bạc, thanh ngang bạc thì cọc vàng; thanh ngang lưu ly thì cọc thủy tinh, thanh ngang thủy tinh thì cọc lưu ly; thanh ngang ngọc đỏ thì cọc mã não, thanh ngang mã não thì cọc ngọc đỏ; thanh ngang bằng các loại báu thì cọc bằng xa cừ, thanh ngang xa cừ thì cọc là các loại báu. Lưới vàng thì linh bạc, lưới bạc thì linh vàng; lưới thủy tinh thì linh lưu ly, lưới lưu ly thì linh thủy tinh; lưới ngọc đỏ thì linh mã não, lưới mã não thì linh ngọc đỏ; lưới xa cừ thì linh bằng các loại báu, lưới bằng các loại báu thì linh xa cừ. Những cây bằng vàng này thì lá, hoa, quả bạc; cây bằng bạc thì lá, hoa, quả bằng vàng; cây bằng lưu ly thì hoa quả thủy tinh, cây thủy tinh thì hoa quả lưu ly; cây bằng ngọc đỏ thì hoa quả mã não, cây mã não thì hoa quả ngọc đỏ; cây bằng xa cừ thì hoa quả các loại báu, cây là các loại báu thì hoa quả là xa cừ. Tường của cung điện có bốn cửa, cửa của nó có bảy bực thềm, bao quanh bằng lan can; có lầu các đền đài, ao tắm, vườn rừng đều theo thứ lớp đối nhau, sanh các loại hoa báu, hàng nào hàng nấy đều xứng nhau; có nhiều loại cây ăn trái, hoa lá nhiều màu sắc, hương thơm ngạt ngào của cây cỏ lan tỏa xa khắp bốn phương, cùng các loài chim ríu rít hòa vang.
“Nhật cung điện kia, được duy trì bởi năm loại gió. Một là trì phong, hai là dưỡng phong, ba là thọ phong, bốn là chuyển phong, năm là điều phong. Điện chính, nơi Nhật thiên tử ngự, hoàn toàn được xây dựng bằng vàng ròng, cao mười sáu do-tuần. Điện có bốn cửa, đều có lan can bao quanh. Tòa của Nhật thiên tử rộng nửa do-tuần, làm bằng bảy báu, trong sạch mềm mại, giống như thiên y. Nhật thiên tử tự thân phóng ra ánh sáng chiếu điện vàng; ánh sáng điện vàng chiếu khắp Nhật cung; ánh sáng của Nhật cung lại chiếu ra khắp bốn phương thiên hạ. Tuổi thọ của Nhật thiên tử năm trăm năm nhà trời; con cháu đều kế thừa nhau không bao giờ gián đoạn. Cung điện này không bao giờ bị hoại diệt, trong vòng thời gian là một kiếp. Khi cung điện mặt trời di chuyển, thì Nhật thiên tử không có ý di chuyển rằng: ‘Ta đi. Ta dừng.’Mà chỉ luôn luôn hưởng thụ ngũ dục. Lúc mà cung điện mặt trời vận hành thì vô số trăm nghìn Chư Thiên, thiên thần đi theo dẫn đường trước, hoan hỷ không mệt mỏi, thích đi nhanh nhẹn, vì vậy Nhật thiên tử được gọi là ‘Nhanh nhẹn.’
“Thân Nhật thiên tử phát ra nghìn tia sáng; năm trăm tia sáng chiếu xuống, và năm trăm tia sáng chiếu chung quanh, đó là vì công đức của nghiệp đời trước nên có nghìn tia sáng này. Thế nên Nhật thiên tử còn gọi là Thiên Quang. Thế nào là công đức của nghiệp đời trước? Hoặc có một người phát tâm cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn, cùng cứu giúp những người đói khát cùng khốn, cho họ đồ ăn thức uống, y phục, thuốc thang, voi ngựa, xe cộ, phòng xá, đèn đuốc, tùy thời ban phát, tùy theo nhu cầụ, không trái ý người, và cúng dường cho các vị Hiền Thánh trì giới. Do bởi nhân duyên vô số pháp hỷ quang minh khác nhau kia, mà thiện hoan hỷ. Như vua Quán đảnh dòng Sát-lị lúc bắt đầu lên ngôi, thiện tâm hoan hỷ cũng lại như vậy. Do nhân duyên này, thân hoại mạng chung làm Nhật thiên tử, được Nhật cung điện, có nghìn tia sáng, cho nên nói là nghiệp lành được nghìn tia sáng.
“Lại nữa, do duyên gì mà gọi là ánh sáng của nghiệp đời trước? Hoặc có người không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không hai lưỡi, không ác khẩu, không nói dối, không ỷ ngữ, không tham giữ, không sân nhuế, không tà kiến, vì những nhân duyên này mà tâm lành hoan hỷ. Giống như đầu ngã tư đường có hồ tắm lớn trong mát không nhơ, có người đi xa, mệt mỏi nóng khát, lại vào trong hồ nước này tắm rửa cho mát mẻ rồi cảm thấy vui mừng yêu thích; người thực hành mười điều lành, tâm lành vui mừng của họ lại cũng như vậy. Thân người này sau khi thân hoại mạng chung, làm Nhật thiên tử, sống ở Nhật cung điện, có nghìn tia sáng, vì nhân duyên này cho nên gọi là ánh sáng nghiệp lành.
“Lại nữa, vì duyên gì gọi là nghìn tia sáng? Hoặc có người không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không dối, không uống rượu; do những nhân duyên này, mà thiện tâm hoan hỷ; thân hoại mạng chung, làm Nhật thiên tử, sống ở Nhật cung điện, có nghìn tia sáng. Do những nhân duyên như vậy nên gọi là nghìn tia sáng nghiệp lành.
“Trong sáu mươi niệm khoảnh gọi là một la-da, ba mươi la-da gọi là ma-hầu-đa, trăm ma-hầu-đa gọi là ưu-ba-ma. Nhật cung điện mỗi năm có sáu tháng đi theo hướng Nam, mỗi ngày di chuyển ba mươi dặm; cực Nam không vượt qua khỏi Diêm-phù-đề. Mặt trời di chuyển về hướng Bắc, cũng vậy.
“Vì duyên gì nên ánh sánh mặt trời nóng bức? Có mười nhân duyên. Những gì là mười? Một, ngoài núi Tu-di có núi Khư-đà-la cao bốn vạn hai nghìn do-tuần, rộng bốn vạn hai nghìn do-tuần, biên núi không ước lượng được; núi được tạo thành bởi bảy báu. Khi ánh sáng mặt trời chiếu đến núi, xúc chạm mà phát sinh ra nhiệt. Đây là duyên thứ nhất ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Hai, bên ngoài núi Khư-đà-la có núi Y-sa-đà cao hai vạn một nghìn do-tuần, rộng cũng hai vạn một nghìn do-tuần, chu vi là vô lượng, tạo thành bởi bảy báu, khi ánh sáng chiếu đến núi này, xúùc chạm mà phát sinh ra nhiệt. Đó là duyên thứ hai ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Ba, bên ngoài núi Y-sa-đà có núi Thọ-đề-đà-la, bên trên cao một vạn hai nghìn do-tuần, rộng một vạn hai nghìn do-tuần, chu vi là vô lượng, tạo thành bởi bảy báu. Khi ánh sáng mặt trời chiếu đến núi này, xúc chạm mà phát sinh ra nhiệt. Đó là duyên thứ ba ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Bốn, ở ngoài cách núi Thọ-đề-đa-la không xa có núi gọi là Thiện kiến, cao sáu nghìn do-tuần, rộng sáu nghìn do-tuần, chu vi là vô lượng, núi được hình thành bởi bảy báu, khi ánh sáng mặt trời chiếu đến sẽ phát sinh ra nhiệt, đó là duyên thứ tư để ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Năm, ở ngoài núi Thiện kiến có núi Mã tự cao ba nghìn do-tuần, ngang rộng cũng ba nghìn do-tuần, chu vi là vô lượng, núi được hình thành bởi bảy báu, khi ánh sáng mặt trời chiếu đến sẽ phát sinh ra nhiệt, đó là duyên thứ năm để ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Sáu, ở ngoài cách núi Mã tự không xa có núi Ni-di-đà-la, cao một nghìn hai trăm do-tuần, rộng một nghìn hai trăm do-tuần, chu vi thì vô lượng, núi được hình thành bởi bảy báu, khi ánh sáng mặt trời chiếu đến sẽ phát sinh ra nhiệt, đó là duyên thứ sáu để ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Bảy, ở ngoài cách núi Ni-di-đà-la không xa có núi Điều phục, cao sáu trăm do-tuần, rộng cũng sáu trăm do-tuần, chu vi thì vô lượng, núi được hình thành bởi bảy báu, khi áng sáng mặt trời chiếu đến sẽ phát sinh ra nhiệt. Đó là duyên thứ bảy để ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Tám, ở ngoài núi Điều phục có núi Kim cang luân, cao ba trăm do-tuần, rộng ba trăm do-tuần, chu vi thì vô lượng, tạo thành bởi bảy báu, khi ánh sáng mặt trời chiếu đến sẽ phát ra nhiệt. Đó là duyên thứ tám để ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Lại nữa, bên trên một vạn do-tuần có cung điện Trời gọi là Tinh tú, tạo thành bởi lưu ly. Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào nó, xúc chạm mà phát sinh ra nhiệt. Đó là duyên thứ chín để ánh sáng mặt trời nóng bức.
“Lại nữa, ánh sáng cung điện mặt trời chiếu xuống đại địa, xúc chạm mà phát sinh ra nhiệt.
“Đó là muời duyên thứ mười làm cho ánh sáng mặt trời nóng bức.”
Bấy giờ, Thế Tôn nói bài tụng:
Do mười nhân duyên này,
Mặt trời gọi Thiên quang;
Ánh sáng phát nóng bức:
Được nói mặt trời Phật.
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tại sao cung điện mặt trời mùa đông thì lạnh để không thể ở gần được? Có ánh sáng mà sao lạnh? Có mười ba duyên, tuy có ánh sáng nhưng vẫn lạnh, Những gì là mười ba?
“Một, vì giữa hai núi Tu-di và Khư-đà-la có nước, rộng tám vạn bốn nghìn do-tuần, chu vi thì vô lượng. Nước này sinh ra rất nhiều loại hoa khác nhau như: hoa ưu-bát-la, hoa câu-vật-đầu, hoa bát-đầu-ma, hoa phân-đà-lợi, hoa tu-kiền-đề; khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống, xúc chạm mà sinh ra lạnh. Đó là duyên thứ nhất để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Hai, khoảng cách giữa hai núi Khư-đà-la và Y-sa-đà-la có nước, rộng bốn vạn hai nghìn do-tuần, dọc ngang bốn vạn hai nghìn do-tuần, chu vi thì vô lượng. Nước này sinh ra các loài hoa khác nhau. Khi ánh sáng chiếu đến, xúc chạm mà sinh ra lạnh. Đó là duyên thứ hai để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Ba, giữa hai núi Y-sa-đà-la và Thọ-đề-đà-la có nước, rộng hai vạn một nghìn do-tuần, chu vi thì vô lượng, sinh ra các loài hoa khác nhau. Khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống, xúc chạm mà sinh ra lạnh. Đó là duyên thứ ba ánh sáng mặt trời lạnh.
“Bốn, giữa hai núi Thiện kiến và núi Thọ-đề có nước, rộng hai ngàn do-tuần, chu vi thì vô lượng, nơi này có nước, sinh ra các loài hoa khác nhau; khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống thì sinh ra lạnh, đó là duyên thứ tư để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Năm, giữa hai núi Thiện kiến và núi Mã tự có nước, rộng sáu nghìn do-tuần, sinh ra các loài hoa khác nhau; khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống thì sinh ra lạnh, đó là duyên thứ năm để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Sáu, giữa hai núi Mã tự và núi Ni-di-đà-la có nước, rộng một nghìn hai trăm do-tuần, chu vi thì vô lượng, sinh ra các loài hoa khác nhau; khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống thì sinh ra lạnh, đó là duyên thứ sáu để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Bảy, giữa hai núi Ni-di-đà-la và núi Điều phục rộng sáu trăm do-tuần, chu vi thì vô lượng, sinh ra các loài hoa khác nhau; khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống thì sinh ra lạnh, đó là duyên thứ bảy để sinh ra ánh sáng mặt trời lạnh.
“Tám, giữa hai núi Điều phục và núi Kim cang luân có nước, rộng ba trăm do-tuần, chu vi thì vô lượng, sinh ra các loài hoa khác nhau; khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống thì sinh ra lạnh, đó là duyên thứ tám để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Lại nữa, các sông ngòi, bển cả trong Diêm-phù-lị-địa khi được ánh sáng mặt trời chiếu xuống một lần chạm nhau thì sinh ra lạnh, đó là duyên thứ chín để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Đất Diêm-phù-đề có sông ít, đất Câu-da-ni có nước nhiều. Khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống, xúc chạm mà sinh ra lạnh. Đó là duyên thứ mười để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Sông ngòi của cõi Câu-da-ni thì ít, nước của cõi Phất-vu-đãi thì nhiều; khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống, xúc chạm mà sinh ra lạnh. Đó là duyên thứ mười một để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Sông ngòi của Phất-vu-đãi thì ít, sông ngòi của Uất-đơn-viết thì nhiều; khi ánh sáng mặt trời chiếu xuống, xúc chạm nhau thì sinh ra lạnh, đó là duyên thứ mười hai để ánh sáng mặt trời lạnh.
“Lại nữa, ánh sáng của cung điện mặt Trời chiếu xuống nước của biển cả, thì khi ánh sáng mặt trời chiếu, xúc chạm mà sinh ra lạnh, đó là duyên thứ mười ba để ánh sáng mặt trời lạnh.”
Bấy giờ, Phật nói bài tụng:
Do mười ba duyên này.
Mặt trời gọi Thiên quang
Ánh sáng này lạnh trong:
Được nói Mặt Trời Phật.
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Cung điện mặt Trăng, chất của nó là tổn, khi đầy khi vơi, ánh sáng sút giảm, cho nên Nguyệt cung được gọi là tổn. Mặt trăng có hai nghĩa: một là trụ thường độ, hai gọi là cung điện. Do từ bốn phương xa mà nhìn, thấy là tròn. Lạnh ấm điều hòa, được tạo thành bởi bạc trời và lưu ly. Hai phần là thuần bạc trời ròng không pha tạp, trong suốt trong ngoài, ánh sánh chiếu xa; một phần bằng lưu ly ròng không pha tạp, trong suốt trong ngoài, ánh sáng chiếu xa. Cung điện mặt trăng, rộng bốn mươi chín do-tuần, tường cung điện cùng đất mỏng như bẹ lau. Tường cung điện có bảy lớp, với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp linh báu, bảy lớp hàng cây, trang sức chung quanh bằng bảy báu,… cho đến, vô số các loài chim ríu rít hòa vang.
“Cung điện mặt trăng này được năm thứ gió giữ gìn: một là trì phong, hai là dưỡng phong, ba là thụ phong, bốn là chuyển phong, năm là điều phong. Chánh điện, nơi ngự của Nguyệt thiên tử, làm bằng lưu ly, cao mười sáu do-tuần. Điện có bốn cửa, chung quanh là lan can. Tòa của Nguyệt thiên tử, rộng nửa do-tuần, được làm thành bởi bảy báu, trong sạch và mềm mại, giống như thiên y. Thiên tử mặt trăng trên thân phóng ra ánh sáng, chiếu soi điện lưu ly; ánh sáng của điện lưu ly chiếu soi cung điện mặt trăng, và ánh sáng cung điện mặt trăng chiếu soi bốn cõi thiên hạ. Tuổi thọ của thiên tử mặt trăng là năm trăm năm, con cháu thừa kế nhau không có hệ khác. Cung điện này không bị hủy hoại trong vòng một kiếp. Lúc cung điện mặt trăng di chuyển, thiên tử của mặt trăng này không có ý niệm di chuyển, rằng: ‘Ta đi. Ta dừng.’ Mà chỉ luôn luôn hưởng thụ ngũ dục. Khi cung điện mặt trăng di chuyển, thì có vô số trăm nghìn các Đại thiên thần, thường ở trước dẫn đường, hoan hỷ không mệt mỏi, ưa thích nhanh nhẹn, vì vậy nên Nguyệt thiên tử được gọi là ‘nhanh nhẹn. ’
“Thân Nguyệt thiên tử phát ra nghìn tia sáng, năm trăm tia sáng chiếu xuống, và năm trăm tia sáng chiếu hai bên. Đó là do công đức của nghiệp đời trước nên có ánh sáng này, thế nên Nguyệt thiên tử còn gọi là Thiên quang. Thế nào là công đức nghiệp đời trước? Thế gian có một người phát tâm cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn, cùng bố thí cho những người đói khát cùng cực, cho họ đồ ăn thức uống, y phục, thuốc thang, voi ngựa, xe cộ, phòng xá, đèn đuốc, tùy thời ban phát, tùy theo nhu cầu, mà không trái ý người, và cúng dường cho các vị Hiền Thánh trì giới. Do vô số pháp hỷ khác nhau ấy, thiện tâm quang minh. Như vị vua Quán đảnh dòng Sát lợi, khi mới đang vương vị, thiện tâm hoan hỷ, cũng lại như vậy. Vì nhân duyên này, nên thân hoại mạng chung làm Nguyệt thiên tử, cung điện mắt trăng có nghìn tia sáng, cho nên nói là nghiệp lành được nghìn tia sáng.
“Lại nữa, do nghiệp gì được nghìn ánh sáng? Thế gian có người không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không hai lưỡi, không ác khẩu, không nói dối, không ỷ ngữ, không tham giữ, không sân nhuế, không tà kiến; do những nhân duyên này mà thiện tâm hoan hỷ. Giống như đầu ngã tư đường có hồ tắm lớn trong mát không dơ, có người đi xa, mệt mỏi nóng khát, vào trong hồ nước này, tắm rửa mát mẻ, hoan hỷ khoái lạc; người thực hành mười điều lành, thiện tâm hoan hỷ, lại cũng như vậy. Người này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ làm Nguyệt thiên tử, sống ở cung điện mặt trăng, có nghìn tia sáng. Do nhân duyên này cho nên gọi là nghìn ánh sáng nghiệp lành.
“Lại nữa, do duyên gì được nghìn tia sáng? Thế gian có người không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không lừa dối, không uống rượu, vì những nhân duyên này, thiện tâm hoan hỷ; thân hoại mạng chung, làm Nguyệt thiên tử, sống ở cung điện mặt trăng, có nghìn tia sáng. Do những nhân duyên như vậy nên gọi là nghìn tia sáng nghiệp lành.
“Trong sáu mươi niệm khoảnh gọi là một la-da, ba mươi la-da gọi là ma-hầu-đa, trăm ma-hầu đa gọi là ưu-bà-ma. Nếu cung điện mặt trời mỗi năm có sáu tháng đi về phía Nam, mỗi ngày di chuyển ba mươi dặm, cực Nam không vượt qua khỏi Diêm-phù-đề; thời gian ấy, cung điện mặt Trăng nửa năm đi về phía nam, không vượt qua khỏi Diêm-phù-đề. Nguyệt Bắc hành cũng như vậy.
“Vì duyên gì mà cung điện mặt trăng khuyết giảm mỗi khi một ít? Có ba nhân duyên nên cung điện mặt trăng khuyết giảm mỗi khi một ít: Một, mặt trăng phát xuất từ phương góc, là duyên thứ nhất để mặt trăng tổn giảm. Lại nữa, trong cung điện mặt trăng có các Đại thần đều mặc y phục màu xanh, theo thứ tự mà lên, trú xứ cũng trở thành xanh, cho nên mặt trăng bị tổn giảm; đó là duyên thứ hai để mặt trăng mỗi ngày mỗi giảm. Lại nữa, cung điện mặt trời có sáu mươi tia sáng, tia sáng này chiếu vào cung điện mặt trăng, ánh chiếu khiến cho không hiện, do đó nơi có ánh chiếu, nơi ấy của mặt trăng bị tổn giảm; đó là duyên thứ ba để ánh sáng mặt trăng tổn giảm.
“Lại nữa, vì duyên gì mà ánh sáng cung điện mặt trăng đầy dần? Có ba nhân duyên khiến cho ánh sáng mặt trăng đầy dần. Những gì là ba? Một, mặt trăng hướng về phương vị chánh cho nên ánh sáng mặt trăng đầy. Hai, các thần cung điện mặt trăng hết thảy đều mặt y phục màu xanh, và Thiên tử mặt trăng vào ngày rằm ngồi vào giữa, cùng nhau hưởng lạc, ánh sáng chiếu khắp, lấn át ánh sáng Chư Thiên, nên ánh sáng đầy khắp. Giống như bó đuốc lớn được đốt lên trong đám đèn đuốc, sẽ át hẳn ánh sáng các ngọn đèn. Thiên tử mặt trăng cũng lại như vậy. Vào ngày rằm, ở giữa chúng Chư Thiên, át hẳn tất cả các ánh sáng khác, chỉ có ánh sáng của ông độc chiếu, cũng như vậy. Đó là duyên thứ hai. Ba, Thiên tử mặt trời tuy đã có sáu mươi tia sáng chiếu soi cung điện mặt trăng, nhưng vào ngày rằm, thiên tử mặt trăng cũng có thể dùng ánh sáng chiếu nghịch lại, khiến cho nó không thể che khuất được. Đó là ba nhân duyên cho cung điện mặt trăng tròn đầy mà không bị tổn giảm.
“Lại nữa vì duyên gì mà mặt trăng có bóng đen? Vì cái bóng cây Diêm phù in vào trong mặt trăng, nên mặt trăng có bóng.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tâm hãy như mặt trăng, trong mát không nóng bức, khi đến nhà đàn-việt, chuyên niệm không tán loạn.
“Lại vì duyên gì mà có các sông ngòi? Vì mặt trời, mặt trăng có độ nóng. Do độ nóng này mà có nung đốt. Do có nung đốt nên có mồ hôi. Do mồ hôi mà thành sông ngòi. Do đó thế gian có sông ngòi.
“Vì nhân duyên gì mà thế gian có năm loại hạt giống? Có cuồng phong dữ từ thế giới chưa bị hủy diệt thổi hạt giống đến sanh ở quốc độ này. Một là hạt từ rễ; hai, hạt từ cọng; ba, hạt từ đốt; bốn, hạt từ ruột rỗng; năm, hạt từ hạt. Đó là năm loại hạt. Vì nhân duyên này mà thế gian có năm loại hạt giống xuất hiện.
“Lúc ở Diêm-phù-đề đang là giữa trưa thì ở Phất-vu-đãi mặt trời lặn, ở Câu-da-ni mặt trời mọc, ở Uất-đơn-viết là nửa đêm. Câu-da-ni giữa trưa thì ở Diêm-phù-đề mặt trời lặn. Uất-đan-viết mặt trời mọc, ở Phất-vu-đãi là nửa đêm; ở Uất-đan-viết giữa trưa thì ở Câu-da-ni mặt trời lặn; ở Phất vu đãi mặt trời mọc, thì Diêm-phù-đề là nửa đêm. Nếu ở Phất-vu-đãi là giữa trưa, thì ở Uất-đan-viết mặt trời lặn; ở Diêm-phù-đề mặt trời mọc, thì ở Câu-da-ni là nửa đêm. Phương Đông của Diêm-phù-đề, thì là phương Tây ở Phất-vu-đãi; phương Tây của Diêm-phù-đề là phương Đông của Câu-da-ni; phương Tây của Câu-da-ni là phương Đông của Uất-đơn-viết; phương Tây của Uất-đơn-viết là phương Đông của Phất-vu-đãi.
“Diêm-phù-đề, sở dĩ được gọi là Diêm-phù vì ở dưới có núi vàng cao ba mươi do-tuần, do cây Diêm-phù sanh ra nên được gọi là vàng Diêm-phù. Cây Diêm-phù có trái của nó như tai nấm, vị của nó như mật; cây có năm góc lớn, bốn mặt bốn góc, ở trên có một góc. Những trái ở bên góc phía Đông của nó được Càn-thát-bà ăn. Trái ở góc phía Nam của nó được người bảy nước ăn. Bảy nước là: một, nước Câu-lâu; hai, Câu-la-ba; ba, Tỳ-đề; bốn, Thiện-Tỳ-đề; năm, Mạn-đà; sáu, Bà-la; bảy, Bà-lị. Trái ở góc phía Tây được hải trùng ăn. Trái ở góc phía Bắc được cầm thú ăn. Trái ở phía góc trên được Tinh tú thiên ăn. Phía Bắc của bảy nước lớn có bảy hòn núi Đen lớn, một là Lõa thổ, hai là Bạch hạc, ba là Thủ cung, bốn là Tiên sơn, năm là Cao sơn, sáu là Thiền sơn, bảy là Thổ sơn. Trên mặt của bảy núi đen này có bảy vị Tiên nhơn Bà-la-môn. Trú xứ của bảy Tiên nhơn này, một là Thiện đế, hai là Thiện quang, ba là Thủ cung, bốn là Tiên nhơn, năm là Hộ cung, sáu là Già-na-na, bảy là Tăng ích.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Khi kiếp sơ, chúng sanh sau khi nếm vị đất, rồi tồn tại một thời gian lâu dài. Những ai ăn nhiều, nhan sắc trở nên thô kịch, khô héo. Những ai ăn ít, nhan sắc tươi sáng, mịn màng. Từ đó về sau mới phân biệt nhan sắc tướng mạo của chúng sanh có hơn có kém, và sinh ra thị phi với nhau, nói rằng: ‘Ta hơn ngươi; ngươi không bằng ta.’ Do tâm của chúng phân biệt kia và ta, ôm lòng cạnh tranh, cho nên vị đất tiêu hết.
“Sau đó sinh ra một loại da đất, hình dáng giống như cái bánh mỏng; màu sắc, hương vị của nó rất là thanh khiết. Bấy giờ chúng sanh tụ tập lại một chỗ, tất cả đều ảo não buồn khóc, đấm ngực mà nói: ‘Ối chao là tai họa! Vị đất nay bỗng biến mất.’ Giống như hiện nay người được đầy ắp vị ngon, bảo là ngon lành, nhưng sau đó lại bị mất đi nên lấy làm buồn lo. Kia cũng như vậy buồn lo hối tiếc. Sau đó, chúng ăn lớp da đất, dần quen cái vị của nó. Những ai ăn nhiều thì nhan sắc trở thành thô kịch khô héo. Những ai ăn ít thì nhan sắc tươi sáng mịn màng. Từ đó mới phân biệt nhan sắc tướng mạo của chúng sanh có xấu có đẹp, và sinh chuyện thị phi với nhau, nói rằng: ‘Ta hơn ngươi. Ngươi không bằng ta.’ Do tâm chúng phân biệt kia và ta, ôm lòng cạnh tranh, nên nấm đất cạn tiêu hết.
“Sau đó lại xuất hiện một loại da ngoài của đất, càng lúc càng dày thêm, màu của nó như thiên hoa, mềm mại của nó như thiên y, vị của nó như mật. Bấy giờ, các chúng sanh lại lấy nó cùng ăn, sống lâu ngày ở thế gian. Những ai càng ăn nhiều thì nhan sắc càng sút kém. Những ai ăn ít thì nhan sắc tươi sáng mịn màng. Từ đó phân biệt nhan sắc tướng mạo của chúng sanh có xấu có đẹp, và do thế mà sinh chuyện thị phi với nhau rằng: ‘Ta hơn ngươi. Ngươi không bằng ta.’ Vì tâm chúng phân biệt ta và người, sinh lòng cạnh tranh, nên lớp da ngoài của đất tiêu hết.
“Sau đó, lại xuất hiện loại lúa tẻ mọc tự nhiên, không có vỏ trấu, không cần phải gia thêm chế biến mà chúng đã đầy đủ các thứ mỹ vị. Bấy giờ, chúng sanh tụ tập nhau lại nói: ‘Ối chao là tai họa! Nay màng đất bỗng nhiên biến mất.’ Giống như hiện tại người gặp họa gặp nạn thì than rằng: ‘Khổ thay!’ Bấy giờ chúng sanh ảo não, buồn than, cũng lại như vậy.
“Sau đó, chúng sanh cùng nhau lấy lúa tẻ tự nhiên này ăn, và thân thể chúng, trở nên thô xấu, có hình dáng nam nữ, nhìn ngắm nhau, sinh ra dục tưởng; họ cùng nhau tỳm nơi vắng làm hành vi bất tịnh, các chúng sanh khác thấy than rằng: ‘Ôi, việc làm này quấy! Tại sao chúng sanh cùng nhau sinh ra chuyện này?’ Người nam làm việc bất tịnh kia, khi bị người khác quở trách, tự hối hận mà nói rằng: ‘Tôi đã làm quấy.’Rồi nó gieo mình xuống đất. Người nữ kia thấy người nam này vì hối lỗi mà gieo mình xuống đất, không đứng lên, liền đưa thức ăn đến. Chúng sanh khác thấy vậy, hỏi người nữ rằng: ‘Ngươi đem thức ăn này để cho ai?’ Đáp: ‘Chúng sanh hối lỗi kia đọa lạc thành kẻ làm điều bất thiện, tôi đưa thức ăn cho nó.’ Nhân lời nói này, nên thế gian liền có danh từ ‘người chồng bất thiện’, và vì việc đưa cơm cho chồng nên được gọi là vợ.
“Sau đó, chúng sanh bèn làm chuyện dâm dật, pháp bất thiện tăng. Để tự che dấu, chúng tạo ra nhà cửa. Do vì nhân duyên này, bắt đầu có danh từ ‘nhà.’
“Sau đó, sự dâm dật của chúng sanh càng ngày càng tăng, nhân đây đã trở thành chồng vợ. Có các chúng sanh khác, khi tuổi thọ hết, hành hết, phước hết, từ cõi trời Quang Âm sau khi mạng chung lại sinh vào thế gian này, ở trong thai mẹ, nhân đây thế gian có danh từ ‘mang thai.’
“Bấy giờ, trước tiên tạo thành Chiêm-bà, kế đến tạo thành Già-thi, Ba-la-nại, và tiếp theo là thành Vương xá. Lúc mặt trời mọc thì bắt đầu kiến tạo, tức thì lúc mặt trời mọc hoàn thành. Do nhân duyên này nên thế gian liền có tên thành, quách, quận, ấp, là chỗ nhà vua cai trị.
“Bấy giờ, khi chúng sanh bắt đầu ăn lúa tẻ mọc tự nhiên, sáng sớm gặt thì chiều tối lại chín, chiều tối gặt thì sáng sớm lại chín. Sau khi được gặt, lúa sinh trở lại, hoàn toàn không có thân cuống lúa.
“Rồi thì, có chúng sanh thầm nghĩ rằng: ‘Sao ta mỗi ngày mỗi gặt chi cho mệt nhọc? Nay hãy gom lấy đủ cho nhiều ngày.’ Nó bèn gặêt gộp lại, chứa số lương đủ cho nhiều ngày. Người khác sau đó gọi nó: ‘Nay chúng ta hãy cùng đi lấy lúa.’ Người này bèn trả lời: ‘Tôi đã chứa đủ sẵn rồi, không cần lấy thêm nữa. Anh muốn lấy, cứ tùy ý đi lấy một mình.’ Người kia bèn nghĩ thầm: ‘Gã này có thể lấy đủ lương cho hai ngày, sao ta không thể lấy đủ cho ba ngày?’ Người ấy bèn chứa dư ba ngày lương. Lại có những người khác gọi nó: ‘Hãy cùng đi lấy lương.’ Nó liền đáp: ‘Ta đã lấy dư ba ngày lương rồi. Các người muốn lấy, tùy ý đi mà lấy.’ Các người kia bèn nghĩ: ‘Người kia có thể lấy ba ngày lương, sao ta không thể lấy năm ngày lương?’ Rồi chúng lấy năm ngày lương. Bấy giờ, chúng sanh tranh nhau cất chứa lương dư, nên lúa tẻ ấy bèn sanh ra vỏ trấu; sau khi được gặt, không mọc trở lại nữa; chỉ còn trơ cọng khô mà thôi.
“Bấy giờ chúng sanh tụ tập lại một chỗ, ảo não buồn khóc, đấm ngực than: ‘Ôi, đây là một tai họa!’ và tự thương trách rằng: ‘Chúng ta vốn đều do biến hóa mà sinh, ăn bằng tư niệm, tự thân phát ánh sáng, có thần túc bay trên không, an vui không ngại. Sau đó vị đất bắt đầu sinh ra, sắc vị đầy đủ. Khi ấy chúng ta nếm thử vị đất này, rồi tồn tại lâu trong đời này. Những ai ăn nhiều thì nhan sắc trở thành thô xấu. Những ai ăn nó ít thì nhan sắc tươi sáng, mịn màng; từ đó tâm chúng sanh có phân biệt ta và người, sinh tâm kiêu mạn, bảo rằng: ‘Sắc ta hơn. Sắc ngươi không bằng.’ Do kiêu mạn, tranh nhau sắc, nên vị đất tiêu diệt. Lại sanh ra lớp da đất, có đầy đủ sắc hương vị. Chúng ta lúc ấy cùng thu lấy để ăn, tồn tại lâu dài ở thế gian. Những ai ăn nhiều thì da sắc trở thành thô xấu. Những ai ăn ít đi thì da sắc tươi sáng mịn màng, từ đó có phân biệt ta và người, sinh tâm kiêu mạn bảo rằng: ‘Sắc ta hơn, sắc ngươi không bằng.’ Vì tranh nhau về sắc mà kiêu mạn nên lớp da đất biến mất, và xuất hiện lớp da ngoài của đất, càng lúc càng dày lên, đủ cả sắc, hương, mùi vị. Chúng ta khi ấy lại cùng nhau thu lấy ăn, tồn tại dài ở thế gian. Những ai ăn nhiều thì sắc da trở thành thô xấu. Những ai ăn ít thì sắc da tươi sáng mịn màng, từ đó có phân biệt ta và người, sinh tâm kiêu mạn bảo rằng: ‘Sắc ta hơn, sắc ngươi không bằng.’ Vì sắc tranh nhau mà kiêu mạn, nên lớp da ngoài của đất biến mất, để rồi sinh ra loại lúa tẻ mọc tự nhiên, đầy đủ sắc, hương, vị. Chúng ta lúc ấy lại cùng nhau thu lấy ăn, sớm mai thu hoạch buổi chiều lại chín, buổi chiều thu hoạch sáng mai lại chín, vì thu hoạch xong thì sinh trở lại nên không cần phải gom thu. Nhưng vì chúng ta lúc này tranh nhau tích lũy, nên lúa này sinh ra vỏ trấu, và sau khi thu gặt xong không sinh trở lại nữa, mà hiện tại chỉ còn có rễ và thân mà thôi. Nay chúng ta hãy cùng nhau phân phối ruộng nhà, phân chia bờ cõi.’
“Rồi chúng phân chia ruộng đất, vạch bờ cõi khác nhau, phân biệt của người và của ta. Sau đó mọi người tự cất dấu lúa thóc của mình, trộm lấy lúa ruộng người khác. Các chúng sanh khác trông thấy, nên nói: ‘Việc ngươi làm là quấy! Việc ngươi làm là quấy! Tại sao cất dấu vật của chính mình, mà đi trộm tài vật của người?’ Chúng bèn quở trách rằng: ‘Từ nay về sau không được tái phạm việc trộm cắp nữa!’ Nhưng những việc trộm cắp như vậy vẫn tái phạm không dứt, mọi người lại phải quở trách: ‘Việc ngươi làm sai quấy! Tại sao không chịu bỏ?’ Rôi chúng lấy tay mà đánh, lôi đến giữa đám đông, báo cáo cùng mọi người rằng: ‘Người này tự cất dấu thóc lúa, đi trộm lúa ruộng của người.’ Người ăn trộm nói lại: ‘Người kia đã đánh tôi.’ Mọi người nghe xong, ấm ức rơi lệ, đấm ngực nói rằng: ‘Thế gian trở nên xấu ác, nên đã sinh ra pháp ác này chăng?’ Nhân đấy mà sinh ra ưu kếtnhiệt nãokhổ báo; rằng: ‘Đây là cội nguồn của của sinh, già, bệnh, chết; là nguyên nhân rơi vào đường ác. Do có ruộng nhà, bờ cõi riêng khác, nên sinh ra tranh dành kiện tụng, đưa đến oán thù, không ai có thể giải quyết. Nay chúng ta hãy lập lên một người chủ bình đẳng, để khéo léo giữ gìn nhơn dân, thưởng thiện phạt ác. Mọi người trong chúng ta đều cùng nhau giảm bớt phần của mình để cung cấp cho người chủ này.’
“Lúc đó, trong chúng có một người hình thể vạm vỡ, dung mạo đoan chánh, rất có oai đức. Mọi người bảo rằng: ‘Nay, chúng tôi muốn tôn bạn lên làm chủ, để khéo léo giữ gìn nhơn dân, thưởng thiện phạt ác. Chúng tôi sẽ giảm bớt phần của mình mà cung cấp.’ Người này nghe xong, liền nhận làm chủ. Ai đáng thưởng thì thưởng; ai đáng phạt thì phạt. Từ đây mới bắt đầu có danh từ ‘dân chủ’.
“Dân chủ ban đầu có con tên là Trân Bảo; Trân Bảo có con tên là Hảo Vị; Hảo Vị có con tên là Tĩnh Trai; Tĩnh Trai có con tên là Đảnh Sanh; Đảnh Sanh có con tên là Thiện Hành; Thiện Hành có con tên là Trạch Hành; Trạch Hành có con tên là Diệu Vị; Diệu Vị có con tên là Vị Đế; Vị Đế có con tên là Thủy Tiên; Thủy Tiên có con tên là Bách Trí; Bách Trí có con tên là Thị Dục; Thị Dục có con tên là Thiện Dục; Thiện Dục có con tên là Đoạn Kết; Đoạn Kết có con tên là Đại Đoạn Kết; Đại Đoạn Kết có con tên là Bảo Tạng; Bảo Tạng có con tên là Đại Bảo Tạng; Đại Bảo Tạng có con tên là Thiện Kiến; Thiện Kiến có con tên là Đại Thiện Kiến; Đại Thiện Kiến có con tên là Vô Ưu; Vô Ưu có con tên là Châu Chử; Châu Chử có con tên là Thực Sanh; Thực Sanh có con tên là Sơn Nhạc; Sơn Nhạc có con tên là Thần Thiên; Thần Thiên có con tên là Khiển Lực; Khiển Lực có con tên là Lao Xa; Lao Xa có con tên là Thập Xa; Thập Xa có con tên là Bách Xa; Bách Xa có con tên là Lao Cung; Lao Cung có con tên là Bách Cung; Bách Cung có con tên là Dưỡng Mục; Dưỡng Mục có con tên là Thiện Tư.
“Từ Thiện Tư trở về sau có mười họ, Chuyển Luân Thánh vương nối tiếp nhau không dứt: Một tên là Già-nậu-thô, hai tên là Đa-la-bà, ba tên là A-diệp-ma, bốn tên là Trì-thí, năm tên là Già-lăng-già, sáu tên là Chiêm-bà, bảy tên là Câu-la-bà, tám tên là Bác-đồ-la, chín tên là Di-tư-la, mười tên là Thanh Ma.
“Giòng Vua Già-nậu-thô có năm vị Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua Đa-la-bà có năm vị Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua A-diệp-ma có bảy vị Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua Trì-thí có bảy vị vua Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua Già-lăng-già có chín vị vua Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua Chiêm-bà có mười bốn vị Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua Câu-la-bà có ba mươi mốt vị Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua Bát-xà-la có ba mươi-hai vị Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua Di-tư-la có tám vạn bốn nghìn vị Chuyển Luân Thánh vương. Giòng vua Thanh Ma có một trăm lẻ một vị Chuyển Luân Thánh vương. Và vị vua cuối cùng có tên là Đại Thiện Sanh Tùng.
“Vua Thanh Ma của giòng thứ mười có vương tử tên là Ô-la-bà. Vua Ô-la-bà có vương tử tên là Cừ-la-bà. Vua Cừ-la-bà có vương tử tên là Ni-cầu-la. Vua Ni-cầu-la có vương tử tên là Sư Tử Giáp. Vua Sư tử Giáp có vương tử tên là Bạch Tịnh vương. Vua Bạch Tịnh vương có vương tử tên là Bồ-tát. Bồ-tát có con tên là La-hầu-la. Do bản duyên này mà có tên gọi Sát-lị.
“Bấy giờ, có một chúng sanh suy nghĩ như vầy: ‘Tất cả mọi sở hữu như gia đình, quyến thuộc, muôn vật ở thế gian đều là gai nhọn, ung nhọt, nay nên lìa bỏ, vào núi hành đạo, ở nơi vắng vẻ mà tư duy.’ Rồi thì, người ấy liền lìa bỏ gai nhọn là gia đình, vào núi, ở nơi vắng vẻ, ngồi dưới gốc cây mà tư duy, hằng ngày ra khỏi núi, vào thôn xóm mà khất thực. Mọi người trong thôn thấy vậy, càng cung kính cúng dường. Mọi người đều cùng khen ngợi rằng: ‘Người này có thể lìa bỏ hệ lụy của gia đình để vào núi tỳm đạo.’ Vì người này có thể xa lìa được pháp ác bất thiện, nên nhân đó mà gọi là Bà-la-môn.
“Trong chúng Bà-la-môn có người không hành Thiền được, nên ra khỏi rừng núi, du hành trong nhơn gian, và tự nói: ‘Ta không thể tọa thiền.’ Nhân đó gọi là Vô thiền Bà-la-môn. Rồi đi qua các thôn xóm, nó làm pháp bất thiện, thi hành pháp độc, nhân đó tương sinh, nên được gọi đó là độc. Do nhân duyên này mà có chủng tánh Bà-la-môn ở thế gian.
“Trong chúng sanh kia, chúng học tập các thứ nghề để tự mưu sống, nhân đây nên có chủng tánh Cư sĩ ở thế gian.
“Trong chúng sanh kia, chúng học tập các kỹ nghệ để tự nuôi sống, nhân đây mới có chủng tánh Thủ-đà-la ở thế gian.
“Trước đó trong thế gian đã có giòng họ Thích này xuất hiện rồi, sau đó mới có giòng Sa-môn. Trong giòng Sát-lị có người tự tư duy: ‘Thế gian ân ái là ô uế, bất tịnh, đáng gì mà tham đắm?’ Rồi người ấy lìa bỏ gia đình, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục mà cầu đạo và nói: ‘Ta là Sa-môn! Ta là Sa-môn!’
“Trong chủng tánh Bà-la-môn, chủng tánh Cư sĩ, chủng tánh Thủ-đà-la, có người suy nghĩ: ‘Thế gian ân ái là ô uế, bất tịnh, đáng gì mà tham đắm?’ Rồi người ấy lìa bỏ gia đình, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục mà cầu đạo và nói: ‘Ta là Sa-môn! Ta là Sa-môn!
“Nếu trong chúng Sát-lị, có người thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý hành bất thiện; sau khi hành bất thiện rồi, thân hoại mạng chung nhất định sẽ phải thọ khổ. Hoặc có Bà-la-môn, Cư sĩ, Thủ-đà-la thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý hành bất thiện; sau khi hành bất thiện rồi, thân hoại mạng chung nhất định sẽ phải thọ khổ.
“Chủng tánh Sát-lị thân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện, khi thân hoại mạng chung nhất định sẽ thọ lạc. Bà-la-môn, cư sĩ, thủ-đà-la thân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện, khi thân hoại mạng chung nhất định sẽ được thọ lạc.
“Thân của người sát lợi thân có hai loại hành, miệng và ý cũng có hai loại hành. Sau khi thân, miệng, và ý đã hành hai loại ấy rồi, thân hoại mạng chung nhất định sẽ thọ báo hoặc khổ hoặc lạc. Bà-la-môn, cư sĩ, thủ-đà-la, thân, miệng, ý có hai loại hành. Sau khi thân, miệng, và ý đã hành hai loại này rồi, thân hoại mạng chung chắc chắn sẽ thọ báo hoặc khổ hoặc vui.
“Trong chúng Sát-lị, như có người cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia cầu đạo. Vị ấy tu tập bảy giác ý. Với tín tâm kiên cố vị ấyï xuất gia hành đạo, tu phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời này, tự thân tác chứng: ‘Sự sanh của ta đã dứt, phạm hạnh đã vững, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’
“Ở trong chúng Bà-la-môn, Cư sĩ, Thủ-đà-la, có người cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia cầu đạo. Vị ấy tu tập bảy giác ý. Vị ấy do lòng tin kiên cố mà xuất gia hành đạo, tu phạm hạnh vô thượng, ở ngay trong đời này mà tự thân tác chứng: ‘Sự sanh của ta đã dứt, phạm hạnh đã vững, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’
“Trong bốn chủng tánh này, đều có thể thành tựu minh và hành, chứng đắc A-la-hán, là đệ nhất tối thượng.”
Bấy giờ, Phạm thiên liền nói kệ:
Thọ sanh, Sát-lị nhất,
Hay tập các chủng tánh.
Minh-hành thành đầy đủ,
Là nhất trong Trời-Người.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Phạm thiên kia nói bài kệ này rất hay, chứ không phải không hay; là khéo lãnh thọ, chứ không phải không khéo lãnh thọ, được Ta ấn chứng. Vì sao? Vì Ta nay, là Như Lai, Chí Chân, là Đẳng Chánh Giác, cũng nói như bài kệ này.
Sát lợi, sanh là nhất,
Hay tập các chủng tánh,
Minh-hành thành đầy đủ,
Là nhất trong Trời-Người.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ thực hành.
Trường A hàm hoàn tất.
Quy mạng Nhất thiết trí.
Tất cả chúng an vui.
Chúng sanh trú vô vi,
Tôi cũng ở trong đó.
Nội dung bài kinh
佛說長阿含經卷第十八
T 0114b05
T 0114b06
後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯
T 0114b07
閻浮提州品第一
T 0114b08
如是我聞:
一時,佛在舍衛國祇樹給孤獨園
T 0114b09
俱利窟中,與大比丘眾千二百五十人俱。
時,
T 0114b10
眾比丘於食後集講堂上議言:「諸賢!未曾
T 0114b11
有也,今此天地何由而敗?何由而成?眾生所
T 0114b12
居國土云何?」
爾時,世尊於閑靜處天耳徹聽,
T 0114b13
聞諸比丘於食後集講堂上議如此言。
T 0114b14
爾時世尊於靜窟起,詣講堂坐,知而故問,
T 0114b15
問諸比丘:「向者所議,議何等事?」
諸比丘白
T 0114b16
佛言:「我等於食後集法講堂議言:『諸賢!
T 0114b17
未曾有也,今是天地何由而敗?何由而成?眾
T 0114b18
生所居國土云何?』我等集堂議如是事。」
佛
T 0114b19
告諸比丘言:「善哉!善哉!凡出家者應行二
T 0114b20
法:一賢聖默然,二講論法語。汝等集在講堂,
T 0114b21
亦應如此賢聖默然,講論法語。諸比丘!
T 0114b22
汝等欲聞如來記天地成敗、眾生所居國邑
T 0114b23
不耶?」
時,諸比丘白佛言:「唯然。世尊!今正是時,
T 0114b24
願樂欲聞。世尊說已,當奉持之。」
佛言:「比丘!
T 0114b25
諦聽,諦聽,善思念之,當為汝說。」
佛告諸比
T 0114b26
丘:「如一日月周行四天下,光明所照,如是
T 0114b27
千世界,千世界中有千日月、千須彌山王、四
T 0114b28
千天下、四千大天下、四千海水、四千大海、四
T 0114b29
千龍、四千大龍、四千金翅鳥、四千大金翅鳥、
T 0114c01
四千惡道、四千大惡道、四千王、四千大王、七
T 0114c02
千大樹、八千大泥犁、十千大山、千閻羅王、千
T 0114c03
四天王、千忉利天、千焰摩天、千兜率天、千化
T 0114c04
自在天、千他化自在天、千梵天,是為小千世
T 0114c05
界。如一小千世界,爾所小千千世界,是為中
T 0114c06
千世界。如一中千世界,爾所中千千世界,是
T 0114c07
為三千大千世界。如是世界周匝成敗,眾生
T 0114c08
所居名一佛剎。」
佛告比丘:「今此大地深十六
T 0114c09
萬八千由旬,其邊無際,地止於水,水深三千
T 0114c10
三十由旬,其邊無際,水止於風,風深六千
T 0114c11
四十由旬,其邊無際。比丘!其大海水深八萬
T 0114c12
四千由旬,其邊無際,須彌山王入海水中八
T 0114c13
萬四千由旬,出海水上高八萬四千由旬,
T 0114c14
下根連地,多固地分,其山直上,無有阿
T 0114c15
曲,生種種樹,樹出眾香,香遍山林,多諸賢
T 0114c16
聖,大神妙天之所居止。其山下基純有金
T 0114c17
沙,其山四面有四埵出,高七百由旬,雜色間
T 0114c18
廁,七寶所成,四埵斜低,曲臨海上。
「須彌山
T 0114c19
王有七寶階道,其下階道廣六十由旬,挾
T 0114c20
道兩邊有七重寶牆、七重欄楯、七重羅網、七
T 0114c21
重行樹,金牆銀門,銀牆金門,水精牆琉璃
T 0114c22
門,琉璃牆水精門,赤珠牆馬瑙門,馬瑙牆赤
T 0114c23
珠門,車
璩
牆眾寶門。其欄楯者,金欄銀桄,銀
T 0114c24
欄金桄,水精欄琉璃桄,琉璃欄水精桄,赤珠
T 0114c25
欄馬瑙桄,馬瑙欄赤珠桄,車
璩
欄眾寶桄。
T 0114c26
其欄楯上有寶羅網,其金羅網下懸銀鈴,其
T 0114c27
銀羅網下懸金鈴,琉璃羅網懸水精鈴,水
T 0114c28
精羅網懸琉璃鈴,赤珠羅網懸馬瑙鈴,馬瑙
T 0114c29
羅網懸赤珠鈴,車
璩
羅網懸眾寶鈴。其金樹
T 0115a01
者金根金枝銀葉華實,其銀樹者銀根銀枝
T 0115a02
金葉華實,其水精樹水精根枝琉璃華葉,其
T 0115a03
琉璃樹琉璃根枝水精華葉,其赤珠樹赤珠
T 0115a04
根枝馬瑙華葉,其馬瑙樹者馬瑙根枝赤珠
T 0115a05
華葉,車
璩
樹者車
璩
根
枝
眾寶華葉。
「其七重
T 0115a06
牆,牆有四門,門有欄楯,七重牆上皆有樓
T 0115a07
閣臺觀,周匝圍遶有園觀浴池,生眾寶華
T 0115a08
葉,寶樹行列,花果繁茂,香風四起,悅可人
T 0115a09
心,鳧鴈鴛鴦,異類奇鳥,無數千種,相和而鳴。
T 0115a10
「又須彌山王中級階道廣四十由旬,挾道兩
T 0115a11
邊有七重寶牆、欄楯七重、羅網七重、行樹七
T 0115a12
重,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦如下階。上
T 0115a13
級階道廣二十由旬,挾道兩邊有七重寶牆、
T 0115a14
欄楯七重、羅網七重、行樹七重,乃至無數眾
T 0115a15
鳥相和而鳴,亦如中階。」
佛告比丘:「其下階
T 0115a16
道有鬼神住,名曰伽樓羅足。其中階道有
T 0115a17
鬼神住,名曰持鬘。其上階道有鬼神住,名
T 0115a18
曰喜樂。其四
埵出
高四萬二千由旬,四天大
T 0115a19
王所居宮殿,有七重寶城、欄楯七重、羅網七
T 0115a20
重、行樹七重,諸寶鈴乃至無數眾鳥相和而
T 0115a21
鳴,亦復如是。須彌山頂有三十三天宮,寶
T 0115a22
城七重、欄楯七重、羅網七重、行樹七重,乃至
T 0115a23
無數眾鳥相和而鳴,
亦
復如是。過三十三天
T 0115a24
由旬一倍有焰摩天宮,過焰摩天宮由旬一
T 0115a25
倍有兜率天宮,過兜率天宮由旬一倍有
T 0115a26
化自在天宮,過化自在天宮由旬一倍有
T 0115a27
他化自在天宮,過他化自在天宮由旬一倍
T 0115a28
有梵加夷天宮。
「於他化自在天、梵加夷天
T 0115a29
中間,有摩天宮,縱廣六千由旬,宮牆七重、欄
T 0115b01
楯七重、羅網七重、行樹七重,乃至無數眾鳥
T 0115b02
相和而鳴,亦復如是。過梵伽夷天宮由旬
T 0115b03
一倍有光音天宮,過光音天由旬一倍有
T 0115b04
遍淨天宮,過遍淨天由旬一倍有果實天
T 0115b05
宮,過果實天由旬一倍有無想天宮,過無
T 0115b06
想天由旬一倍有無造天宮,過無造天由
T 0115b07
旬一倍有無熱天宮,過無熱天由旬一倍
T 0115b08
有善見天宮,過善見天由旬一倍有大善
T 0115b09
見天宮,過大善見天由旬一倍有色究竟
T 0115b10
天宮,過色究竟天上有空處智天、識處智
T 0115b11
天、無所有處智天、有想無想處智天,齊此
T 0115b12
名眾生邊際、眾生世界,一切眾生生、老、病、死、
T 0115b13
受陰、受有,齊此不過。」
佛告比丘:「須彌山北
T 0115b14
有天下,名欝單曰,其土正方,縱廣一萬由
T 0115b15
旬,人面亦方,像彼地形。須彌山東有天下,
T 0115b16
名弗于逮,其土正圓,縱廣九千由旬,人面
T 0115b17
亦圓,像彼地形。須彌山西有天下,名俱耶
T 0115b18
尼,其土形如半月,縱廣八千由旬,人面亦爾,
T 0115b19
像彼地形。須彌山南有天下,名閻浮提,其
T 0115b20
土南狹北廣,縱廣七千由旬,人面亦爾,像此
T 0115b21
地形。須彌山北面天金所成,光照北方。須彌
T 0115b22
山東面天銀所成,光照東方。須彌山西面天
T 0115b23
水精所成,光照西方。須彌山南面天琉璃所
T 0115b24
成,光照南方。
「欝單曰有大樹王,名菴婆羅,
T 0115b25
圍七由旬,高百由旬,枝葉四布五十由旬。弗
T 0115b26
于逮有大樹王,名伽藍浮,圍七由旬,高百由
T 0115b27
旬,枝葉四布五十由旬。俱耶尼有大樹王,名
T 0115b28
曰斤提,圍七由旬,高百由旬,枝葉四布五十
T 0115b29
由旬;又其樹下有石牛幢,高一由旬。閻浮提
T 0115c01
有大樹王,名曰閻浮提,圍七由旬,高百由
T 0115c02
旬,枝葉四布五十由旬。金翅鳥王及龍王樹,
T 0115c03
名俱利睒婆羅,圍七由旬,高百由旬,枝葉四
T 0115c04
布五十由旬。阿修羅王有樹,名善畫,圍七
T 0115c05
由旬,高百由旬,枝葉四布五十由旬。忉利天
T 0115c06
有樹,名曰晝度,圍七由旬,高百由旬,枝葉四
T 0115c07
布五十由旬。
「須彌山邊有山,名伽陀羅,高
T 0115c08
四萬二千由旬,縱廣四萬二千由旬,其邊廣
T 0115c09
遠,雜色間廁,七寶所成,其山去須彌山八萬
T 0115c10
四千由旬,其間純生優鉢羅花、鉢頭摩花、俱
T 0115c11
物頭花、分陀利花,蘆葦、松、竹叢生其中,出
T 0115c12
種種香,香亦充遍。去佉陀羅山不遠有
T 0115c13
山,名伊沙陀羅,高二萬一千由旬,縱廣二萬一
T 0115c14
千由旬,其邊廣遠,雜色間廁,七寶所成,去佉
T 0115c15
陀羅山四萬二千由旬,其間純生優鉢羅花、
T 0115c16
鉢頭摩花、俱勿頭花、分陀利花,蘆葦、松、竹
T 0115c17
叢生其中,出種種香,香氣充遍。去伊沙陀
T 0115c18
羅山不遠有山,名樹巨陀羅,高萬二千由
T 0115c19
旬,縱廣萬二千由旬,其邊廣遠,雜色間廁,七
T 0115c20
寶所成。去伊沙陀羅山二萬一千由旬,其間
T 0115c21
純生四種雜花,蘆葦、松、竹叢生其中,出種
T 0115c22
種香,香氣充遍。去樹巨陀羅山不遠有山,
T 0115c23
名善見,高六千由旬,縱廣六千由旬,其邊廣
T 0115c24
遠,雜色間廁,七寶所成,去樹巨陀羅山萬二
T 0115c25
千由旬,其間純生四種雜花,蘆葦、松、竹叢生
T 0115c26
其中,出種種香,香氣充遍。
「去善見山不遠
T 0115c27
有山,名馬食山,高三千由旬,縱廣三千由
T 0115c28
旬,其邊廣遠,雜色間廁,七寶所成,去善見山
T 0115c29
六千由旬,其間純生四種雜花,蘆葦、松、竹叢
T 0116a01
生其中,出種種香,香氣充遍。去馬食山不
T 0116a02
遠有山,名尼民陀羅,高千二百由旬,縱廣千
T 0116a03
二百由旬,其邊廣遠,雜色間廁,七寶所成,去
T 0116a04
馬食山三千由旬,其間純生四種雜花,蘆葦、
T 0116a05
松、竹叢生其中,出種種香,香氣充遍。去尼
T 0116a06
民陀羅山不遠有山,名調伏,高六百由旬,
T 0116a07
縱廣六百由旬,其邊廣遠,雜色間廁,七寶所
T 0116a08
成,去尼民陀羅山千二百由旬,其間純生
T 0116a09
四種雜花,蘆葦、松、竹叢生其中,出種種香
T 0116a10
香氣充遍。去調伏山不遠有山,名金剛圍,
T 0116a11
高三百由旬,縱廣三百由旬,其邊廣遠,雜色
T 0116a12
間廁,七寶所成,去調伏山六百由旬,其間純
T 0116a13
生四種雜花,蘆葦、松、竹叢生其中,出種種
T 0116a14
香,香氣充遍。
「去大金剛山不遠有大海水,
T 0116a15
海水北岸有大樹王,名曰閻浮,圍七由旬,高
T 0116a16
百由旬,枝葉四布五十由旬,其邊空地復有
T 0116a17
叢林,名菴婆羅,縱廣五十由旬。復有叢林
T 0116a18
名曰閻婆,縱廣五十由旬。復有叢林名曰
T 0116a19
娑羅,縱廣五十由旬。復有叢林名曰多羅,
T 0116a20
縱廣五十由旬。復有叢林名曰那多羅,縱
T 0116a21
廣五十由旬。復有叢林名曰為男,縱廣五
T 0116a22
十由旬。復有叢林名曰為女,縱廣五十由
T 0116a23
旬。復有叢林名曰男女,縱廣五十由旬。復
T 0116a24
有叢林名曰散那,縱廣五十由旬。復有叢
T 0116a25
林名曰栴檀,縱廣五十由旬。復有叢林名
T 0116a26
曰佉詶羅,縱廣五十由旬。復有叢林名曰
T 0116a27
波
[木*奈]
婆羅,縱廣五十由旬。復有叢林名曰
T 0116a28
毗羅,縱廣五十由旬。復有叢林名曰香
[木*奈]
,
T 0116a29
縱廣五十由旬。復有叢林名曰為梨,縱
T 0116b01
廣五十由旬。復有叢林名曰安石留,縱廣
T 0116b02
五十由旬。復有叢林名曰為甘,縱廣五十
T 0116b03
由旬。復有叢林名呵梨勒,縱廣五十由旬。
T 0116b04
復有叢林名毗醯勒,縱廣五十由旬。復有
T 0116b05
叢林名阿摩勒,縱廣五十由旬。復有叢林
T 0116b06
名阿摩犁,縱廣五十由旬。復有叢林名
[木*奈]
,
T 0116b07
縱廣五十由旬。復有叢林名甘蔗,縱廣五
T 0116b08
十由旬。復有叢林名葦,縱廣五十由旬。復
T 0116b09
有叢林名竹,縱廣五十由旬。復有叢林名
T 0116b10
舍羅,縱廣五十由旬。復有叢林名舍羅業,
T 0116b11
縱廣五十由旬。復有叢林名木瓜,縱廣五
T 0116b12
十由旬。復有叢林名大木瓜,縱廣五十由
T 0116b13
旬。復有叢林名解脫華,縱廣五十由旬。復
T 0116b14
有叢林名瞻婆,縱廣五十由旬。復有叢林
T 0116b15
名婆羅羅,縱廣五十由旬。復有叢林名修
T 0116b16
摩那,縱廣五十由旬。復有叢林名婆師,縱
T 0116b17
廣五十由旬。復有叢林名多羅梨,縱廣五
T 0116b18
十由旬。復有叢林名伽耶,縱廣五十由旬。
T 0116b19
復有叢林名葡萄,縱廣五十由旬。
「過是地
T 0116b20
空,其空地中復有花池,縱廣五十由旬,復
T 0116b21
有鉢頭摩池、俱物頭池、分陀利池,毒蛇滿
T 0116b22
中,各縱廣五十由旬。過是地空,其空地中
T 0116b23
有大海水,名欝禪那,此水下有轉輪聖王
T 0116b24
道,廣十二由旬。挾道兩邊有七重牆、七重
T 0116b25
欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七
T 0116b26
寶成,閻浮提地轉輪聖王出于世時,水自
T 0116b27
然去,其道平現。去海不遠有山,名欝禪,其
T 0116b28
山端嚴,樹木繁茂,花果熾盛,眾香芬馥,異類
T 0116b29
禽獸靡所不有。去欝禪山不遠有山,名
T 0116c01
金壁,中有八萬巖窟,八萬象王止此窟中,
T 0116c02
其身純白,頭有雜色,口有六牙,齒間金填。
T 0116c03
過金壁山已,有山名雪山,縱廣五百由旬,
T 0116c04
深五百由旬,東西入海,雪山中間有寶山,高
T 0116c05
二十由旬。
「雪山埵出高百由旬,其山頂上有
T 0116c06
阿耨達池,縱廣五十由旬,其水清冷,澄淨
T 0116c07
無穢,七寶砌壘、七重欄楯、七重羅網、七重行
T 0116c08
樹,種種異色,七寶合成。其欄楯者,金欄銀桄,
T 0116c09
銀欄金桄,琉璃欄水精桄,水精欄琉璃桄,赤
T 0116c10
珠欄馬瑙桄,馬瑙欄赤珠桄,車
璩
欄眾寶所
T 0116c11
成。金網銀鈴,銀網金鈴,琉璃網水精鈴,水精
T 0116c12
網琉璃鈴,車
璩
網七寶所成。金多羅樹金根
T 0116c13
金枝銀葉銀果,銀多羅樹銀根銀枝金葉金
T 0116c14
果,水精樹水精根枝琉璃花果,赤珠樹赤珠
T 0116c15
根枝馬瑙葉馬瑙花果,車
璩
樹車
璩
根枝眾
T 0116c16
寶花果。
「阿耨達池側皆有園觀浴池,眾花積
T 0116c17
聚,種種樹葉,花果繁茂,種種香風,芬馥四布,
T 0116c18
種種異類,諸鳥哀鳴相和。阿耨達池底,金沙
T 0116c19
充滿。其池四邊皆有梯陛,金桄銀陛,銀桄金
T 0116c20
陛,琉璃桄水精陛,水精桄琉璃陛,赤珠桄馬
T 0116c21
瑙陛,馬瑙桄赤珠陛,車
璩
桄眾寶陛。遶池周
T 0116c22
匝皆有欄楯,生四種花,青、黃、赤、白,雜色參
T 0116c23
間,華如車輪,根如車轂,花根出汁,色白如
T 0116c24
乳,味甘如蜜。阿耨達池東有恒伽河,從牛
T 0116c25
口出,從五百河入于東海。阿耨達池南有
T 0116c26
新頭河,從師子口出,從五百河入于南海。
T 0116c27
阿耨達池西有婆叉河,從馬口出,從五百
T 0116c28
河入于西海。阿耨達池北有斯陀河,從象
T 0116c29
口中出,從五百河入于北海。阿耨達宮中
T 0117a01
有五柱堂,阿耨達龍王恒於中止。」
佛言:
T 0117a02
「何故名為阿耨達?阿耨達其義云何?此閻浮
T 0117a03
提所有龍王盡有三患,唯阿耨達龍無有
T 0117a04
三患。云何為三?一者舉閻浮提所有諸龍,
T 0117a05
皆被熱風、熱沙著身,燒其皮肉,及燒骨髓
T 0117a06
以為苦惱,唯阿耨達龍無有此患。二者舉
T 0117a07
閻浮提所有龍宮,惡風暴起,吹其宮內,失
T 0117a08
寶飾衣,龍身自現以為苦惱,唯阿耨達龍王
T 0117a09
無如是患。三者舉閻浮提所有龍王,各
T 0117a10
在宮中相娛樂時,金翅大鳥入宮搏撮
T 0117a11
或始生方便,欲取龍食,諸龍怖懼,常懷熱
T 0117a12
惱,唯阿耨達龍無如此患;若金翅鳥生念
T 0117a13
欲
往
,即便命終,故名阿耨達
(阿耨達秦言無惱熱)
。」
T 0117a14
佛告比丘:「雪山右面有城,名毗舍離,其城
T 0117a15
北有七黑山,七黑山北有香山,其山常有
T 0117a16
歌唱伎樂音樂之聲。山有二窟,一名為
T 0117a17
晝,二名善晝,天七寶成,柔濡香潔,猶如天
T 0117a18
衣,妙音乾闥婆王從五百乾闥婆在其中
T 0117a19
止。晝、善晝窟北有娑羅樹王,名曰善住,
T 0117a20
有八千樹王圍遶四面。善住樹王下有象
T 0117a21
王,亦名善住,止此樹下,身體純白,七處平
T 0117a22
住,力能飛行,其頭赤色,雜色毛間,六牙纖
傭
,
T 0117a23
金為間填,有八千象圍遶隨從;其八千樹
T 0117a24
王下八千象,亦復如是。
「善住樹王北有大浴
T 0117a25
池,名摩陀延,縱廣五十由旬,有八千浴
T 0117a26
池周匝圍遶,其水清涼,無有塵穢,以七寶
T 0117a27
塹周匝砌壘,遶池有七重欄楯、七重羅網、
T 0117a28
七重行樹,皆七寶成,金欄銀桄,銀欄金桄,
T 0117a29
水精欄琉璃桄,琉璃欄水精桄,赤珠欄馬瑙
T 0117b01
桄,馬瑙欄赤珠桄,車
璩
欄眾寶桄。其金羅網
T 0117b02
下埀銀鈴,其銀羅網下埀金鈴,水精羅網
T 0117b03
埀琉璃鈴,琉璃
羅
網埀水精鈴,赤珠羅網
T 0117b04
垂馬瑙鈴,馬瑙羅網埀赤珠鈴,硨
璩
羅網
T 0117b05
埀眾寶鈴。其金樹者金根金枝銀葉花實,其
T 0117b06
銀樹者銀根銀枝金葉花實,水精樹者水精
T 0117b07
根枝琉璃花實,琉璃樹者琉璃根枝水精花
T 0117b08
實,赤珠樹者赤珠根枝馬瑙花實,馬瑙樹者
T 0117b09
馬瑙根枝赤珠花實,硨
璩
樹者車
璩
根枝眾
T 0117b10
寶花實。
「又其池底金沙布散,遶池周匝有七
T 0117b11
寶階道,金陛銀蹬,銀陛金蹬,水精陛琉璃
T 0117b12
蹬,琉璃陛水精蹬,赤珠陛馬瑙蹬,馬瑙陛
T 0117b13
赤珠蹬,車
璩
陛眾寶蹬。挾陛兩邊有寶欄
T 0117b14
楯。又其池中生四種華,青、黃、赤、白,眾色參間,
T 0117b15
華如車輪,根如車轂,花根出汁,色白如乳,
T 0117b16
味甘如蜜。遶池四面有眾園觀、叢林、浴池,
T 0117b17
生種種花,樹木清涼,花果豐盛,無數眾鳥
T 0117b18
相和而鳴,亦復如是。善住象王念欲遊戲,入
T 0117b19
池浴時,即念八千象王,時,八千象王復自
T 0117b20
念言:『善住象王今以念我,我等宜往至象
T 0117b21
王所。』於是,眾象即往前立。
「時,善住象王從
T 0117b22
八千象至摩陀延池,其諸象中有為王持
T 0117b23
蓋者,有執寶扇扇象王者,中有作倡伎
T 0117b24
樂前導從者。時,善住象王入池洗浴,作倡伎
T 0117b25
樂,共相娛樂,或有象為王洗鼻者,或有洗
T 0117b26
口、洗頭、洗牙、洗耳、洗腹、洗背、洗尾、洗足者,
T 0117b27
中有拔華根洗之與王食者,中有取四
T 0117b28
種花散王上者。爾時,善住象王洗浴、飲食,
T 0117b29
共相娛樂已,即出岸上,向善住樹立。其八
T 0117c01
千象然後各自入池洗浴、飲食,共相娛樂。訖
T 0117c02
已還出,至象王所。
「時,象王從八千象前後導
T 0117c03
從,至善住樹王所,中有持葢覆象王者,
T 0117c04
有執寶扇扇象王者,中有作倡伎樂在
T 0117c05
前導者。時,善住象王詣樹王已,坐臥行步
T 0117c06
隨意所遊,餘八千象各自在樹下,坐臥行步
T 0117c07
隨意所遊。其樹林中有圍八尋者,有圍九
T 0117c08
尋至十尋、十五尋者,唯善住象王婆羅
T 0117c09
樹王圍十六尋,其八千婆羅樹枝葉墮落時,
T 0117c10
清風遠吹置於林外,又八千象大小便時,諸
T 0117c11
夜叉鬼除之林外。」
佛告比丘:「善住象王有
T 0117c12
大神力,功德如是,雖為畜生,受福如是。」
T 0117c13
佛說長阿含第四分世記經欝單曰品第 二
T 0117c15
佛告比丘:「欝單曰天下多有諸山,其彼山
T 0117c16
側有諸園觀浴池,生眾雜花,樹木清涼,花果
T 0117c17
豐茂,無數眾鳥相和而鳴。又其山中多眾流
T 0117c18
水,其水洋順,無有卒暴,眾花覆上,汎汎徐
T 0117c19
流。挾岸兩邊多眾樹木,枝條柔弱,花果繁
T 0117c20
熾,地生濡草,槃縈右旋,色如孔翠,香如
T 0117c21
婆師,濡若天衣,其地柔濡,以足
蹈
地,地凹
T 0117c22
四寸,舉足還復,地平如掌,無有高下。
「比
T 0117c23
丘!彼欝單曰土四面有四阿耨達池,各縱
T 0117c24
廣百由旬,其水澄清,無有垢穢,以七寶塹
T 0117c25
廁砌其邊,乃至無數眾鳥相和悲鳴,與摩陀
T 0117c26
延池嚴飾無異。彼四大池各出四大河,廣
T 0117c27
十由旬,其水洋順,無有卒暴,眾花覆上,汎
T 0117c28
汎徐流。挾岸兩邊多眾樹木,枝條柔弱,花果
T 0117c29
繁熾,地生濡草,槃縈右旋,色如孔翠,香
T 0118a01
猶婆師,濡若天衣,其地柔濡,以足蹈地,
T 0118a02
地凹四寸,舉足還復,地平如掌,無有高下。
T 0118a03
又彼土地無有溝澗、坑坎、荊棘、株杌,亦無蚊
T 0118a04
虻、蚖蛇、蜂蝎、虎豹、惡獸,地純眾寶,無有石
T 0118a05
沙,陰陽調柔,四氣和順,不寒不熱,無眾惱患,
T 0118a06
其地潤澤,塵穢不起,如油塗地,無有遊塵,
T 0118a07
百草常生,無有冬夏,樹木繁茂,花果熾盛,地
T 0118a08
生濡草,槃縈右旋,色如孔翠,香猶婆師,
T 0118a09
濡若天衣,其地柔濡,以足蹈地,地凹四寸,
T 0118a10
舉足還復,地平如掌,無有高下。
「其土常有
T 0118a11
自然粳米,不種自生,無有糠糩,如白花
T 0118a12
聚,猶忉利天食,眾味具足。其土常有自然
T 0118a13
釜鍑,有摩尼珠,名曰焰光,置於鍑下,飯熟光
T 0118a14
滅,不假樵火,不勞人功。其土有樹,名
T 0118a15
曰曲躬,葉葉相次,天雨不漏,彼諸男女止
T 0118a16
宿其下。復有香樹,高七十里,花果繁茂,其果
T 0118a17
熟時,皮殼自裂,自然香出,其樹或高六十里,
T 0118a18
或五十、四十,極小高五里,皆花果繁茂,其果
T 0118a19
熟時,皮殼自裂,自然香出。
「復有衣樹,高七
T 0118a20
十里,花果繁茂,其果熟時,皮殼自裂,出種種
T 0118a21
衣,其樹或高六十里、五十、四十,極小高五里,
T 0118a22
皆花果繁茂,出種種衣。復有莊嚴樹,高七十
T 0118a23
里,花果繁茂,其果熟時,皮殼自裂,出種種
T 0118a24
嚴身之具,其樹或高六十里、五十、四十里,極
T 0118a25
小高五里,皆花果繁茂,出種種嚴身之具。復
T 0118a26
有花鬘樹,高七十里,花果繁茂,其果熟時,皮
T 0118a27
殼自裂,出種種鬘,樹或高六十里、五十、
T 0118a28
四十里,極小高五里,亦皆花果繁茂,出種
T 0118a29
種鬘。復有器樹,高七十里,花果繁茂,其果熟
T 0118b01
時,皮殼自裂,出種種器,其樹或高六十里、五
T 0118b02
十、四十,極小高五里,皆花果繁茂,出種種器。
T 0118b03
復有果樹,高七十里,花果繁茂,其果熟時,皮
T 0118b04
殼自裂,出種種果,樹或高六十里、五十、四
T 0118b05
十,極小高五里,皆花果繁茂,出種種果。復有
T 0118b06
樂器樹,高七十里,花果繁茂,其果熟時,皮殼
T 0118b07
自裂,出種種樂器,其樹或高六十里、五十、四
T 0118b08
十,極小高五里,皆花果繁茂,出種種樂器。
「其
T 0118b09
土有池,名曰善見,縱廣百由旬,其水清澄,
T 0118b10
無有垢穢,以七寶塹廁砌其邊,遶池四
T 0118b11
面有七重欄楯、七重羅網、七重行樹,乃至無
T 0118b12
數眾鳥相和而鳴,亦復如是。其善見池北有
T 0118b13
樹,名菴婆羅,周圍七里,上高百里,枝葉四布
T 0118b14
遍五十里。其善見池東出善道河,廣一由旬,
T 0118b15
其水徐流,無有洄澓,種種雜花覆蔽水上,
T 0118b16
挾岸兩邊樹木繁茂,枝條柔弱,花果熾盛,地
T 0118b17
生濡草,槃縈右旋,色如孔翠,香如婆師,
T 0118b18
濡若天衣,其地柔濡,足
蹈
地時,地凹四寸,
T 0118b19
舉足還復,地平如掌,無有高下。
「又其河中
T 0118b20
有眾寶船,彼方人民欲入中洗浴遊戲時,
T 0118b21
脫衣岸上,乘船中流,遊戲娛樂訖已,度水
T 0118b22
遇衣便著,先出先著,後出後著,不求本衣。
T 0118b23
次至香樹,樹為曲躬,其人手取種種雜香,
T 0118b24
以自塗身。次到衣樹,樹為曲躬,其人手取
T 0118b25
種種雜衣,隨意所著。次到莊嚴樹,樹為曲
T 0118b26
躬,其人手取種種莊嚴,以自嚴飾。次到鬘
T 0118b27
樹,樹為曲躬,其人手取種種雜鬘,以著頭
T 0118b28
上。次到器樹,樹為曲躬,其人手取種種寶
T 0118b29
器,取寶器已。次到果樹,樹為曲躬,其人手
T 0118c01
取種種美果,或噉食者,或口含者,或漉汁飲
T 0118c02
者。次到樂器樹,樹為曲躬,其人手取種種
T 0118c03
樂器,調絃鼓之,並以妙聲和絃,而行
T 0118c04
詣於園林,隨意娛樂,或一日、二日至于七日,
T 0118c05
然後復去,無有定處。
「善見池南出妙體河,
T 0118c06
善見池西出妙味河,善見池北出光影河,
T 0118c07
亦復如是。善見池東有園林名善見,縱廣
T 0118c08
百由旬,遶園四邊有七重欄楯、七重羅網、七
T 0118c09
重行樹,雜色間廁,七寶所成,其園四面有四
T 0118c10
大門,周匝欄楯,皆七寶成。園內清淨,無有
T 0118c11
荊棘,其地平正,無有溝
澗
、坑坎、陵阜,亦無
T 0118c12
蚊虻、蠅蚤虱、蚖蛇、蜂蝎、虎狼、惡獸,地純眾寶,
T 0118c13
無有石沙,陰陽調柔,四氣和順,不寒不熱,
T 0118c14
無眾惱患,其地潤澤,無有塵穢,如油塗
T 0118c15
地,遊塵不起,百草常生,無有冬夏,樹木繁
T 0118c16
茂,花果熾盛,地生濡草,盤縈右旋,色如
T 0118c17
孔翠,香如婆師,濡若天衣,其地柔濡,足
T 0118c18
蹈地時,地凹四寸,舉足還復。
「其園常生自
T 0118c19
然粳米,無有糠糩,如白花聚,眾味具足,如
T 0118c20
忉利天食。其園常有自然釜鍑,有摩尼珠,
T 0118c21
名曰焰光,置於鍑下,飯熟光滅,不假樵
T 0118c22
火,不勞人功。其園有樹,名曰曲躬,葉葉相
T 0118c23
次,天雨不漏,使諸男女止宿其下。復有香
T 0118c24
樹,高七十里,花果繁茂,其果熟時,皮殼自裂,
T 0118c25
出種種香,樹有高六十里、五十、四十,至高五
T 0118c26
里,花果繁茂,出種種香,乃至樂器樹,亦復如
T 0118c27
是。其土人民至彼園中游戲娛樂,一日、二日,
T 0118c28
至于七日,其善見園無人守護,隨意游戲,
T 0118c29
然後復去。
「善見池南有園林,名大善見。善
T 0119a01
見池西有園林,名曰娛樂。善見池北有園
T 0119a02
林,名曰等花,亦復如是。其土中夜、後夜,阿
T 0119a03
耨達龍王數數隨時起清淨雲,周遍世界
T 0119a04
而降甘雨,如搆牛頃,以八味水潤澤普
T 0119a05
洽,水不留停,地無泥淖,猶如鬘師以水灑
T 0119a06
華,使不萎枯,潤澤鮮明。時,彼土於中夜
T 0119a07
後無有雲翳,空中清明,海出凉風,清淨柔
T 0119a08
和,微吹人身,舉體快樂。其土豐饒,人民熾盛,
T 0119a09
設須食時,以自然粳米著於釜中,以焰光
T 0119a10
珠置於釜下,飯自然熟,珠光自滅。諸有來
T 0119a11
者,自恣食之,其主不起,飯終不盡;若其主
T 0119a12
起,飯則盡賜。其飯鮮潔,如白花聚,其味具
T 0119a13
足,如忉利天食,彼食此飯,無有眾病,氣力
T 0119a14
充足,顏色和悅,無有衰耗。
「又其
土
人身體相
T 0119a15
類,形貌同等,不可分別,其貌少壯,如閻浮
T 0119a16
提二十許人,其人口齒平正潔白,密緻無間,
T 0119a17
髮紺青色,無有塵垢,髮埀八指,齊眉而
T 0119a18
止,不長不短。若其土人起欲心時,則熟
T 0119a19
視女人而捨之去,彼女隨後往詣園林,若
T 0119a20
彼女人是彼男子父親、母親骨肉中表不
T 0119a21
應行欲者,樹不曲蔭,各自散去。若非父親、
T 0119a22
母親骨肉中表應行欲者,樹則曲躬,迴蔭
T 0119a23
其身,隨意娛樂,一日、二日,或至七日,爾乃散
T 0119a24
去。彼人懷姙,七日、八日便產,隨生男女,置
T 0119a25
於四衢大交道頭,捨之而去。諸有行人經過
T 0119a26
其邊,出指令嗽,指出甘乳,充適兒身。過
T 0119a27
七日已,其兒長成與彼人等,男向男眾,
T 0119a28
女向女眾。
「彼人命終,不相哭泣,莊嚴死屍,
T 0119a29
置四衢道,捨之而去;有鳥名憂慰禪伽,接
T 0119b01
彼死屍置於他方。又其土人,大小便時,地即
T 0119b02
為開,便利訖已,地還自合。其土人民無所繫
T 0119b03
戀,亦無畜積,壽命常定,死盡生天。彼人何
T 0119b04
故壽命常定?其人前世修十善行,身壞命終,
T 0119b05
生欝單曰,壽命千歲,不增不減。是故彼人
T 0119b06
壽命正等。
「復次,殺生者墮惡趣,不殺者生善
T 0119b07
趣,如是竊盜、邪婬、兩舌、惡口、妄言、綺語、貪取、
T 0119b08
嫉妬、邪見者,墮惡趣中;不盜,不婬,不兩舌、
T 0119b09
惡口、妄言、綺語,不貪取、嫉妬、邪見者,則生
T 0119b10
善趣。若有不殺,不盜,不婬,不兩舌、惡口、妄
T 0119b11
言、綺語,不貪取、嫉妬、邪見,身壞命終,生欝單
T 0119b12
曰,壽命千歲,不增不減。是故彼人壽命正等。
T 0119b13
復次,慳悋貪取,不能施惠,死墮惡道;開心
T 0119b14
不悋,能為施惠者,則生善處。有人施沙門、
T 0119b15
婆羅門,及施貧窮乞兒、瘡病、困苦者,給其衣
T 0119b16
服、飯食、乘輿、花鬘、塗香、牀
[木*翕]
、房舍,又造立塔
T 0119b17
廟,燈燭供養,其人身壞命終,生欝單曰,壽命
T 0119b18
千歲,不增不減。是故彼人壽命正等。何故稱
T 0119b19
欝單曰為勝?其土人民不受十善,舉動
T 0119b20
自然與十善合,身壞命終,生天善處,是故
T 0119b21
彼人得稱為
勝
欝單曰。欝單曰者,其義云
T 0119b22
何?於三天下,其土最上最勝,故名欝單曰
T 0119b23
(欝單曰秦言最上)
。」
T 0119b24
佛說長阿含第四分世記經轉輪聖王品第 三
T 0119b26
佛告比丘:「世間有轉輪聖王,成就七寶,有
T 0119b27
四神德。云何轉輪聖王成就七寶?一金輪寶,
T 0119b28
二白象寶,三紺馬寶,四神珠寶,五玉女寶,六
T 0119b29
居士寶,七主兵寶。云何轉輪聖王金輪寶成
T 0119c01
就?若轉輪聖王出閻浮提地,剎利水澆頭種,
T 0119c02
以十五日月滿時,沐浴香湯,上高殿上,與
T 0119c03
婇女眾共相娛樂,天金輪寶忽現在前,輪有
T 0119c04
千輻,其光色具足,天金所成,天匠所造,非
T 0119c05
世所有,輪徑丈四。轉輪聖王見已,默自念言:
T 0119c06
『我曾從先宿諸舊聞如是語:「若剎利王水
T 0119c07
澆頭種,以十五日月滿時,沐浴香湯,昇法
T 0119c08
殿上,婇女圍遶,自然金輪忽現在前,輪有千
T 0119c09
輻,光色具足,天匠所造,非世所有,輪徑丈四,
T 0119c10
是則名為轉輪聖王。」今此輪現,將無是耶?今
T 0119c11
我寧可試此輪寶。』
「時,轉輪王即召四兵,向
T 0119c12
金輪寶,偏露右臂,右膝著地,以右手摩捫
T 0119c13
金輪語言:『汝向東方,如法而轉,勿違常則。』
T 0119c14
輪即東轉。時,轉輪王即將四兵隨其後行,
T 0119c15
金輪寶前有四神導,輪所住處,王即止駕。爾
T 0119c16
時,東方諸小國王見大王至,以金鉢盛銀
T 0119c17
粟,銀鉢盛金粟,來詣王所,拜首白言:『善哉!
T 0119c18
大王!今此東方土地豐樂,多諸珍寶,人民熾
T 0119c19
盛,志性仁和,慈孝忠順,唯願聖王於此治政,
T 0119c20
我等當給使左右承受所當。』時,轉輪王語
T 0119c21
小王言:『止!止!諸賢!汝等則為供養我已,但
T 0119c22
當以正法治化,勿使偏枉,無令國內有
T 0119c23
非法行,身不殺生,教人不殺生、偷盜、邪婬、
T 0119c24
兩舌、惡口、妄言、綺語、貪取、嫉妬、邪見之人,此
T 0119c25
即名為我之所治。』
「時,諸小王聞是教已,即
T 0119c26
從大王巡行諸國,至東海表,次行南方、西
T 0119c27
方、北方,隨輪所至,其諸國王各獻國土,亦
T 0119c28
如東方諸小王比。此閻浮提所有名曰土
T 0119c29
沃野豐,多出珍寶,林水清淨,平廣之處,輪
T 0120a01
則周行,封盡圖度東西十二由旬,南北十
T 0120a02
由旬,天神於中夜造城墎,其城七重,七重
T 0120a03
欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,七寶所
T 0120a04
成,乃至無數眾鳥相和而鳴。造此城已,金
T 0120a05
輪寶復於其城中,圖度封地東西四由旬,
T 0120a06
南北二由旬,天神於中夜造宮殿,宮牆七
T 0120a07
重,七寶所成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復
T 0120a08
如是。造宮殿已,時,金輪寶在宮殿上虛空
T 0120a09
中住,完具而不動轉。轉輪聖王踊躍而言:
T 0120a10
『此金輪寶真為我瑞,我今真為轉輪聖王。』是
T 0120a11
為金輪寶成就。
「云何白象寶成就?轉輪聖王
T 0120a12
清旦於正殿上坐,自然象寶忽現在前,其毛
T 0120a13
純白,七處平住,力能飛行,其首雜色,六牙纖
T 0120a14
傭
,真金間填。時,王見已念言:『此象賢良,若善
T 0120a15
調者可中御乘。』即試調習,諸能悉備。時,轉輪
T 0120a16
王欲自試象,即乘其上,清旦出城,周行四
T 0120a17
海,食時以還。時,轉輪王踊躍而言:『此白象
T 0120a18
寶真為我瑞,我今真為轉輪聖王。』是為象
T 0120a19
寶成就。
「云何轉輪聖王紺馬寶成就?時,轉輪
T 0120a20
聖王清旦在正殿上坐,自然馬寶忽現在前,
T 0120a21
紺青色,朱騣尾,頭頸如象,力能飛行。時,王
T 0120a22
見已念言:『此馬賢良,若善調者,可中御乘。』
T 0120a23
即試調習,諸能悉備。時,轉輪聖王欲自試馬
T 0120a24
寶,即乘其上,清旦出城,周行四海,食時已
T 0120a25
還。時,轉輪王踊躍而言:『此紺馬寶真為我瑞,
T 0120a26
我今真為轉輪聖王。』是為紺馬寶成就。
「云何
T 0120a27
神珠寶成就?時,轉輪聖王於清旦在正殿
T 0120a28
上坐,自然神珠忽現在前,質色清徹,無有
T 0120a29
瑕穢。時,王見已言:『此珠妙好,若有光明,可
T 0120b01
照宮內。』時,轉輪王欲試此珠,即召四兵,以
T 0120b02
此寶珠置高幢上,於夜冥中,齎
幢
出城。其
T 0120b03
珠光明照一由旬,現城中人皆起作務,謂為
T 0120b04
是晝。時,轉輪聖王踊躍而言:『今此神珠真
T 0120b05
為我瑞,我今真為轉輪聖王。』是為神珠寶
T 0120b06
成就。
「云何玉女寶成就?時,玉女寶忽然出現,
T 0120b07
顏色溶溶,面貌端正,不長不短,不麤不細,
T 0120b08
不白不黑,不剛不柔,冬則身溫,夏則身涼,舉
T 0120b09
身毛孔出栴檀香,口出優鉢羅花香,言語
T 0120b10
柔濡,舉動安詳,先起後坐,不失宜則。時,轉
T 0120b11
輪聖王見已無著,心不暫念,況復親近?時,轉
T 0120b12
輪聖王見已,踊躍而言:『此玉女寶真為我瑞,
T 0120b13
我今真為轉輪聖王。』是為玉女寶成就。
「云何
T 0120b14
居士寶成就?時,居士丈夫忽然自出,寶藏自
T 0120b15
然財富無量,居士宿福,眼能徹視地中伏藏,
T 0120b16
有主無主皆悉見知,其有主者能為擁護,其
T 0120b17
無主者取給王用。時,居士寶往白王言:『大
T 0120b18
王!有所給與,不足為憂,我自能辦。』轉輪
T 0120b19
聖王欲試居士寶,即勅嚴船於水遊戲,
T 0120b20
告居士曰:『我須金寶,汝速與我。』居士報曰:
T 0120b21
『大王小待,須至岸上。』王尋逼言:『我今須用,
T 0120b22
正爾得來。』時,居士寶被王嚴勅,即於船上
T 0120b23
長跪,以右手內著水中,水中寶瓶隨手而
T 0120b24
出,如虫緣樹,彼居士寶亦復如是,內手水
T 0120b25
中,寶緣手出,充滿船上,而白王言:『向須
T 0120b26
寶用,為須幾許?』時,轉輪聖王語居士言:
T 0120b27
『止!止!吾無所須,向相試耳,汝今便為供養
T 0120b28
我已。』時,居士聞王語已,尋以寶物還沒
T 0120b29
水中。時,轉輪聖王踊躍而言:『此居士寶真為
T 0120c01
我瑞,我今真為轉輪聖王。』是為居士寶成
T 0120c02
就。
「云何主兵寶成就?時,主兵寶忽然出現,智
T 0120c03
謀雄猛,英略獨決,即詣王所白言:『大王!有
T 0120c04
所討罰,不足為憂,我自能辦。』時,轉輪聖
T 0120c05
王欲試主兵寶,即集四兵而告之曰:『汝今
T 0120c06
用兵,未集者集,已集者放,未嚴者嚴,已嚴
T 0120c07
者解,未去者去,已去者住。』時,主兵寶聞王語
T 0120c08
已,即令四兵,未集者集,已集者放,未嚴者
T 0120c09
嚴,已嚴者解,未去者去,已去者住。時,轉輪聖
T 0120c10
王見已,踊躍而言:『此主兵寶真為我瑞,我今
T 0120c11
真為轉輪聖王。』是為轉輪聖王七寶成就。
「
T 0120c12
謂四神德,一者長壽不夭無能及者,二者身
T 0120c13
強無患無能及者,三者顏貌端正無能及
T 0120c14
者,四者寶藏盈溢無能及者,是為轉輪聖王
T 0120c15
成就七寶及四功德。
「時,轉輪聖王久乃命駕
T 0120c16
出遊後園,尋告御者:『汝當善御而行。所以
T 0120c17
然者?吾欲諦觀國土人民安樂無患。』時,國
T 0120c18
人民路次觀者,復語侍人:『汝且徐行,吾欲
T 0120c19
諦觀聖王威顏。』時,轉輪聖王慈育民物如
T 0120c20
父愛子,國民慕王如子仰父,所有珍琦盡
T 0120c21
以貢王,願埀納受,在意所與。時,王報曰:
T 0120c22
『且止!諸人!吾自有寶,汝可自用。』
「轉輪聖王
T 0120c23
治此閻浮提時,其地平正,無有荊棘、坑坎、
T 0120c24
堆阜,亦無蚊虻、蜂蝎、蠅蚤、蛇蚖、惡蟲,石沙、
T 0120c25
瓦礫自然沈沒,金銀寶玉現於地上,四時和
T 0120c26
調,不寒不熱,其地柔濡,無有塵穢,如油
T 0120c27
塗地,潔淨光澤,無有塵穢。轉輪聖王治於
T 0120c28
世時,地亦如是,地出流泉,清淨無竭,生
T 0120c29
柔濡草,冬夏常青,樹木繁茂,花果熾盛,地生
T 0121a01
濡草,色如孔翠,香若婆師,濡如天衣,足
T 0121a02
蹈地時,地凹四寸,舉足還復,無空缺處,自
T 0121a03
然粳米無有糠糩,眾味具足。時有香樹,花
T 0121a04
果茂盛,其果熟時,果自然裂,出自然香,香氣
T 0121a05
馥熏。復有衣樹,花果茂盛,其果熟時,皮殼
T 0121a06
自裂,出種種衣。復有莊嚴樹,花果熾盛,其
T 0121a07
果熟時,皮殼自裂,出種種莊嚴具。復有鬘
T 0121a08
樹,花果茂盛,其果熟時,皮殼自裂,出種種
T 0121a09
鬘。復有器樹,花果茂盛,其果熟時,皮殼自裂,
T 0121a10
出種種器。復有果樹,花果茂盛,其果熟時,
T 0121a11
皮殼自裂,出種種果。復有樂器樹,花果茂
T 0121a12
盛,其果熟時,皮殼自裂,出眾樂器。
「轉輪聖王
T 0121a13
治於世時,阿耨達龍王於中夜後起大密
T 0121a14
雲,彌滿世界而降大雨,如搆牛頃,雨八
T 0121a15
味水,潤澤周普,地無停水,亦無泥
淖
,潤澤
T 0121a16
沾洽,生長草木。猶如鬘師水灑花鬘,使花
T 0121a17
鮮澤,令不萎枯,時雨潤澤,亦復如是。又時
T 0121a18
於中夜後,空中清明,淨無雲曀,海出涼風,
T 0121a19
清淨調柔,觸身生樂。聖王治時,此閻浮提五
T 0121a20
穀豐賤,人民熾盛,財寶豐饒,無所匱乏。
「當
T 0121a21
時,轉輪聖王以正治國,無有阿抂,修十善
T 0121a22
行,爾時諸人民亦修正見,具十善行。其王
T 0121a23
久久,身生重患,而取命終。時猶如樂人,食
T 0121a24
如小過,身小不適,而便命終,生梵天上。時
T 0121a25
玉女寶、居士寶、主兵寶及國
士
民作倡伎樂,
T 0121a26
葬聖王身。其王玉女寶、居士寶、主兵寶、國
T 0121a27
內士民,以香湯洗浴王身,以劫貝纏五
T 0121a28
百張疊,次如纏之,奉舉王身,置金棺裏,
T 0121a29
以香油灌置鐵槨裏。復以木槨重衣其外,
T 0121b01
積眾香薪重衣其上,而耶維之,於四衢
T 0121b02
道頭起七寶塔,縱廣一由旬,雜色參間,以
T 0121b03
七寶成。其塔四面各有一門,周匝欄楯,以
T 0121b04
七寶成。其塔四面空地縱廣五由旬,園牆七
T 0121b05
重、七重欄楯、七重羅網、七重行樹,金牆銀門,
T 0121b06
銀牆金門,琉璃牆水精門,水精牆琉璃門,赤
T 0121b07
珠牆馬瑙門,馬瑙牆赤珠門,車
璩
牆眾寶門。
T 0121b08
其欄楯者,金欄銀桄,銀欄金桄,水精欄琉璃
T 0121b09
桄,琉璃欄水精桄,赤珠欄馬瑙桄,馬瑙欄赤
T 0121b10
珠桄,車
璩
欄眾寶桄。其金羅網下懸銀鈴,
T 0121b11
其銀羅網下懸金鈴,琉璃羅網懸水精鈴,
T 0121b12
水精羅網懸琉璃鈴,赤珠羅網懸馬瑙鈴,
T 0121b13
馬瑙羅網懸赤珠鈴,車
璩
羅網懸眾寶鈴。其
T 0121b14
金樹者銀葉花實,其銀樹者金葉花實,其琉
T 0121b15
璃樹水精花葉,水精樹琉璃花葉,赤珠樹者
T 0121b16
馬瑙花葉,馬瑙樹赤珠花葉,車
璩
樹眾寶花
T 0121b17
葉。其四園牆復有四門,周匝欄楯。又其牆
T 0121b18
上皆有樓閣寶臺,其牆四面有樹木園林、流
T 0121b19
泉浴池,生種種花,樹木繁茂,花果熾盛,眾香
T 0121b20
芬馥,異鳥哀鳴。其塔成已,玉女寶、居士寶、典
T 0121b21
兵寶、舉國士民皆來供養此塔,施諸窮乏,
T 0121b22
須食與食,須衣與衣,象馬寶乘,給眾所須,
T 0121b23
隨意所與。轉輪聖王威神功德,其事如是。」
T 0121b24
佛說長阿含經卷第十八
第四分世記經地獄品第四
T 0121b29
佛說長阿含經卷第十九
T 0121b27
後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯
T 0121b28
佛告比丘:「此四天下有八千天下圍遶其
T 0121c01
外,復有大海水周匝圍遶八千天下,復有
T 0121c02
大金剛山遶大海水。金剛山外復有第二大
T 0121c03
金剛山,二山中間窈窈冥冥,日月神天有大
T 0121c04
威力,不能以光照及於彼。彼有八大地獄,
T 0121c05
其一地獄有十六小地獄。第一大地獄名想,
T 0121c06
第二名黑繩,第三名堆壓,第四名叫喚,第
T 0121c07
五名大叫喚,第六名燒炙,第七名大燒炙,
T 0121c08
第八名無間。其想地獄有十六小獄,小獄
T 0121c09
縱廣五百由旬,第一小獄名曰黑沙,二名沸
T 0121c10
屎,三名五百丁,四名飢,五名渴,六名一
T 0121c11
銅釜,七名多銅釜,八名石磨,九名膿血,十
T 0121c12
名量火,十一名灰河,十二名鐵丸,十三名
T 0121c13
釿斧,十四名犲狼,十五名劍樹,十六名寒氷。
T 0121c14
「云何名想地獄?其中眾生手生鐵爪,其爪長
T 0121c15
利,迭相瞋忿,懷毒害想,以爪相
爴
,應手肉
T 0121c16
墮,想為已死;冷風來吹,皮肉還生,尋活起立。
T 0121c17
自想言:『我今已活。』餘眾生言:『我想汝活。』以
T 0121c18
是想故,名想地獄。
「復次,想地獄其中眾生
T 0121c19
懷毒害想,共相觸嬈,手執自然刀劍,刀劍鋒
T 0121c20
利,迭相斫
刺
,
[利-禾+皮]
剝臠割,身碎在地,想謂為
T 0121c21
死;冷風來吹,皮肉更生,尋活起立。彼自想言:
T 0121c22
『我今已活。』餘眾生言:『我想汝活。』以此因緣
T 0121c23
故,名想地獄。
「復次,想地獄其中眾生懷毒害
T 0121c24
想,迭相觸嬈,手執刀劍,刀劒鋒利,共相斫
T 0121c25
刺
,
[利-禾+皮]
剝臠割,想謂為死;冷風來吹,皮肉更生,
T 0121c26
尋活起立。自言:『我活。』餘眾生言:『我想汝活。』以
T 0121c27
此因緣故,名想地獄。
「復次,想地獄其中眾生
T 0121c28
懷毒害想,迭相觸嬈,手執油影刀,其刀鋒
T 0121c29
利,更相斫刺,
[利-禾+皮]
剝臠割,想謂為死;冷風來吹,
T 0122a01
皮肉更生,尋活起立。自言:『我活。』餘眾生言:
T 0122a02
『我想汝活。』以是因緣,名為想地獄。
「復次,想
T 0122a03
地獄其中眾生懷毒害想,迭相觸嬈,手執
T 0122a04
小刀,其刀鋒利,更相斫
刺
,
[利-禾+皮]
剝臠割,想謂為
T 0122a05
死;冷風來吹,皮肉更生,尋活起立。自言:『我活。』
T 0122a06
餘眾生言:『我想汝活。』以是因緣故,名想地
T 0122a07
獄。
「其中眾生久受罪已,出想地獄,慞惶馳
T 0122a08
走,求自救護,宿罪所牽,不覺忽到黑沙地
T 0122a09
獄。時,有熱風暴起,吹熱黑沙,來著其身,舉
T 0122a10
體盡黑,猶如黑雲,熱沙燒皮,盡肉徹骨,罪
T 0122a11
人身中有黑焰起,遶身迴旋,還入身內,受
T 0122a12
諸苦惱,燒炙燋爛。以罪因緣,受此苦報,其
T 0122a13
罪未畢,故使不死。
「於此久受苦已,出黑沙
T 0122a14
地獄,慞惶馳走,求自救護,宿罪所牽,不覺
T 0122a15
忽到沸屎地獄。其地獄中有沸屎鐵丸自
T 0122a16
然滿前,驅迫罪人使抱鐵丸,燒其身手,
T 0122a17
至其頭面,無不周遍。復使探撮,舉著口
T 0122a18
中,燒其脣舌,從咽至腹,通徹下過,無不燋
T 0122a19
爛。有鐵
[口*(隹/乃)]
虫,唼食皮肉,徹骨達髓,苦毒辛
T 0122a20
酸,憂惱無量。以罪未畢,猶復不死。
「於沸屎
T 0122a21
地獄久受苦已,出沸屎地獄,慞惶馳走,求
T 0122a22
自救護,到鐵釘地獄。到已,獄卒撲之令墮,
T 0122a23
偃熱鐵上,舒展其身,以釘釘手、釘足、釘
T 0122a24
心,周遍身體,盡五百釘,苦毒辛酸,號咷呻
T 0122a25
吟。餘罪未畢,猶復不死。
「久受苦已,出鐵釘
T 0122a26
地獄,慞惶馳走,求自救護,到飢餓地獄。獄
T 0122a27
卒來問:『汝等來此,欲何所求?』報言:『我餓。』獄
T 0122a28
卒即捉撲熱鐵上,舒展其身,以鐵鈎鈎口
T 0122a29
使開,以熱鐵丸著其口中,燋其脣舌,從
T 0122b01
咽至腹,通徹下過,無不燋爛,苦毒辛酸,悲
T 0122b02
號啼哭。餘罪未盡,猶復不死。
「久受苦已,出
T 0122b03
飢地獄,慞惶馳走,求自救護,到渴地獄。獄
T 0122b04
卒問言:『汝等來此,欲何所求?』報言:『我渴。』獄
T 0122b05
卒即捉撲熱鐵上,舒展其身,以熱鐵鈎鈎
T 0122b06
口使開,消銅灌口,燒其脣舌,從咽至腹,
T 0122b07
通徹下過,無不燋爛,苦毒辛酸,悲號啼哭。餘
T 0122b08
罪未盡,猶復不死。
「久受苦已,出渴地獄,慞
T 0122b09
惶馳走,求自救護,宿罪所牽,不覺忽到一
T 0122b10
銅鍑地獄。獄卒怒目捉罪人足,倒投鍑
T 0122b11
中,隨湯涌沸,上下迴旋,從底至口,從口至
T 0122b12
底,或在鍑腹,身體爛熟。譬如煮豆,隨
T 0122b13
湯涌沸,上下迴轉,中外爛壞,罪人在鍑,
T 0122b14
隨湯上下,亦復如是,號咷悲叫,萬毒普
T 0122b15
至。餘罪未盡,故復不死。
「久受苦已,出
T 0122b16
一銅鍑地獄,慞惶馳走,求自救護,宿罪所
T 0122b17
牽,不覺忽至多銅鍑地獄。多銅鍑地獄縱
T 0122b18
廣五百由旬,獄鬼怒目捉罪人足,倒投鍑
T 0122b19
中,隨湯涌沸,上下迴旋,從底至口,從口至
T 0122b20
底,或在鍑腹,舉身爛壞。譬如煑豆,隨湯
T 0122b21
涌沸,上下迴轉,中外皆爛,罪人在鍑,亦復
T 0122b22
如是,隨湯上下,從口至底,從底至口,或
T 0122b23
手足現,或腰腹現,或頭面現,獄卒以鐵鈎鈎
T 0122b24
取置餘鍑中,號咷悲叫,苦毒辛酸。餘罪未
T 0122b25
畢,故使不死。
「久受苦已,出多銅鍑地獄,
T 0122b26
慞惶馳走,求自救護,宿對所牽,不覺忽至
T 0122b27
石磨地獄。石磨地獄縱廣五百由旬,獄卒
T 0122b28
大怒,捉彼罪人撲熱石上,舒展手足,以
T 0122b29
大熱石壓其身上,迴轉揩磨,骨肉糜碎,膿
T 0122c01
血流出,苦毒切痛,悲號辛酸。餘罪未盡,故使
T 0122c02
不死。
「久受苦已,出石磨地獄,慞惶馳走,求
T 0122c03
自救護,宿對所牽,不覺忽至膿血地獄。膿
T 0122c04
血地獄縱廣五百由旬,其地獄中有自然膿
T 0122c05
血,熱沸涌出,罪人於中東西馳走,膿血沸
T 0122c06
熱,湯其身體,手足頭面皆悉爛壞;又取膿
T 0122c07
血而自食之,湯其脣舌,從咽至腹,通徹
T 0122c08
下過,無不爛壞,苦毒辛酸,眾痛難忍。餘罪
T 0122c09
未畢,故使不死。
「久受苦已,乃出膿血地獄,
T 0122c10
慞惶馳走,求自救護,宿罪所牽,不覺忽至
T 0122c11
量火地獄。量火地獄縱廣五百由旬,其地獄
T 0122c12
中有大火聚,自然在前。其火焰熾,獄卒瞋怒
T 0122c13
馳迫罪人,手執鐵斗,使量火聚,彼量火
T 0122c14
時,燒其手足,遍諸身體,苦毒熱痛,呻吟號
T 0122c15
哭。餘罪未畢,故使不死。
「久受苦已,乃出量
T 0122c16
火地獄,慞惶馳走,自求救護,宿對所牽,不
T 0122c17
覺忽到灰河地獄。灰河地獄縱廣五百由旬,
T 0122c18
深五百由旬,灰湯涌沸,惡氣熢
[火*孛]
,迴波相搏,
T 0122c19
聲響可畏,從底至上,鐵
刺
縱廣鋒長八寸,
T 0122c20
其河岸邊生長刀劍,其邊皆有獄卒狐狼,
T 0122c21
又其岸上有劍樹林,枝葉花實皆是刀劍,鋒
T 0122c22
刃八寸。罪人入河,隨波上下,迴覆沈沒,鐵刺
T 0122c23
刺身,內外通徹,皮肉爛壞,膿血流出,苦痛萬
T 0122c24
端,悲號酸毒。餘罪未畢,故使不死。
「久受苦
T 0122c25
已,乃出灰河地獄至彼岸上,岸上利劍割
T 0122c26
刺
身體,手足傷壞。爾時,獄卒問罪人言:『汝
T 0122c27
等來此,欲何所求?』罪人報言:『我等飢餓。』獄
T 0122c28
卒即捉罪人撲熱鐵上,舒展身體,以鐵鈎
T 0122c29
擗
口,洋銅灌之,燒其脣舌,從咽至腹,通徹
T 0123a01
下過,無不燋爛。復有犲狼,牙齒長利,來嚙
T 0123a02
罪人,生食其肉。於是,罪人為灰河所煮,利
T 0123a03
刺
所
刺
,洋銅灌口,犲狼所食已,即便
[馬*奔]
馳
T 0123a04
走上劍樹,上劍樹時,劍刃下向,下劍樹時,
T 0123a05
劍刃上向,手攀手絕,足蹬足絕,劍刃刺身,
T 0123a06
中外通徹,皮肉墮落,膿血流出,遂有白骨
T 0123a07
筋脉相連。時,劍樹上有鐵
[口*(隹/乃)]
鳥,啄頭骨壞,
T 0123a08
唼食其腦,苦毒辛酸,號咷悲叫。餘罪未畢,故
T 0123a09
使不死。還復來入灰河獄中,隨波上下,廻
T 0123a10
覆沈沒,鐵
刺刺
身,內外通徹,皮肉爛壞,膿血
T 0123a11
流出,唯有白骨浮漂於外,冷風來吹,肌肉
T 0123a12
還復,尋便起立,慞惶馳走,求自救護,宿對所
T 0123a13
牽,不覺忽至鐵丸地獄。鐵丸地獄縱廣五百
T 0123a14
由旬,罪人入已,有熱鐵丸自然在前,獄鬼
T 0123a15
驅捉,手足爛壞,舉身火然,苦痛悲號,萬毒竝
T 0123a16
至。餘罪未畢,故使不死。
「久受苦已,乃至
T 0123a17
出鐵丸地獄,慞惶馳走,求自救護,宿對所
T 0123a18
牽,不覺忽至釿斧地獄。釿斧地獄縱廣五百
T 0123a19
由旬,彼入獄已,獄卒瞋怒捉此罪人撲熱
T 0123a20
鐵上,以熱鐵釿斧破其手足、耳鼻、身體,苦
T 0123a21
毒辛酸,悲號叫喚。餘罪未盡,猶復不死。
「久
T 0123a22
受罪已,出釿斧地獄,慞惶馳走,求自救護,
T 0123a23
宿罪所牽,不覺忽至犲狼地獄。犲狼地獄縱
T 0123a24
廣五百由旬,罪人入已,有群犲狼競來
[齒*盧]
T 0123a25
掣,
[齒*齊]
嚙拖抴,肉墮傷骨,膿血流出,苦痛萬
T 0123a26
端,悲號酸毒。餘罪未畢,故使不死。
「久受苦
T 0123a27
已,乃出犲狼地獄,慞惶馳走,求自救護,宿對
T 0123a28
所牽,不覺忽至劍樹地獄。劍樹地獄縱廣
T 0123a29
五百由旬,罪人入彼劍樹林中,有大暴風
T 0123b01
起吹,劍樹葉墮其身上,著手手絕,著足足
T 0123b02
絕,身體頭面無不傷壞。有鐵
[口*(隹/乃)]
鳥立其頭
T 0123b03
上,啄其兩目,苦痛萬端,悲號酸毒。餘罪未畢,
T 0123b04
故使不死。
「久受苦已,乃出劍樹地獄,慞惶
T 0123b05
馳走,求自救護,宿罪所牽,不覺忽至寒氷
T 0123b06
地獄。寒氷地獄縱廣五百由旬,罪人入已,有
T 0123b07
大寒風來吹其身,舉體凍瘃,皮肉墮落,苦
T 0123b08
毒辛酸,悲號叫喚,然後命終。」
佛告比丘:「黑繩
T 0123b09
大地獄有十六小地獄,周匝圍遶,各各縱廣
T 0123b10
五百由旬,從黑繩地獄至寒氷地獄。何故
T 0123b11
名為黑繩地獄?其諸獄卒捉彼罪人撲熱
T 0123b12
鐵上,舒展其身,以熱鐵繩絣之使直,以
T 0123b13
熱鐵斧逐繩道斫,絣彼罪人,作百千段,
T 0123b14
猶如工匠以繩絣木,利斧隨斫,作百千段。
T 0123b15
治彼罪人,亦復如是,苦毒辛酸,不可稱計。
T 0123b16
餘罪未畢,故使不死。是名為黑繩地獄。
「復
T 0123b17
次,黑繩地獄獄卒捉彼罪人撲熱鐵上,舒
T 0123b18
展其身,以鐵繩絣,以鋸鋸之,猶如工匠以
T 0123b19
繩絣木,以鋸鋸之,治彼罪人,亦復如是,
T 0123b20
苦痛辛酸,不可稱計。餘罪未畢,故使不死。
T 0123b21
是故名為黑繩地獄。
「復次,黑繩地獄捉彼罪
T 0123b22
人撲熱鐵上,舒展其身,以熱鐵繩置其
T 0123b23
身上,燒皮徹肉,燋骨沸髓,苦毒辛酸,痛不
T 0123b24
可計。餘罪未畢,故使不死。故名黑繩地獄。
T 0123b25
「復次,黑繩地獄獄卒,懸熱鐵繩交橫無數,驅
T 0123b26
迫罪人,使行繩間,惡風暴起,吹諸鐵繩,歷
T 0123b27
落其身,燒皮徹肉,燋骨沸髓,苦毒萬端,
T 0123b28
不可稱計。餘罪未畢,故使不死。故名黑
T 0123b29
繩。
「復次,黑繩獄卒以熱鐵繩衣驅罪人被
T 0123c01
之,燒皮徹肉,燋骨沸髓,苦毒萬端,不可稱
T 0123c02
計。餘罪未畢,故使不死。故名黑繩。其彼罪
T 0123c03
人久受苦已,乃出黑繩地獄,慞惶馳走,求
T 0123c04
自救護,宿對所牽,不覺忽至黑沙地獄,乃至
T 0123c05
寒氷地獄,然後命終,亦復如是。」
T 0123c06
佛告比丘:「堆壓大地獄有十六小地獄,周
T 0123c07
匝圍遶,各各縱廣五百由旬。何故名為堆壓
T 0123c08
地獄?其地獄中有大石山,兩兩相對,罪人
T 0123c09
入中,山自然合,堆壓其身,骨肉糜碎,山還
T 0123c10
故處,猶如以木擲木,彈却還離,治彼罪人,
T 0123c11
亦復如是,苦毒萬端,不可稱計。餘罪未畢,
T 0123c12
故使不死。是故名曰堆壓地獄。
「復次,堆
T 0123c13
壓地獄有大鐵象,舉身火然,哮呼而來,蹴
T 0123c14
蹹罪人,宛轉其上,身體糜碎,膿血流出,
T 0123c15
苦毒辛酸,號咷悲叫。餘罪未畢,故使不死。
T 0123c16
故名堆壓。
「復次,堆壓地獄其中獄卒。捉諸
T 0123c17
罪人置於磨石中,以磨磨之,骨肉糜碎,
T 0123c18
膿血流出,苦毒辛酸,不可稱計。其罪未畢,
T 0123c19
故使不死。故名堆壓。
「復次,堆壓獄卒捉
T 0123c20
彼罪人臥大石上,以大石壓,骨肉糜碎,
T 0123c21
膿血流出,苦痛辛酸,萬毒竝至。餘罪未畢,故
T 0123c22
使不死。故名堆壓。
「復次,堆壓獄卒取彼
T 0123c23
罪人臥鐵臼中,以鐵杵擣從足至頭,皮肉
T 0123c24
糜碎,膿血流出,苦痛辛酸,萬毒竝至。餘罪未
T 0123c25
畢,故使不死。故名堆壓。其彼罪人久受
T 0123c26
苦已,乃出堆壓地獄,慞惶馳走,求自救護,
T 0123c27
宿罪所牽,不覺忽至黑沙地獄,乃至寒氷
T 0123c28
地獄,然後命終,亦復如是。」
T 0123c29
佛告比丘:「叫喚大地獄有十六小地獄,周
T 0124a01
匝圍遶,各各縱廣五百由旬。何故名為叫喚
T 0124a02
地獄?其諸獄卒捉彼罪人擲大鑊中,熱湯
T 0124a03
涌沸,煮彼罪人,號咷叫喚,苦痛辛酸,萬毒竝
T 0124a04
至。餘罪未畢,故使不死。故名叫喚地獄。
「復
T 0124a05
次,叫喚地獄其諸獄卒,取彼罪人擲大鐵瓮
T 0124a06
中,熱湯涌沸而煮罪人,號咷叫喚,苦切辛酸。
T 0124a07
餘罪未畢,故使不死。故名叫喚。
「復次,叫喚
T 0124a08
地獄其諸獄卒,取彼罪人置大鐵鍑中,熱
T 0124a09
湯涌沸,煮彼罪人,號咷叫喚,苦痛辛酸。餘罪
T 0124a10
未畢,故使不死。故名叫喚。
「復次,叫喚地獄
T 0124a11
其諸獄卒,取彼罪人擲小鍑中,熱湯涌沸,
T 0124a12
煮彼罪人,號咷叫喚,苦痛辛酸。餘罪未畢,故
T 0124a13
使不死。故名叫喚地獄。
「復次,叫喚地獄其
T 0124a14
諸獄卒,取彼罪人擲大
鏊
上,反覆煎熬,號
T 0124a15
咷叫喚,苦痛辛酸。餘罪未畢,故使不死。故
T 0124a16
名叫喚。久受苦已,乃出叫喚地獄,慞惶馳
T 0124a17
走,求自救護,宿對所牽,不覺忽至黑沙地
T 0124a18
獄,乃至寒氷地獄,爾乃至終。」
T 0124a19
佛告比丘:「大叫喚地獄有十六小獄,周匝圍
T 0124a20
遶。何故名為大叫喚地獄?其諸獄卒取彼罪
T 0124a21
人著大鐵釜中,熱湯涌沸而煮罪人,號咷
T 0124a22
叫喚、大叫喚,苦痛辛酸,萬毒並至。餘罪未畢,
T 0124a23
故使不死。故名大叫喚地獄。
「復次,大叫喚地
T 0124a24
獄其諸獄卒,取彼罪人擲大鐵瓮中,熱湯
T 0124a25
涌沸而煮罪人,號咷叫喚、大叫喚,苦切辛酸,
T 0124a26
萬毒並至。餘罪未畢,故使不死。故名大叫
T 0124a27
喚地獄。
「復次,大叫喚獄卒取彼罪人置鐵
T 0124a28
鑊中,熱湯涌沸,煮彼罪人,號咷叫喚,苦毒辛
T 0124a29
酸,萬毒並至。餘罪未畢,故使不死。故名大
T 0124b01
叫喚地獄。
「復次,大叫喚地獄其諸獄卒,取彼
T 0124b02
罪人擲小鍑中,熱湯涌沸,煮彼罪人,號咷
T 0124b03
叫喚、大叫喚,苦痛辛酸,萬毒並至,故名大叫
T 0124b04
喚。
「復次,大叫喚地獄其諸獄卒,取彼罪人
T 0124b05
擲大
鏊
上,反覆煎熬,號咷叫喚、大叫喚,苦痛
T 0124b06
辛酸,萬毒並至。餘罪未畢,故使不死。故名
T 0124b07
大叫喚。久受苦已,乃出大叫喚地獄,慞惶馳
T 0124b08
走,求自救護,宿對所牽,不覺忽至黑沙地
T 0124b09
獄,乃至寒氷地獄,爾乃命終。」
T 0124b10
佛告比丘:「燒炙大地獄有十六小獄,周匝
T 0124b11
圍遶,何故名為燒炙大地獄?爾時,獄卒將
T 0124b12
諸罪人置鐵城中,其城火然,內外俱赤,燒
T 0124b13
炙罪人,皮肉燋爛,苦痛辛酸,萬毒並至。餘罪
T 0124b14
未畢,故使不死。是故名為燒炙地獄。
「復次,
T 0124b15
燒炙地獄其諸獄卒,將彼罪人入鐵室內,
T 0124b16
其室火然,內外俱赤,燒炙罪人,皮肉燋爛,苦
T 0124b17
痛辛酸,萬毒並至。餘罪未畢,故使不死。是
T 0124b18
故名為燒炙地獄。
「復次,燒炙地獄其諸獄卒,
T 0124b19
取彼罪人著鐵樓上,其樓火然,內外俱赤,
T 0124b20
燒炙罪人,皮肉燋爛,苦痛辛酸,萬毒並至。餘
T 0124b21
罪未畢,故使不死。是故名為燒炙地獄。
「復
T 0124b22
次,燒炙地獄其諸獄卒,取彼罪人擲著大鐵
T 0124b23
陶中,其陶火燃,內外俱赤,燒炙罪人,皮肉燋
T 0124b24
爛,苦痛辛酸,萬毒並至。餘罪未畢,故使不
T 0124b25
死。是故名為燒炙地獄。
「復次,燒炙地獄其
T 0124b26
諸獄卒,取彼罪人擲大
鏊
上,其
鏊
火然,中外
T 0124b27
俱赤,燒炙罪人,皮肉燋爛,苦痛辛酸,萬毒並
T 0124b28
至。餘罪未畢,故使不死。久受苦已,乃出
T 0124b29
燒炙地獄,慞惶馳走,求自救護,宿罪所牽,
T 0124c01
不覺忽至黑沙地獄,乃至寒氷地獄,然後命
T 0124c02
終,亦復如是。」
T 0124c03
佛告比丘:「大燒炙地獄有十六小獄,周匝圍
T 0124c04
遶,各各縱廣五百由旬。云何名大燒炙地獄?
T 0124c05
其諸獄卒將諸罪人置鐵城中,其城火然,內
T 0124c06
外俱赤,燒炙罪人,重大燒炙,皮肉燋爛,苦
T 0124c07
痛辛酸,萬毒並至。餘罪未畢,故使不死。是
T 0124c08
故名為大燒炙地獄。
「復次,大燒炙地獄其諸
T 0124c09
獄卒,將諸罪人入鐵室中,其室火燃,內外俱
T 0124c10
赤,燒炙罪人,重大燒炙,皮肉燋爛,苦痛辛
T 0124c11
酸,萬毒並至。餘罪未畢,故使不死。是故名
T 0124c12
為大燒炙地獄。
「復次,大燒炙地獄其諸獄卒,
T 0124c13
取彼罪人著鐵樓上,其樓火燃,內外俱赤,
T 0124c14
燒炙罪人,重大燒炙,皮肉燋爛,苦痛辛酸,
T 0124c15
萬毒並至。餘罪未畢,故使不死。是故名曰
T 0124c16
大燒炙地獄。
「復次,大燒炙地獄其諸獄卒,取
T 0124c17
彼罪人著大鐵陶中,其陶火然,內外俱赤,
T 0124c18
燒炙罪人,重大燒炙,苦痛辛酸,萬毒並至。
T 0124c19
餘罪未畢,故使不死。是故名為大燒炙地
T 0124c20
獄。
「復次,大燒炙地獄中自然有大火坑,火焰
T 0124c21
熾盛,其坑兩岸有大火山,其諸獄卒捉彼罪
T 0124c22
人貫鐵叉上,竪著火中,燒炙其身,重大
T 0124c23
燒炙,皮肉燋爛,苦痛辛酸,萬毒並至。餘罪未
T 0124c24
畢,故使不死。久受苦已,然後乃出大燒炙
T 0124c25
地獄,慞惶馳走,求自救護,宿對所牽,不覺
T 0124c26
忽至黑沙地獄,乃至寒氷地獄,爾乃命終,亦
T 0124c27
復如是。」
T 0124c28
佛告比丘:「無間大地獄有十六小獄,周匝圍
T 0124c29
遶,各各縱廣五百由旬。云何名無間地獄?其
T 0125a01
諸獄卒捉彼罪人剝其皮,從足至頂,即
T 0125a02
以其皮纏罪人身,著火車輪,疾駕火車,
T 0125a03
輾熱鐵地,周行往返,身體碎爛,皮肉墮落,
T 0125a04
苦痛辛酸,萬毒並至。餘罪未畢,故使不死。
T 0125a05
是故名為無間地獄。
「復次,無間大地獄有大
T 0125a06
鐵城,其城四面有大火起,東焰至西,西焰
T 0125a07
至東,南焰至北,北焰至南,上焰至下,下
T 0125a08
焰至上,焰熾迴遑,無間空處,罪人在中,東
T 0125a09
西馳走,燒炙其身,皮肉燋爛,苦痛辛酸,萬毒
T 0125a10
並至。餘罪未畢,故使不死。是故名為無間
T 0125a11
地獄。
「復次,無間大地獄中有鐵城,火起洞然,
T 0125a12
罪人在中,火焰燎身,皮肉燋爛,苦痛辛酸,萬
T 0125a13
毒並至。餘罪未畢,故使不死。是故名為無
T 0125a14
間地獄。
「復次,大無間地獄罪人在中,久乃門
T 0125a15
開,其諸罪人
[馬*奔]
走往趣。彼當走時,身諸肢
T 0125a16
節,皆火焰出,猶如力士執大草炬逆風而
T 0125a17
走,其焰熾然。罪人走時,亦復如是。走欲至
T 0125a18
門,門自然閉,罪人
[跳-兆+匍]
蹈
,伏熱鐵地,燒炙其
T 0125a19
身,皮肉燋爛,苦痛辛酸,萬毒並至。餘罪未畢,
T 0125a20
故使不死。是故名為無間地獄。
「復次,無間
T 0125a21
地獄其中罪人,舉目所見,但見惡色,耳有
T 0125a22
所聞,但聞惡聲,鼻有所聞,但聞臭惡,身有
T 0125a23
所觸,但觸苦痛,意有所念,但念惡法。又其
T 0125a24
罪人彈指之頃,無不苦時,故名無間地獄。
T 0125a25
其中眾生久受苦已,從無間出,慞惶馳走,
T 0125a26
求自救護,宿對所牽,不覺忽到黑沙地獄,
T 0125a27
乃至寒氷地獄,爾乃命終,亦復如是。」
爾時,世
T 0125a28
尊即說頌曰:
T 0125a29
「身為不善業, 口意亦不善,
T 0125b01
斯墮想地獄, 怖懼衣毛竪。
T 0125b02
惡意向父母, 佛及諸聲聞,
T 0125b03
則墮黑繩獄, 苦痛不可稱。
T 0125b04
但造三惡業, 不修三善行,
T 0125b05
墮堆壓地獄, 苦痛不可稱。
T 0125b06
瞋恚懷毒害, 殺生血污手,
T 0125b07
造諸雜惡行, 墮叫喚地獄。
T 0125b08
常習眾邪見, 為愛網所覆,
T 0125b09
造此卑陋行, 墮大叫喚獄。
T 0125b10
常為燒炙行, 燒炙諸眾生,
T 0125b11
墮燒炙地獄, 長夜受燒炙。
T 0125b12
捨於善果業, 善果清淨道,
T 0125b13
為眾弊惡行, 墮大燒炙獄。
T 0125b14
為極重罪行, 必生惡趣業,
T 0125b15
墮無間地獄, 受罪不可稱。
T 0125b16
想及黑繩獄, 堆壓二叫喚,
T 0125b17
燒炙大燒炙, 無間為第八。
T 0125b18
此八大地獄, 洞然火光色,
T 0125b19
斯由宿惡殃, 小獄有十六。」
T 0125b20
佛告比丘:「彼二大金剛山間有大風起,名
T 0125b21
為增佉,若使此風來至此四天下及八千
T 0125b22
天下者,吹此大地及諸名山須彌山王去
T 0125b23
地十里,或至百里,飛颺空中,皆悉糜碎。譬
T 0125b24
如壯士,手把輕糠散於空中。
彼
大風力,若
T 0125b25
使來者,吹此天下,亦復如是。由有二大金
T 0125b26
剛山遮止此風,故使不來。比丘!當知此金
T 0125b27
剛山多所饒益,亦是眾生行報所致。
「又彼
T 0125b28
二山間風,焰熾猛熱,若使彼風來至此四天
T 0125b29
下者,其中眾生、山河、江海、草木、叢林皆當
T 0125c01
燋枯。猶如盛夏斷生濡草,置於日中,尋時
T 0125c02
萎枯。彼風如是,若使來至此世界,熱氣燒
T 0125c03
炙,亦復如是。由此二金剛山遮止此風,故
T 0125c04
使不來。比丘!當知此金剛山多所饒益,亦
T 0125c05
是眾生行報所致。
「又彼二山間風,臭處不淨,
T 0125c06
腥穢酷烈,若使來至此天下者,熏此眾生
T 0125c07
皆當失目。由此二大金剛山遮止此風,故
T 0125c08
使不來。比丘!當知此金剛山多所饒益,亦
T 0125c09
是眾生行報所致。
「又彼二山中間復有十地
T 0125c10
獄:一名厚雲,二名無雲,三名呵呵,四名奈
T 0125c11
何,五名羊鳴,六名須乾提,七名優鉢羅,八
T 0125c12
名拘物頭,九名分陀利,十名鉢頭摩。云
T 0125c13
何厚雲地獄?其獄罪人自然生身,譬如厚
T 0125c14
雲,故名厚雲。云何名曰無雲?其彼獄中受
T 0125c15
罪眾生,自然生身,猶如段肉,故名無雲。云
T 0125c16
何名呵呵?其地獄中受罪眾生,苦痛切身,皆
T 0125c17
稱呵呵,故名呵呵。云何名奈何?其地獄中
T 0125c18
受罪眾生,苦痛酸切,無所歸依,皆稱奈何,
T 0125c19
故名奈何。云何名羊鳴?其地獄中受罪眾
T 0125c20
生,苦痛切身,欲舉聲語,舌不能轉,直如
T 0125c21
羊鳴,故名羊鳴。云何名須乾提?其地獄中
T 0125c22
舉獄皆黑,如須乾提華色,故名須乾提。云
T 0125c23
何名優鉢羅?其地獄中舉獄皆青,如優鉢羅
T 0125c24
華,故名優鉢羅。云何名俱物頭?其地獄中
T 0125c25
舉獄皆紅,如俱物頭華色,故名俱物頭。云
T 0125c26
何名分陀利?其地獄中舉獄皆白,如分陀
T 0125c27
利華色,故名分陀利。云何名鉢頭摩?其地
T 0125c28
獄中舉獄皆赤,如鉢頭摩華色,故名鉢頭
T 0125c29
摩。」
佛告比丘:「喻如有篅受六十四斛,滿中
T 0126a01
胡麻,有人百歲持一麻去,如是至盡,厚雲
T 0126a02
地獄受罪未竟,如二十厚雲地獄壽與一
T 0126a03
無雲地獄壽等,如二十無雲地獄壽與一
T 0126a04
呵呵地獄壽等,如二十呵呵地獄壽與一
T 0126a05
奈何地獄壽等,如二十奈何地獄壽與一
T 0126a06
羊鳴地獄壽等,如二十羊鳴地獄壽與一
T 0126a07
須乾提地獄壽等,如二十須乾提地獄壽
T 0126a08
與一優鉢羅地獄壽等,如二十優鉢羅地
T 0126a09
獄壽與一拘物頭地獄壽等,如二十拘物
T 0126a10
頭地獄壽與一分陀利地獄壽等,如二十
T 0126a11
分陀利地獄壽與一鉢頭摩地獄壽等,如
T 0126a12
二十鉢頭摩地獄壽,名一中劫,如二十中
T 0126a13
劫,名一大劫。鉢頭摩地獄中火焰熱熾盛,罪
T 0126a14
人去火一百由旬,火已燒炙;去六十由旬,
T 0126a15
兩耳已聾,無所聞知;去五十由旬,兩目已
T 0126a16
盲,無所復見。瞿波梨比丘已懷惡心,謗舍
T 0126a17
利弗、目犍連,身壞命終,墮此鉢頭摩地獄中。
T 0126a18
「爾時,梵王說此偈言:
T 0126a19
「『夫士之生, 斧在口中,
T 0126a20
所以斬身, 由其惡口。
T 0126a21
應毀者譽, 應譽者毀,
T 0126a22
口為惡業, 身受其罪。
T 0126a23
技術取財, 其過薄少,
T 0126a24
毀謗賢聖, 其罪甚重。
T 0126a25
百千無雲壽, 四十一雲壽,
T 0126a26
謗聖受斯殃, 由心口為惡。』」
T 0126a27
佛告比丘:「彼梵天說如是偈,為真正言,佛
T 0126a28
所印可。所以者何?我今如來、至真、等正覺亦
T 0126a29
說此義。
T 0126b01
「夫士之生, 斧在口中,
T 0126b02
所以斬身, 由其惡言。
T 0126b03
應毀者譽, 應譽者毀,
T 0126b04
口為惡業, 身受其罪。
T 0126b05
技術取財, 其過薄少,
T 0126b06
毀謗賢聖, 其罪甚重。
T 0126b07
百千無雲壽, 四十一雲壽,
T 0126b08
謗聖受斯殃, 由心口為惡。」
T 0126b09
佛告比丘:「閻浮提南大金剛山內,有閻羅
T 0126b10
王宮,王所治處縱廣六千由旬,其城七重,七
T 0126b11
重欄楯、七重羅網、七重行樹,乃至無數眾鳥
T 0126b12
相和悲鳴,亦復如是。然彼閻羅王晝夜三
T 0126b13
時,有大銅鑊自然在前。若鑊出宮內,王見
T 0126b14
畏怖,捨出宮外。若鑊出宮外,王見畏怖,捨
T 0126b15
入宮內。有大獄卒,捉閻羅王臥熱鐵上,
T 0126b16
以鐵鈎擗口使開,洋銅灌之,燒其脣舌,
T 0126b17
從咽至腹,通徹下過,無不燋爛。受罪訖已,
T 0126b18
復與諸婇女共相娛樂。彼諸大臣同受福
T 0126b19
者,亦復如是。」
佛告比丘:「有三使者,云何為
T 0126b20
三?一者老,二者病,三者死。有眾生身行惡,
T 0126b21
口言惡,心念惡,身壞命終,墮地獄中。獄卒
T 0126b22
將此罪人詣閻羅王所,到已,白言:『此是天
T 0126b23
使所召也,唯願大王善問其辭。』王問罪人
T 0126b24
言:『汝不見初使耶?』罪人報言:『我不見也。』
T 0126b25
王復告曰:『汝在人中時,頗見老人頭白齒
T 0126b26
落,目視矇矇,皮緩肌
[月*曷]
,僂脊柱杖,呻吟而
T 0126b27
行,身體戰掉,氣力衰微。見此人不?』罪人言:
T 0126b28
『見。』王復告曰:『汝何不自念:「我亦如是。」』彼
T 0126b29
人報言:『我時放逸,不自覺知。』王復語言:『汝自
T 0126c01
放逸,不能修身、口、意,改惡從善,今當令
T 0126c02
汝知放逸苦。』王又告言:『今汝受罪,非父母
T 0126c03
過,非兄弟過,亦非天帝,亦非先祖,亦非知
T 0126c04
識、僮僕、使人,亦非沙門、婆羅門過。汝自有惡,
T 0126c05
汝今自受。』
「時,閻羅王以第一天使問罪人
T 0126c06
已,復以第二天使問罪人言:『云何汝不見
T 0126c07
第二天使耶?』對曰:『不見。』王又問言:『汝本為
T 0126c08
人時,頗見人疾病困篤,臥著牀褥,屎尿臭處,
T 0126c09
身臥其上,不能起居,飲食須人,百節酸疼,
T 0126c10
流淚呻吟,不能言語。汝見是不?』答曰:『見。』王
T 0126c11
又報言:『汝何不自念:「如此病苦,我亦當爾?」』
T 0126c12
罪人報言:『我時放逸,不自覺知。』王又語言:
T 0126c13
『汝自放逸,不能修身、口、意,改惡從善,今當
T 0126c14
令汝知放逸苦。』王又告言:『今汝受罪,非父
T 0126c15
母過,非兄弟過,亦非天帝過,亦非先祖,亦
T 0126c16
非知識、僮僕、使人,亦非沙門、婆羅門過。汝自
T 0126c17
為惡,汝今自受。』
「時,閻羅王以第二天使問
T 0126c18
罪人已,復以第三天使問罪人言:『云何汝
T 0126c19
不見第三天使耶?』答言:『不見。』王又問言:
T 0126c20
『汝本為人時,頗見人死,身壞命終,諸根永滅,
T 0126c21
身體挺直,猶如枯木,捐棄塚間,鳥獸所食,
T 0126c22
或衣棺槨,或以火燒。汝見是不?』罪人報曰:
T 0126c23
『實見。』王又報言:『汝何不自念:「我亦當死,與
T 0126c24
彼無異。」』罪人報言:『我時放逸,不自覺知。』王
T 0126c25
復語言:『汝自放逸,不能修身、口、意,改惡從
T 0126c26
善,今當令汝知放逸苦。』王又告言:『汝今受
T 0126c27
罪,非父母過,非兄弟過,亦非天帝,亦非
T 0126c28
先祖,亦非知識、僮僕、使人,亦非沙門、婆羅門
T 0126c29
過。汝自為惡,汝今自受。』時,閻羅王以三天
T 0127a01
使具詰問已,即付獄卒。時,彼獄卒即將罪
T 0127a02
人詣大地獄,其大地獄縱廣百由旬,下深百
T 0127a03
由旬。」
爾時,世尊即說偈言:
T 0127a04
「四方有四門, 巷陌皆相當,
T 0127a05
以鐵為獄牆, 上覆鐵羅網。
T 0127a06
以鐵為下地, 自然火焰出,
T 0127a07
縱廣百由旬, 安住不傾動。
T 0127a08
黑焰熢
[火*孛]
起, 赫烈難可覩,
T 0127a09
小獄有十六, 火熾由行惡。」
T 0127a10
佛告比丘:「時,閻羅王自生念言:『世間眾生迷
T 0127a11
惑無識,身為惡行,口、意為惡,其後命終,少
T 0127a12
有不受此苦。世間眾生若能改惡,修身、口、
T 0127a13
意為善行者,命終受樂,如彼天神。我若命
T 0127a14
終生人中者,若遇如來,當於正法中剃
T 0127a15
除鬚髮,服三法衣,出家修道,以清淨信
T 0127a16
修淨梵行,所作已辦,斷除生死,於現法
T 0127a17
中自身作證,不受後有。』」
爾時,世尊以偈
T 0127a18
頌曰:
T 0127a19
「雖見天使者, 而猶為放逸,
T 0127a20
其人常懷憂, 生於卑賤處。
T 0127a21
若有智慧人, 見於天使者,
T 0127a22
親近賢聖法, 而不為放逸。
T 0127a23
見受生恐畏, 由生老病死,
T 0127a24
無受則解脫, 生老病死盡。
T 0127a25
彼得安隱處, 現在得無為,
T 0127a26
已渡諸憂畏, 決定般涅槃。」
T 0127a27
佛說長阿含第四分世記經龍鳥品第五
T 0127a28
佛告比丘:「有四種龍。何等為四?一者卵生,
T 0127a29
二者胎生,三者濕生,四者化生,是為四種。
T 0127b01
有四種金翅鳥。何等為四?一者卵生,二者
T 0127b02
胎生,三者濕生,四者化生,是為四種。大海
T 0127b03
水底有娑竭龍王宮,縱廣八萬由旬,宮牆七
T 0127b04
重,七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝嚴飾,
T 0127b05
皆七寶成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復如
T 0127b06
是。須彌山王與佉陀羅山二山中間,有難
T 0127b07
陀、婆難陀二龍王宮,各各縱廣六千由旬,
T 0127b08
宮牆七重,七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周
T 0127b09
匝校飾,以七寶成,乃至無數眾鳥相和而
T 0127b10
鳴,亦復如是。
「大海北岸有一大樹,名究羅
T 0127b11
睒摩羅,龍王、金翅鳥共有此樹。其樹下圍
T 0127b12
七由旬,高百由旬,枝葉四布五十由旬。此大
T 0127b13
樹東有卵生龍王宮、卵生金翅鳥宮,其宮各
T 0127b14
各縱廣六千由旬,宮牆七重,七重欄楯、七重
T 0127b15
羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃至
T 0127b16
無數眾鳥相和悲鳴,亦復如是。其究羅睒摩
T 0127b17
羅樹南有胎生龍王宮、胎生金翅鳥宮,其宮
T 0127b18
各各縱廣六千由旬,宮牆七重,七重欄楯、七
T 0127b19
重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃
T 0127b20
至無數眾鳥相和悲鳴,亦復如是。究羅睒摩
T 0127b21
羅樹西有濕生龍宮、濕生金翅鳥宮,其宮
T 0127b22
各各縱廣六千由旬,宮牆七重,七重欄楯、七
T 0127b23
重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃
T 0127b24
至無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。究羅睒摩
T 0127b25
羅樹北有化生龍王宮、化生金翅鳥宮,其宮
T 0127b26
各各縱廣六千由旬,宮牆七重,七重欄楯、七
T 0127b27
重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃
T 0127b28
至無數眾鳥相和悲鳴,亦復如是。
「若卵生金
T 0127b29
翅鳥欲搏食龍時,從究羅睒摩羅樹東枝
T 0127c01
飛下,以翅搏大海水,海水兩
披
二百由旬,
T 0127c02
取卵生龍食之,隨意自在,而不能取胎生、
T 0127c03
濕生、化生諸龍。
「若胎生金翅鳥欲搏食卵生
T 0127c04
龍時,從樹東枝飛下,以翅搏大海水,海水
T 0127c05
兩披二百由旬,取卵生龍食之,自在隨意。
T 0127c06
若胎生金翅鳥欲食胎生龍時,從樹南枝
T 0127c07
飛下,以翅搏大海水,海水兩披四百由旬,
T 0127c08
取胎生龍食之,隨意自在,而不能取濕生、
T 0127c09
化生諸龍食也。
「濕生金翅鳥欲食卵生龍
T 0127c10
時,從樹東枝飛下,以翅搏大海水,海水兩
T 0127c11
披二百由旬,取卵生龍食之,自在隨意。濕
T 0127c12
生金翅鳥欲食胎生龍時,於樹南枝飛下,
T 0127c13
以翅搏大海水,海水兩披四百由旬,取胎
T 0127c14
生龍食之,自在隨意。濕生金翅鳥欲食濕
T 0127c15
生龍時,於樹西枝飛下,以翅搏大海水,海
T 0127c16
水兩披八百由旬,取濕生龍食之,自在隨
T 0127c17
意,而不能取化生龍食。
「化生金翅鳥欲食
T 0127c18
卵生龍時,從樹東枝飛下,以翅搏大海水,
T 0127c19
海水兩披二百由旬,取卵生龍食之,自在隨
T 0127c20
意。化生金翅鳥欲食胎生龍時,從樹南枝
T 0127c21
飛下,以翅搏大海水,海水兩披四百由旬,
T 0127c22
取胎生龍食之,隨意自在。化生金翅鳥欲
T 0127c23
食濕生龍時,從樹西枝飛下,以翅搏大海
T 0127c24
水,海水兩披八百由旬,取濕生龍食之。化
T 0127c25
生金翅鳥欲食化生龍時,從樹北枝飛下,
T 0127c26
以翅搏大海水,海水兩披千六百由旬,取
T 0127c27
化生龍食之,隨意自在。是為金翅鳥所食
T 0127c28
諸龍。
「復有大龍,金翅鳥所不能得。何者
T 0127c29
是?娑竭龍王、難陀龍王、跋難陀龍王、伊那婆羅
T 0128a01
龍王、提頭賴吒龍王、善見龍王、阿盧龍王、伽
T 0128a02
拘羅龍王、伽毗羅龍王、阿波羅龍王、伽
[少/兔]
龍
T 0128a03
王、瞿伽
[少/兔]
龍王、阿耨達龍王、善住龍王、優睒
T 0128a04
伽波頭龍王、得叉伽龍王,此諸大龍王皆
T 0128a05
不為金翅鳥之所搏食,其有諸龍在近
T 0128a06
彼住者,亦不為金翅鳥之所搏食。」
T 0128a07
佛告比丘:「若有眾生奉持龍戒,心意向龍,
T 0128a08
具龍法者,即生龍中。若有眾生奉持金翅
T 0128a09
鳥戒,心向金翅鳥,具其法者,便生金翅鳥
T 0128a10
中。或有眾生持兔梟戒者,心向兔梟,具
T 0128a11
其法者,墮兔梟中。若有眾生奉持狗戒,或
T 0128a12
持牛戒,或持鹿戒,或持瘂戒,或持摩尼婆
T 0128a13
陀戒,或持火戒,或持月戒,或持日戒,或持
T 0128a14
水戒,或持供養火戒,或持苦行穢汙法,彼
T 0128a15
作是念:『我持此瘂法、摩尼婆陀法、火法、日月
T 0128a16
法、水法、供養火法、諸苦行法,我持此功德,欲
T 0128a17
以生天。』此是邪見。」
佛言:「我說此邪見人必趣
T 0128a18
二處,若生地獄,有墮四生。或有沙門、婆
T 0128a19
羅門有如是論、如是見:『我、世間有常,此實
T 0128a20
餘虛;我及世間無常,此實餘虛;我及世間有
T 0128a21
常無常,此實餘虛;我及世間非有常非無常,
T 0128a22
此實餘虛。我、世有邊,此實餘虛;我、世無邊,
T 0128a23
此實餘虛;我、世有邊無邊,此實餘虛;我、世
T 0128a24
非有邊非無邊,此實餘虛。是命是身,此實餘
T 0128a25
虛;是命異身異,此實餘虛;非有命非無命,此
T 0128a26
實餘虛;無命無身,此實餘虛。』或有人言:『有
T 0128a27
如是他死,此實餘虛。』有言:『無如是他死,此
T 0128a28
實餘虛。』或言:『有如是無如是他死,此實餘
T 0128a29
虛。』又言:『非有非無如是他死,此實餘虛。』
「彼
T 0128b01
沙門、婆羅門若作如是論、如是見者,言世
T 0128b02
是常,此實餘虛者,彼於行有我見、命見、身
T 0128b03
見、世間見,是故彼作是言:『我、世間有常。』彼
T 0128b04
言無常者,於行有我見、命見、身見、世間見,
T 0128b05
是故彼言:『我、世間無常。』彼言有常無常者,
T 0128b06
彼行於有我見、命見、身見、世間見,故言:『世
T 0128b07
間有常無常。』彼言非有常非無常者,於行
T 0128b08
有我見、命見、身見、世間見,故言:『我、世間非有
T 0128b09
常非無常。』
「彼言我、世間有邊者,於行有我
T 0128b10
見、命見、身見、世間見,言:『命有邊,身有邊,世間
T 0128b11
有邊,從初受胎至於塚間,所有四大身如
T 0128b12
是展轉,極至七生,身、命行盡,我入清淨聚。』
T 0128b13
是故彼言:『我有邊。』彼言我、世間無邊者,於
T 0128b14
行有我見、命見、身見、世間見,言:『命無邊,身無
T 0128b15
邊。世間無邊,從初受胎至於塚間,所有四
T 0128b16
大身如是展轉,極至七生,身、命行盡,我入清
T 0128b17
淨聚。』是言:『我、世間無邊。』彼作是言:『此世間
T 0128b18
有邊無邊。』彼於行有我見、命見、身見、世間
T 0128b19
見:『命有邊無邊,從初受胎至於塚間,所有
T 0128b20
四大身如是展轉,極至七生,身、命行盡,我入
T 0128b21
清淨聚。』是故言:『我有邊無邊。』彼作是言:『我、
T 0128b22
世間非有邊非無邊。』於行有我見、命見、身見、
T 0128b23
世間見:『命身非有邊非無邊,從初受胎至
T 0128b24
於塚間,所有四大身如是展轉,極至七生,身、
T 0128b25
命行盡,我入清淨聚。』是故言:『我非有邊非無
T 0128b26
邊。』
「彼言是命是身者,於此身有命見,於
T 0128b27
餘身有命見,是故言:『是命是身。』言命異身
T 0128b28
異者,於此身有命見,於餘身無命見,是
T 0128b29
故言:『命異身異。』彼言身命非有非無者,於
T 0128c01
此身無命見,於餘身有命見,是故言:『非有
T 0128c02
非無。』彼言無身命者,此身無命見,餘身無
T 0128c03
命見,是故言:『無命無身。』彼言有如是他死
T 0128c04
者,其人見今有命,後更有身、命遊行,是故
T 0128c05
言:『有如是他死。』無如是他死者,彼言今
T 0128c06
世有命,後世無命,是故言:『無如是他死。』有
T 0128c07
如是他死無如是他死者,彼言今世命斷
T 0128c08
滅,後世命遊行,是故言:『有如是他命無如
T 0128c09
是他命。』非有非無如是他死者,彼言今身、
T 0128c10
命斷滅,後身、命斷滅,是故言:『非有非無如是
T 0128c11
他死。』」
爾時,世尊告諸比丘言:「乃往過去有
T 0128c12
王名鏡面,時,集生盲人聚在一處,而告之
T 0128c13
曰:『汝等生盲,寧識象不?』對曰:『大王!我不識、
T 0128c14
不知。』王復告言:『汝等欲知彼形類不?』對曰:
T 0128c15
『欲知。』時,王即勅侍者,使將象來,令眾盲子
T 0128c16
手自捫象。中有摸象得鼻者,王言此是象,
T 0128c17
或有摸象得其牙者,或有摸象得其耳
T 0128c18
者,或有摸象得其頭者,或有摸象得其
T 0128c19
背者,或有摸象得其腹者,或有摸象得
T 0128c20
其
髀
者,或有摸象得其膊者,或有摸
T 0128c21
象得其跡者,或有摸象得其尾者,王皆語
T 0128c22
言:『此是象也。』
「時,鏡面王即却彼象,問盲子
T 0128c23
言:『象何等類?』其諸盲子,得象鼻者,言象如
T 0128c24
曲轅,得象牙者,言象如杵,得象耳者,言
T 0128c25
象如箕,得象頭者,言象如鼎,得象背者,
T 0128c26
言象如丘阜,得象腹者,言象如壁,得象
T 0128c27
髀
者,言象如樹,得象膊者,言象如柱,得
T 0128c28
象跡者,言象如臼,得象尾者,言象如絙。
T 0128c29
各各共諍,互相是非,此言如是,彼言不爾,
T 0129a01
云云不已,遂至鬪諍。時,王見此,歡喜大笑。
T 0129a02
「爾時,鏡面王即說頌曰:
T 0129a03
「『諸盲人群集, 於此競諍訟,
T 0129a04
象身本一體, 異相生是非。』」
T 0129a05
佛告比丘:「諸外道異學亦復如是,不知苦
T 0129a06
諦,不知習諦、盡諦、道諦,各生異見,互相是
T 0129a07
非,謂己為是,便起諍訟。若有沙門、婆羅門
T 0129a08
能如實知苦聖諦、苦習聖諦、苦滅聖諦、苦出
T 0129a09
要諦,彼自思惟,相共和合,同一受,同一師,同
T 0129a10
一水乳,熾然佛法,安樂久住。」
爾時,世尊而
T 0129a11
說偈言:
T 0129a12
「若人不知苦, 不知苦所起,
T 0129a13
亦復不知苦, 所可滅盡處,
T 0129a14
亦復不能知, 滅於苦集道,
T 0129a15
失於心解脫, 慧解脫亦失,
T 0129a16
不能究苦本, 生老病死源。
T 0129a17
若
能諦知苦, 知苦所起因,
T 0129a18
亦能知彼苦, 所可滅盡處,
T 0129a19
又能善分別, 滅苦集聖道,
T 0129a20
則得心解脫, 慧解脫亦然。
T 0129a21
斯人能究竟, 苦陰之根本,
T 0129a22
盡生老病死, 受有之根原。
T 0129a23
「諸比丘!是故汝等當勤方便思惟苦聖諦、苦
T 0129a24
集聖諦、苦滅聖諦、苦出要諦。」
T 0129a25
佛說長阿含經卷第十九
第四分世記經阿須倫品第六
T 0129b02
佛說長阿含經卷第二十
T 0129a28
T 0129a29
後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯
T 0129b01
佛告比丘:「須彌山北大海水底有羅呵阿須
T 0129b03
倫城,縱廣八萬由旬,其城七重,七重欄楯、七
T 0129b04
重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,城
T 0129b05
高三千由旬,廣二千由旬。其城門高一千由
T 0129b06
旬,廣千由旬,金城銀門,銀城金門,乃至無數
T 0129b07
眾鳥相和而鳴,亦復如是。其阿須倫王所治
T 0129b08
小城,當大城中,名輪輸摩跋吒,縱廣六萬
T 0129b09
由旬,其城七重,七重欄楯、七重羅網、七重行
T 0129b10
樹,周匝校飾,七寶所成,城高三千由旬,廣
T 0129b11
二千由旬。其城門高二千由旬,廣千由旬,金
T 0129b12
城銀門,銀城金門,乃至無數眾鳥相和而鳴,
T 0129b13
亦復如是。
「於其城內別立議堂,名曰七
T 0129b14
尸利沙,堂牆七重,七重欄楯、七重羅網、七重
T 0129b15
行樹,周匝校飾,七寶所成,議堂下基純以
T 0129b16
車
璩
,其柱樑純以七寶,其堂中柱圍千由
T 0129b17
旬,高萬由旬,當此柱下有正法座,縱廣七
T 0129b18
百由旬,彫文刻鏤,七寶所成。堂有四戶,周
T 0129b19
匝欄楯,階亭七重,七重欄楯、七重羅網、七重
T 0129b20
行樹,周匝校飾,七寶所成,乃至眾鳥相和而
T 0129b21
鳴,亦復如是。其議堂北有阿須倫宮殿,縱
T 0129b22
廣萬由旬,宮牆七重,七重欄楯、七重羅網、七
T 0129b23
重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃至無數眾
T 0129b24
鳥相和悲鳴,亦復如是。其議堂東有一園
T 0129b25
林,名曰娑羅,縱廣萬由旬,園牆七重,七重欄
T 0129b26
楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶
T 0129b27
成,乃至無數眾鳥相和悲鳴,亦復如是。其議
T 0129b28
堂南有一園林,名曰極妙,縱廣萬由旬,如
T 0129b29
娑羅園。其議堂西有一園林,名曰睒摩,縱
T 0129c01
廣萬由旬,亦如娑羅園林。其議堂北有一園
T 0129c02
林,名曰樂林,縱廣萬由旬,亦如娑羅園林。
T 0129c03
「娑羅、極妙二園中間生晝度樹,下圍七由旬,
T 0129c04
高百由旬,枝葉四布五十由旬。樹牆七重,七
T 0129c05
重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七
T 0129c06
寶成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。
T 0129c07
又其睒摩、樂林二園中間有跋難陀池,其水
T 0129c08
清涼,無有垢穢。寶塹七重,周匝砌廁,七重欄
T 0129c09
楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,七寶所成。
T 0129c10
於其池中生四種華,華葉縱廣一由旬,香
T 0129c11
氣流布亦一由旬,根如車轂,其汁流出,色白
T 0129c12
如乳,味甘如蜜,無數眾鳥相和而鳴。又其池
T 0129c13
邊有七重階亭,門牆七重,七重欄楯、七重羅
T 0129c14
網、七重行樹,周匝校飾,七寶所成,乃至無數
T 0129c15
眾鳥相和悲鳴,亦復如是。
「其阿須倫王臣下
T 0129c16
宮殿,有縱廣萬由旬者,有九千、八千,極小
T 0129c17
宮殿至千由旬,宮牆七重,七重欄楯、七重羅
T 0129c18
網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃至無
T 0129c19
數眾鳥相和而鳴,亦復如是。其小阿須倫宮
T 0129c20
殿有縱廣千由旬、九百、八百,極小宮殿至百
T 0129c21
由旬,皆宮牆七重,七重欄楯、七重羅網、七重行
T 0129c22
樹,周匝校飾,七寶所成,乃至無數眾鳥相和
T 0129c23
悲鳴,亦復如是。
「其議堂北有七寶階道入
T 0129c24
於宮中,復有階道趣娑羅園,復有階道趣
T 0129c25
極妙園,復有階道趣睒摩園,復有階道趣
T 0129c26
樂林園,復有階道趣晝度樹,復有階道趣
T 0129c27
跋難陀池,復有階道趣大臣宮殿,復有
T 0129c28
階道趣小阿須倫宮殿。若阿須倫王欲詣
T 0129c29
娑羅園遊觀時,即念毗摩質多阿須倫王,
T 0130a01
毗摩質多阿須倫王復自念言:『羅呵阿須倫
T 0130a02
王念我。』即自莊嚴駕乘寶車,無數大眾侍從
T 0130a03
圍遶,詣羅呵阿須倫王前,於一面立。時,阿
T 0130a04
須倫王復念波羅呵阿須倫王,波羅呵阿
T 0130a05
須倫王復自念言:『王今念我。』即自莊嚴駕
T 0130a06
乘寶車,無數大眾侍從圍遶,詣 羅呵王前,
T 0130a07
於一面立。
「時,阿須倫王復念睒摩羅阿須倫
T 0130a08
王,睒摩羅阿須倫王復自念言:『今王念我。』
T 0130a09
即自莊嚴駕乘寶車,無數大眾侍從圍遶,詣
T 0130a10
羅呵王前,於一面立。時,王復念大臣阿須
T 0130a11
倫,大臣阿須倫復自念言:『今王念我。』即自莊
T 0130a12
嚴駕乘寶車,無數大眾侍從圍遶,詣羅呵王
T 0130a13
前,於一面立。時,王復念小阿須倫,小阿須
T 0130a14
倫復自念言:『今王念我。』即自莊嚴,與諸大
T 0130a15
眾詣羅呵王前,於一面立。
「時,羅呵王身著
T 0130a16
寶衣,駕乘寶車,與無數大眾前後圍遶,詣
T 0130a17
娑羅林中,有自然風,吹門自開;有自然風,
T 0130a18
吹地令淨;有自然風,吹花散地,花至於
T 0130a19
膝。時,羅呵王入此園已,共相娛樂,一日、二日,
T 0130a20
乃至七日,娛樂訖已,便還本宮。其後遊觀極
T 0130a21
妙園林、睒摩園林、樂園林,亦復如是。時,羅
呵
T 0130a22
王常有五大阿須倫侍衛左右:一名提持,
T 0130a23
二名雄力,三名武夷,四名頭首,五名摧伏。
T 0130a24
此五大阿須倫常侍衛左右。其羅呵王宮殿
T 0130a25
在大海水下,海水在上,四風所持:一名住
T 0130a26
風,二名持風,三名不動,四者堅固。持大
T 0130a27
海水,懸處虛空,猶如浮雲,去阿須倫宮一
T 0130a28
萬由旬終不墮落。阿須倫王福報、功德、威神
T 0130a29
如是。」
T 0130b01
佛說長阿含第四分世記經四天王品第七
T 0130b02
佛告比丘:「須彌山王東千由旬提頭賴吒天
T 0130b03
王城,名賢上,縱廣六千由旬,其城七重,七重
T 0130b04
欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七
T 0130b05
寶成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。
T 0130b06
須彌山南千由旬有毗樓勒天王城,名善
T 0130b07
見,縱廣六千由旬,其城七重,七重欄楯、七重
T 0130b08
羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃至
T 0130b09
無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。須彌山西千
T 0130b10
由旬有毗樓婆叉天王城,名周羅善見,縱
T 0130b11
廣六千由旬,其城七重,七重欄楯、七重羅網、
T 0130b12
七重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃至無數
T 0130b13
眾鳥相和而鳴,亦復如是。須彌山北千由旬
T 0130b14
有毗沙門天王,王有三城:一名可畏,二名
T 0130b15
天敬,三名眾歸。各各縱廣六千由旬,其城七
T 0130b16
重,七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,
T 0130b17
以七寶成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復
T 0130b18
如是。
「眾歸城北有園林,名伽毗延頭,縱廣
T 0130b19
四千由旬,園牆七重,七重欄楯、七重羅網、七
T 0130b20
重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃至無數眾
T 0130b21
鳥相和而鳴,亦復如是。園城中間有池名
T 0130b22
那隣尼,縱廣四十由旬,其水清澄,無有垢
T 0130b23
穢,以七寶塹廁砌其邊,七重欄楯、七重羅
T 0130b24
網、七重行樹,周匝校飾,七寶所成,中生蓮
T 0130b25
花,青、黃、赤、白、雜色,光照半由旬,其香芬薰聞
T 0130b26
半由旬,又其花根大如車轂,其汁流出,色白
T 0130b27
如乳,味甘如蜜,乃至無數眾鳥相和悲鳴,亦
T 0130b28
復如是。
「除日月宮殿,諸四天王宮殿縱廣四
T 0130b29
十由旬,宮牆七重,七重欄楯、七重羅網、七重
T 0130c01
行樹,周匝校飾,以七寶成,乃至無數眾鳥
T 0130c02
相和而鳴,亦復如是。其諸宮殿有四十由旬、
T 0130c03
二十由旬,極小縱廣五由旬。從眾歸城有寶
T 0130c04
階道至賢上城,復有階道至善見城,復有
T 0130c05
階道至周羅善見城,復有階道至可畏城、
T 0130c06
天敬城,復有階道至伽毗延頭園,復有階
T 0130c07
道至那隣尼池,復有階道至四天王大臣
T 0130c08
宮殿。
「若毘沙門天王欲詣伽毘延頭園遊
T 0130c09
觀時,即念提頭賴天王,提頭賴天王復自
T 0130c10
念言:『今毘沙門王念我。』即自莊嚴駕乘寶
T 0130c11
車,與無數乾沓和神前後圍遶,詣毘沙門
T 0130c12
天王前,於一面立。時,毘沙門王復念毘樓勒
T 0130c13
天王,毘樓勒天王復自念言:『今毘沙門王念
T 0130c14
我。』即自莊嚴駕乘寶車,與無數究槃荼神
T 0130c15
前後圍遶,詣毘沙門天王前,於一面立。毘
T 0130c16
沙門王復念毘樓婆叉,毘樓婆叉復自念言:
T 0130c17
『今毘沙門王念我。』即自莊嚴駕乘寶車,無
T 0130c18
數龍神前後圍遶,詣毘沙門王前,於一面
T 0130c19
立。毘沙門王復念四天王大臣,四天王大臣
T 0130c20
復自念言:『今毘沙門王念我。』即自莊嚴駕乘
T 0130c21
寶車,無數諸天前後導從,詣毘沙門天王前,
T 0130c22
於一面立。
「時,毘沙門天王即自莊嚴,著寶飾
T 0130c23
衣,駕乘寶車,與無數百千天神詣伽毘延
T 0130c24
頭園。有自然風,吹門自開;有自然風,吹地
T 0130c25
令淨;有自然風,吹花散地,花至於膝。時,王
T 0130c26
在園共相娛樂,一日、二日,乃至七日,遊觀訖
T 0130c27
已,還歸本宮。毘沙門王常有五大鬼神侍
T 0130c28
衛左右:一名般闍樓,二名檀陀羅,三名醯摩
T 0130c29
跋陀,四名提偈羅,五名修逸路摩。此五鬼
T 0131a01
神常隨侍衛。毘沙門王福報、功德、威神如
T 0131a02
是。」
T 0131a03
佛說長阿含第四分世記經忉利天品第八
T 0131a04
佛告比丘:「須彌山王頂上有三十三天城,縱
T 0131a05
廣八萬由旬,其城七重,七重欄楯、七重羅網、
T 0131a06
七重行樹,周匝校飾,以七寶成,城高百由旬,
T 0131a07
上廣六十由旬。城門高六十由旬,廣三十由
T 0131a08
旬,相去五百由旬有一門,其一一門有五百
T 0131a09
鬼神守侍衛護三十三天,金城銀門,銀城
T 0131a10
金門,乃至無數眾鳥相和悲鳴,亦復如是。其
T 0131a11
大城內復有小城,縱廣六萬由旬,其城七重,
T 0131a12
七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,以
T 0131a13
七寶成,城高百由旬,廣六十由旬,城門相
T 0131a14
去五百由旬,高六十由旬,廣三十由旬,一一
T 0131a15
城門有五百鬼神侍衛門側,守護三十三
T 0131a16
天。金城銀門,銀城金門,水精城琉璃門,琉璃
T 0131a17
城水精門,赤珠城馬瑙門,馬瑙城赤珠門,車
T 0131a18
璩
城眾寶門。
「其欄楯者,金欄銀桄,銀欄金
T 0131a19
桄,水精欄琉璃桄,琉璃欄水精桄,赤珠欄馬
T 0131a20
瑙桄,馬瑙欄赤珠桄,車
璩
欄眾寶桄。其欄楯
T 0131a21
上有寶羅網,其金羅網下懸銀鈴,其銀羅網
T 0131a22
下懸金鈴,琉璃羅網懸水精鈴,水精羅網懸
T 0131a23
琉璃鈴,赤珠羅網懸馬瑙鈴,馬瑙羅網懸
T 0131a24
赤珠鈴,車
璩
羅網懸眾寶鈴。其金樹者金根
T 0131a25
金枝銀葉花實,其銀樹者銀根銀枝金葉花
T 0131a26
實,其水精樹水精根枝琉璃花葉,其琉璃樹
T 0131a27
琉璃根枝水精花葉,其赤珠樹赤珠根枝馬
T 0131a28
瑙花葉,馬瑙樹者馬瑙根枝赤珠花葉,車
璩
T 0131a29
樹者車
璩
根枝眾寶花葉。
「其七重城,城有四
T 0131b01
門,門有欄楯,七重城上皆有樓閣臺觀周
T 0131b02
匝圍遶,有園林浴池,生眾寶花,雜色參間,
T 0131b03
寶樹行列,華果繁茂,香風四起,悅可人心,
T 0131b04
鳧雁、鴛鴦、異類奇鳥,無數千種,相和而鳴。其
T 0131b05
小城外中間有伊羅鉢龍宮,縱廣六千由旬,
T 0131b06
宮牆七重,七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周
T 0131b07
匝校飾,以七寶成,乃至無數眾鳥相和悲
T 0131b08
鳴,亦復如是。
「其善見城內有善法堂,縱廣
T 0131b09
百由旬,七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝
T 0131b10
校飾,以七寶成。其堂下基純以真金,上覆
T 0131b11
琉璃,其堂中柱圍十由旬,高百由旬,當其
T 0131b12
柱下敷天帝御座,縱廣一由旬,雜色間廁,
T 0131b13
以七寶成,其座柔軟,軟若天衣,夾座兩邊
T 0131b14
左右十六座。
「堂有四門,周匝欄楯,以七寶
T 0131b15
成,其堂階道縱廣五百由旬,門郭七重,七重
T 0131b16
欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七
T 0131b17
寶成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。
T 0131b18
善見堂北有帝釋宮殿,縱廣千由旬,宮牆七
T 0131b19
重,七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,
T 0131b20
以七寶成,乃至無數眾鳥相和悲鳴,亦復
T 0131b21
如是。善見堂東有園林,名曰麤澁,縱廣千
T 0131b22
由旬,園牆七重,七重欄楯、七重羅網、七重行
T 0131b23
樹,周匝校飾以七寶成,乃至無數眾鳥相
T 0131b24
和而鳴,亦復如是。麤澁園中有二石垛,天
T 0131b25
金校飾,一名賢,二名善賢,縱廣各五十由
T 0131b26
旬,其石柔軟,軟若天衣。
「善見宮南有園林,
T 0131b27
名曰畫樂,縱廣千由旬,園牆七重,七重欄楯、
T 0131b28
七重羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,
T 0131b29
乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。其園內
T 0131c01
有二石垛,七寶所成,一名晝,二名善晝,
T 0131c02
各縱廣五十由旬,其垛柔軟,軟若天衣。善見
T 0131c03
堂西有園林,名雜,縱廣千由旬,園牆七重,
T 0131c04
七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,七
T 0131c05
寶所成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。
T 0131c06
其園中有二石垛,一名善見,二名順善見,
T 0131c07
天金校飾,七寶所成,各縱廣五十由旬,其垛
T 0131c08
柔軟,軟若天衣。善見堂北有園林,名曰大
T 0131c09
喜,縱廣千由旬,園牆七重,七重欄楯、七重羅
T 0131c10
網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成,乃至無
T 0131c11
數眾鳥相和而鳴,亦復如是。其園中有二石
T 0131c12
垛,一名喜,二名大喜,車
璩
校飾,縱廣五十
T 0131c13
由旬,其垛柔軟,軟若天衣。
「其麤澁園、畵樂園
T 0131c14
中間有難陀池,縱廣百由旬,其水清澄,無
T 0131c15
有垢穢,七重寶塹周匝砌廁,欄楯七重、七重
T 0131c16
羅網、七重行樹,周匝校飾,以七寶成。其池
T 0131c17
四面有四梯陛,周匝欄楯間以七寶,乃至
T 0131c18
無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。又其池中生
T 0131c19
四種花,青、黃、赤、白、紅縹雜色間廁,其一花葉
T 0131c20
蔭一由旬,香氣芬熏聞一由旬,根如車
T 0131c21
轂,其汁流出,色白如乳,味甘如蜜。其池四
T 0131c22
面復有園林。其雜園林、大喜園林二園中間
T 0131c23
有樹名晝度,圍七由旬,高百由旬,枝葉四布
T 0131c24
五十由旬。樹外空亭縱廣五百由旬,宮牆七
T 0131c25
重,七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,
T 0131c26
以七寶成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復
T 0131c27
如是。
「其餘忉利天宮殿縱廣千由旬,宮牆七
T 0131c28
重,七重欄楯、七重羅網、七重行樹,周匝校飾,
T 0131c29
以七寶成,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦復
T 0132a01
如是。其諸宮殿有縱廣九百、八百,極小百
T 0132a02
由旬,宮牆七重,七重欄楯、七重羅網、七重行
T 0132a03
樹,周匝校飾,乃至無數眾鳥相和而鳴,亦
T 0132a04
復如是。諸小天宮縱廣百由旬,有九十、八
T 0132a05
十,極小至十二由旬,宮牆七重,七重欄楯、七
T 0132a06
重羅網、七重行樹,周匝圍遶,以七寶成,乃至
T 0132a07
無數眾鳥相和而鳴,亦復如是。
「善見堂北有
T 0132a08
二階道至帝釋宮殿,善見堂東有二階道
T 0132a09
至麤澁園,復有階道至畵樂園觀,復有階
T 0132a10
道至雜園中,復有階道至大喜園,復有階
T 0132a11
道至大喜池,復有階道至晝度樹,復有階
T 0132a12
道至三十三天宮,復有階道至諸天宮,復
T 0132a13
有階道至伊羅鉢龍王宮。若天帝釋欲麤
T 0132a14
澁園中遊觀時,即念三十三天臣,三十三天
T 0132a15
臣即自念言:『今帝釋念我。』即自莊嚴駕乘
T 0132a16
寶車,與無數眾前後圍遶至帝釋前,於一
T 0132a17
面立。帝釋復念其餘諸天,諸天念言:『今帝
T 0132a18
釋念我。』即自莊嚴,與諸天眾相隨至帝釋
T 0132a19
前,於一面立。帝釋復念伊羅鉢龍王,伊羅
T 0132a20
鉢龍王復自念言:『今帝釋念我。』龍王即自
T 0132a21
變身出三十三頭,一一頭有六牙,一一牙有
T 0132a22
七浴池,一、一浴池有七大蓮華,一一蓮花
T 0132a23
有一百葉,一一花葉有七玉女,鼓樂絃歌,
T 0132a24
抃舞其上。時,彼龍王作此化已,詣帝釋前,
T 0132a25
於一面立。
「時,釋提桓因著眾寶飾,瓔珞其
T 0132a26
身,坐伊羅鉢龍王第一頂上,其次兩邊各有
T 0132a27
十六天王,在龍頂上次第而坐。時,天帝釋
T 0132a28
與無數諸天眷屬圍遶詣麤澁園。有自然
T 0132a29
風,吹門自開;有自然風,吹地令淨;有自
T 0132b01
然風,吹花散地,眾花積聚,花至于膝。時,天
T 0132b02
帝釋於賢、善賢二石垛上隨意而坐,三十三
T 0132b03
王各次第坐,復有諸天不得侍從見彼園
T 0132b04
觀,不得入園五欲娛樂。所以者何?斯由本
T 0132b05
行功德不同。復有諸天得見園林而不得
T 0132b06
入,不得五欲共相娛樂。所以者何?斯由本
T 0132b07
行功德不同。復有諸天得見、得入,不得五
T 0132b08
欲共相娛樂。所以者何?斯由本行功德不同。
T 0132b09
復有諸天得入、得見,五欲娛樂。所以者何?
T 0132b10
斯由本行功德同故。
「遊戲園中,五欲自娛,
T 0132b11
一日、二日,至於七日,相娛樂已,各自還宮。彼
T 0132b12
天帝釋遊觀畵樂園、雜園、大喜園時,亦復如
T 0132b13
是。何故名之為麤澁園?入此園時,身體麤
T 0132b14
澁。何故名為畵樂園?入此園時,身體自然
T 0132b15
有種種畵色以為娛樂。何故名為雜園?常
T 0132b16
以月八日、十四日、十五日,除阿須倫女,放諸婇
T 0132b17
女與諸天子雜錯遊戲,是故名為雜園。何
T 0132b18
故名為大喜園?入此園時,娛樂歡樂,故名
T 0132b19
大喜。何故名為善法堂?於此堂上思惟妙
T 0132b20
法,受清淨樂,故名善法堂。何故名為晝度
T 0132b21
樹?此樹有神,名曰漫陀,常作伎樂以自娛
T 0132b22
樂,故名晝度。又彼大樹枝條四布,花葉繁茂
T 0132b23
如大寶雲,故名晝度。
「釋提桓因左右常有
T 0132b24
十大天子隨從侍衛。何等為十?一者名因
T 0132b25
陀羅,二名瞿夷,三名毘樓,四名毘樓婆提,
T 0132b26
五名陀羅,六名婆羅,七名耆婆,八名靈醯
T 0132b27
嵬,九名物羅,十名難頭。釋提桓因有大神
T 0132b28
力,威德如是。閻浮提人所貴水花:優鉢羅
T 0132b29
花、鉢頭摩花、拘物頭花、分陀利花、須乾頭花,
T 0132c01
柔軟香潔。其陸生花:解脫花、薝蔔花、婆羅陀
T 0132c02
花、須曼周那花、婆師花、童女花。拘耶尼、欝單
T 0132c03
曰、弗于逮、龍宮、金翅鳥宮水陸諸花,亦復
T 0132c04
如是。阿須倫宮水中生花:優鉢羅花、鉢頭
T 0132c05
摩花、拘物頭花、分陀利花,柔軟香潔。陸生花:
T 0132c06
殊好花、頻浮花、大頻浮花、伽伽利花、大伽伽
T 0132c07
利花、曼陀羅花、大曼陀羅花。四天王、三十三天、
T 0132c08
焰摩天、兜率天、化自在天、他化自在天所貴
T 0132c09
水陸諸花,亦復如是。
「天有十法,何等為十?一
T 0132c10
者飛去無限數。二者飛來無限數。三者去無
T 0132c11
碍。四者來無碍。五者天身無有皮膚、骨體、筋
T 0132c12
脉、血肉。六者身無不淨大小便利。七者身無
T 0132c13
疲極。八者天女不產。九者天目不眴。十者
T 0132c14
身隨意色,好青則青,好黃則黃,赤、白眾色,
T 0132c15
隨意而現。此是諸天十法。人有七色。云何
T 0132c16
為七?有人金色,有人火色,有人青色,有人
T 0132c17
黃色,有人赤色,有人黑色,有人魔色。諸天、
T 0132c18
阿須倫有七色,亦復如是。
「諸比丘!螢火之
T 0132c19
明不如燈燭,燈燭之明不如炬火,炬火之
T 0132c20
明不如積火,積火之明不如四天王宮殿、
T 0132c21
城墎、瓔珞、衣服、身色光明,四天王宮殿、城墎、
T 0132c22
瓔珞、衣服、身色光明不如三十三天光明,三
T 0132c23
十三天光明不如焰摩天光明,焰摩天光明
T 0132c24
不如兜率天光明,兜率天光明不如化自
T 0132c25
在天光明,化自在天光明不如他化自在天
T 0132c26
光明,他化自在天光明不如梵迦夷天宮殿、
T 0132c27
衣服身色光明,梵迦夷天宮殿、衣服、身色光
T 0132c28
明不如光念天光明,光念天光明不如
T 0132c29
遍淨天光明,遍淨天光明不如果實天光
T 0133a01
明,果實天光明不如無想天光明,無想天
T 0133a02
光明不如無造天,無造天光明不如無
T 0133a03
熱天,無熱天光明不如善見天,善見天
T 0133a04
光明不如大善天,大善天光明不如
T 0133a05
色究竟天,色究竟天光明不如地自在
T 0133a06
天,地自在天光明不如佛光明。從螢火
T 0133a07
光至佛光明,合集爾所光明,不如苦諦光
T 0133a08
明,集諦、滅諦、道諦光明。是故,諸比丘!欲求光
T 0133a09
明者,當求苦諦、集諦、滅諦、道諦光明,當
T 0133a10
作是修行。
「閻浮提人身長三肘半,衣長七
T 0133a11
肘,廣三肘半;瞿耶尼、弗于逮人身亦三肘半,
T 0133a12
衣長七肘,廣三肘半;欝單曰人身長七肘,衣
T 0133a13
長十四肘,廣七肘,衣重一兩;阿須倫身長一
T 0133a14
由旬,衣長二由旬,廣一由旬,衣重六銖;四天
T 0133a15
王身長半由旬,衣長一由旬,廣半由旬,衣重
T 0133a16
半兩;忉利天身長一由旬,衣長二由旬,廣一
T 0133a17
由旬,衣重六銖;焰摩天身長二由旬,衣長四
T 0133a18
由旬,廣二由旬,衣重三銖;兜率天身長四由
T 0133a19
旬,衣長八由旬,廣四由旬,衣重一銖半;化自
T 0133a20
在天身長八由旬,衣長十六由旬,廣八由旬,
T 0133a21
衣重一銖;他化自在天身長十六由旬,衣長
T 0133a22
三十二由旬,廣十六由旬,衣重半銖。自上諸
T 0133a23
天,各隨其身而著衣服。
「閻浮提人壽命百
T 0133a24
歲,少出多減。拘耶尼人壽命二百歲,少出
T 0133a25
多減。弗于逮人壽三百歲,少出多減。欝單
T 0133a26
曰人盡壽千歲,無有增減。餓鬼壽七萬歲,
T 0133a27
少出多減。龍、金翅鳥壽一劫,或有減者。阿
T 0133a28
須倫壽天千歲,少出多減。四天王壽天五百
T 0133a29
歲,少出多減。忉利天壽天千歲,少出多減。
T 0133b01
焰摩天壽天二千歲,少出多減。兜率天壽天
T 0133b02
四千歲,少出多減。化自在天壽天八千歲,少
T 0133b03
出多減。他化自在天壽天萬六千歲,少出多
T 0133b04
減。梵迦夷天壽命一劫,或有減者。光音天壽
T 0133b05
命二劫,或有減者。遍淨天壽命三劫,或有減
T 0133b06
者。果實天壽命四劫,或有減者。無想天壽命
T 0133b07
五百劫,或有減者。無造天壽命千劫,或有減
T 0133b08
者。無熱天壽命二千劫,或有減者。善見天壽
T 0133b09
命三千劫,或有減者。大善見天壽命四千劫,
T 0133b10
或有減者。色究竟天壽命五千劫,或有減者。
T 0133b11
空處天壽命萬劫,或有減者。識處天壽命二
T 0133b12
萬一千劫,或有減者。不用處天壽命四萬二
T 0133b13
千劫,或有減者。有想無想天壽命八萬四千
T 0133b14
劫,或有減者。齊此為眾生,齊此為壽命,
T 0133b15
齊此為世界,齊此名為生、老、病、死往來所
T 0133b16
趣,界、入聚也。」
T 0133b17
佛告比丘:「一切眾生以四食存。何謂為四?
T 0133b18
摶、細滑食為第一,觸食為第二,念食為第
T 0133b19
三,識食為第四。彼彼眾生所食不同。閻浮
T 0133b20
提人種種飯、
麨
麵、魚肉以為
摶
食,衣服、洗
T 0133b21
浴為細滑食。拘耶尼、弗于逮人亦食種種飯
T 0133b22
麨
麵、魚肉以為
摶
食,衣服、洗浴為細滑食。
T 0133b23
欝單曰人唯食自然粳米,天味具足以為
T 0133b24
摶
食,衣服、洗浴為細滑食。龍、金翅鳥食黿
T 0133b25
鼉、魚鱉以為
摶
食,洗浴、衣服為細滑食。阿
T 0133b26
須倫食淨
摶
食以為
摶
食,洗浴、衣服為細
T 0133b27
滑食。四天王、忉利天、焰摩天、兜率天、化自在天、
T 0133b28
他化自在天食淨
摶
食以為
摶
食,洗浴、衣
T 0133b29
服為細滑食。自上諸天以禪定喜樂為食。
T 0133c01
何等眾生觸食?卵生眾生觸食。何等眾生念
T 0133c02
食?有眾生因念食得存,諸根增長,壽命
T 0133c03
不絕,是為念食。何等識食?地獄眾生及無
T 0133c04
色天,是名識食。
「閻浮提人以金銀、珍寶、穀
T 0133c05
帛、奴僕治生販賣以自生活。拘耶尼人以牛
T 0133c06
羊、珠寶市易生活。弗于逮人以穀帛、珠璣
T 0133c07
市易自活。欝單曰人無有市易治生自活。
T 0133c08
閻浮提人有婚姻往來、男娶女嫁。拘耶尼
T 0133c09
人、弗于逮人亦有婚姻、男娶女嫁。欝單曰
T 0133c10
人無有婚姻、男女嫁娶。龍、金翅鳥、阿須倫
T 0133c11
亦有婚姻、男女嫁娶。四天王、忉利天,乃至他
T 0133c12
化自在天亦有婚姻、男娶女嫁。自上諸天無
T 0133c13
復男女。閻浮提人男女交會,身身相觸以成
T 0133c14
陰陽。拘耶尼、弗于逮、欝單曰人亦身身相觸
T 0133c15
以成陰陽。龍、金翅鳥亦身身相觸以成陰陽。
T 0133c16
阿須倫身身相近,以氣成陰陽。四天王、忉利
T 0133c17
天亦復如是。焰摩天相近以成陰陽。兜率天
T 0133c18
執手成陰陽。化自在天熟視成陰陽。他化
T 0133c19
自在天暫視成陰陽。自上諸天無復婬欲。
「若
T 0133c20
有眾生身行惡,口言惡,意念惡,身壞命終,
T 0133c21
此後識滅,泥梨初識生,因識有名色,因名
T 0133c22
色有六入。或有眾生身行惡,口言惡,意念
T 0133c23
惡,身壞命終,墮畜生中,此後識滅,畜生初識
T 0133c24
生,因識有名色,因名色有六入。或有眾
T 0133c25
生身行惡,口言惡,意念惡,身壞命終,墮餓
T 0133c26
鬼中,此後識滅,餓鬼初識生,因識有名色,
T 0133c27
因名色有六入。或有眾生身行善,口言善,
T 0133c28
意念善,身壞命終,得生人中,此後識滅,人
T 0133c29
中初識生,因識有名色,因名色有六入。
T 0134a01
「或有眾生身行善,口言善,意念善,身壞命
T 0134a02
終,生四天王,此後識滅,四天王識初生,
T 0134a03
因識有名色,因名色有六入。彼天初生,如
T 0134a04
此人間一、二歲兒,自然化現,在天膝上坐,彼
T 0134a05
天即言:『此是我子。』由行報故,自然智生,即自
T 0134a06
念言:『我由何行,今生此間?』即復自念:『我昔
T 0134a07
於人間身行善,口言善,意念善,由此行故,
T 0134a08
今得生天。我設於此命終,復生人間者,當
T 0134a09
淨身、口、意,倍復精勤,修諸善行。』兒生未久
T 0134a10
便自覺飢,當其兒前有自然寶器,盛天百
T 0134a11
味自然淨食,若福多者飯色為白,其福中者
T 0134a12
飯色為青,其福下者飯色為赤。彼兒以手
T 0134a13
探飯著口中,食自然消化,如酥投火。彼
T 0134a14
兒食訖,方自覺渴,有自然寶器盛甘露漿,
T 0134a15
其福多者漿色為白,其福中者漿色為青,其
T 0134a16
福下者漿色為赤。其兒取彼漿飲,漿自消
T 0134a17
化,如酥投火。
「彼兒飲食已訖,身體長大,與
T 0134a18
餘天等,即入浴池沐浴澡洗,以自娛樂。自
T 0134a19
娛樂已,還出浴池,詣香樹下,香樹曲躬,手
T 0134a20
取眾香,以自塗身。復詣劫貝衣樹,樹為曲
T 0134a21
躬,取種種衣,著其身上。復詣莊嚴樹,樹為
T 0134a22
曲躬,取種種莊嚴,以自嚴身。復詣鬘樹,樹
T 0134a23
為曲躬,取鬘貫首。復詣器樹,樹為曲躬,
T 0134a24
即取寶器。復詣果樹,樹為曲躬,取自然果,
T 0134a25
或食或含,或漉汁而飲。復詣樂器樹,樹為曲
T 0134a26
躬,取天樂器,以清妙聲和絃而歌,向諸
T 0134a27
園林。彼見無數天女鼓樂絃歌,語笑相向,
T 0134a28
其天遊觀,遂生染著,視東忘西,視西忘東,
T 0134a29
其初生時,知自念言:『我由何行,今得生此?』
T 0134b01
當其遊處觀時,盡忘此念。於是便有婇女
T 0134b02
侍從。
「若有眾生身行善,口言善,意念善,身
T 0134b03
壞命終,生忉利天,此後識滅,彼初識生,因
T 0134b04
識有名色,因名色有六入。彼天初生,如閻
T 0134b05
浮提二、三歲兒,自然化現,在天膝上,彼天即
T 0134b06
言:『此是我男,此是我女。』亦復如是。或有眾
T 0134b07
生身、口、意善,身壞命終,生
焰
摩天,其天初生,
T 0134b08
如閻浮提三、四歲兒。或有眾生身、口、意善,
T 0134b09
身壞命終,生兜率天,其天初生,如此世間四、
T 0134b10
五歲兒。或有眾生身、口、意善,身壞命終,生
T 0134b11
化自在天,其天初生,如此世間五、六歲兒。或
T 0134b12
有眾生身、口、意善,身壞命終,生他化自在
T 0134b13
天,其天初生,如此世間六、七歲兒,亦復如
T 0134b14
是。」
佛告比丘:「半月三齋。云何為三?月八日
T 0134b15
齋、十四日齋、十五日齋,是為三齋。何故於
T 0134b16
月八日齋?常以月八日,四天王告使者言:
T 0134b17
『汝等案行世間,觀視萬民,知有孝順父
T 0134b18
母,敬順沙門、婆羅門,宗事長老,齋戒布施,
T 0134b19
濟諸窮乏者不?』爾時,使者聞王教已,遍案
T 0134b20
行天下,知有孝順父母,宗事沙門、婆羅門,
T 0134b21
恭順長老,持戒守齋,布施窮乏者,具觀察
T 0134b22
已,見諸世間不孝父母,不敬師長,不修
T 0134b23
齋戒,不濟窮乏者,還
白
王言:『天王!世間
T 0134b24
孝順父母,敬事師長,淨修齋戒,施諸窮乏
T 0134b25
者,甚少!甚少!』爾時,四天王聞已,愁憂不悅,答
T 0134b26
言:『咄此為哉!世人多惡,不孝父母,不事師
T 0134b27
長,不修齋戒,不施窮乏,減損諸天眾,增
T 0134b28
益阿須倫眾。』若使者見世間有孝順父母,
T 0134b29
敬事師長,勤修齋戒,布施貧乏者,則還白
T 0134c01
天王言:『世間有人孝順父母,敬事師長,勤
T 0134c02
修齋戒,施諸窮乏者。』四天王聞已,即大歡
T 0134c03
喜,唱言:『善哉!我聞善言,世間乃能有孝順
T 0134c04
父母,敬事師長,勤修齋戒,布施貧乏,增益
T 0134c05
諸天眾,減損阿須倫眾。』
「何故於十四日齋?
T 0134c06
十四日齋時,四天王告太子言:『汝當案行
T 0134c07
天下,觀察萬民,知有孝順父母,敬事師
T 0134c08
長,勤修齋戒,布施貧乏者不?』太子受王
T 0134c09
教已,即案行天下,觀察萬民,知有孝順
T 0134c10
父母,宗事師長,勤修齋戒,布施貧乏者,
T 0134c11
具觀察已,見諸世間有不孝順父母,不
T 0134c12
敬師長,不修齋戒,不施貧乏者,還白王
T 0134c13
言:『天王!世間孝順父母,敬順師長,淨修齋
T 0134c14
戒,濟諸貧乏者,甚少!甚少!』四天王聞已,愁
T 0134c15
憂不悅言:『咄此為哉!世人多惡,不孝父母,
T 0134c16
不事師長,不修齋戒,不濟窮乏,減損諸
T 0134c17
天眾,增益阿須倫眾。』太子若見世間有孝
T 0134c18
順父母,敬事師長,勤修齋戒,布施貧乏者,
T 0134c19
即還白王言:『天王!世間有人孝順父母,
T 0134c20
敬順師長,勤修齋戒,施諸貧乏者。』四天
T 0134c21
王聞已,即大歡喜,唱言:『善哉!我聞善言,世間
T 0134c22
能有孝事父母,宗敬師長,勤修齋戒,布施
T 0134c23
貧乏,增益諸天眾,減損阿須倫眾。』是故十
T 0134c24
四日齋。
「何故於十五日齋?十五日齋時,四
T 0134c25
天王躬身自下,案行天下,觀察萬民,世間
T 0134c26
寧有孝順父母,敬事師長,勤修齋戒,布
T 0134c27
施貧乏者不?見世間人多不孝父母,不
T 0134c28
事師長,不勤齋戒,不施貧乏。時,四天王
T 0134c29
詣善法殿,白帝釋言:『大王!當知世間眾生
T 0135a01
多不孝父母,不敬師長,不修齋戒,不施
T 0135a02
貧乏。』帝釋及忉利諸天聞已,愁憂不悅言:『咄
T 0135a03
此為哉!世人多惡,不孝父母,不敬師長,不
T 0135a04
修齋戒,不施窮乏,減損諸天眾,增益阿須
T 0135a05
倫眾。』四天王若見世間有孝順父母,敬事
T 0135a06
師長,勤修齋戒,布施貧乏者,還詣善法
T 0135a07
堂,白帝釋言:『世人有孝順父母,敬事師
T 0135a08
長,勤修齋戒,布施貧乏者。』帝釋及忉利
T 0135a09
諸天聞是語已,皆大歡喜,唱言:『善哉!世間
T 0135a10
乃有孝順父母,敬事師長,勤修齋戒,布施
T 0135a11
貧乏者,增益諸天眾,減損阿須倫眾。』是
T 0135a12
故十五日齋戒。是故有三齋。爾時,帝釋欲
T 0135a13
使諸天倍生歡喜,即說偈言:
T 0135a14
「『常以月八日, 十四十五日,
T 0135a15
受化修齋戒, 其人與我同。』」
T 0135a16
佛告比丘:「帝釋說此偈,非為善受,非為
T 0135a17
善說,我所不可。所以者何?彼天帝釋婬、怒、癡
T 0135a18
未盡,未脫生、老、病、死、憂、悲、苦惱。我說其人
T 0135a19
未離苦本。若我比丘漏盡阿羅漢,所作已
T 0135a20
辦,捨於重擔,自獲己利,盡諸有結,平等解
T 0135a21
脫。如此比丘應說此偈:
T 0135a22
「『常以月八日, 十四十五日,
T 0135a23
受化修齋戒, 其人與我同。』」
T 0135a24
佛告比丘:「彼比丘說此偈者,乃名善受,乃
T 0135a25
名善說,我所印可。所以者何?彼比丘婬、怒、
T 0135a26
癡盡已,脫生、老、病、死、憂、悲、苦惱,我說其人離
T 0135a27
於苦本。」
佛告比丘:「一切人民所居舍宅,皆
T 0135a28
有鬼神,無有空者。一切街巷四衢道中,屠
T 0135a29
兒市肆及丘塚間,皆有鬼神,無有空者。凡
T 0135b01
諸鬼神皆隨所依,即以為名,依人名人,
T 0135b02
依村名村,依城名城,依國名國,依土名
T 0135b03
土,依山名山,依河名河。」
佛告比丘:「一切
T 0135b04
樹木極小如車軸者,皆有鬼神依止,無有
T 0135b05
空者。一切男子、女人初始生時,皆有鬼神隨
T 0135b06
逐擁護;若其死時,彼守護鬼攝其精氣,其人
T 0135b07
則死。」
T 0135b08
佛告比丘:「設有外道梵志問言:『諸賢!若一
T 0135b09
切男女初始生時,皆有鬼神隨逐守護;其
T 0135b10
欲死時,彼守護鬼神攝其精氣,其人則死
T 0135b11
者。今人何故有為鬼神所觸嬈者?有不
T 0135b12
為鬼神所觸嬈者?』設有此問,汝等應答
T 0135b13
彼言:『世人為非法行,邪見顛倒,作十惡業,
T 0135b14
如是人輩,若百若千,乃至有一神護耳。譬
T 0135b15
如群牛、群羊,若百若千,一人守牧,彼亦如
T 0135b16
是,為非法行,邪見顛倒,作十惡業,如是人
T 0135b17
輩,若百若千,乃有一神護耳。若有人修行
T 0135b18
善法,見正信行,具十善業,如是一人有百
T 0135b19
千神護。譬如國王、國王大臣、有百千人衛
T 0135b20
護一人。彼亦如是,修行善法,具十善業,如
T 0135b21
是一人有百千神護。以是緣故,世人有為
T 0135b22
鬼神所觸嬈者,有不為鬼神所觸嬈者。』」
T 0135b23
佛告比丘:「閻浮提人有三事勝拘耶尼人。
T 0135b24
何等為三?一者勇猛強記,能造業行。二者勇
T 0135b25
猛強記,勤修梵行。三者勇猛強記,佛出其土。
T 0135b26
以此三事勝拘耶尼。拘耶尼人有三事
T 0135b27
勝閻浮提。何等為三?一者多牛,二者多羊,
T 0135b28
三者多珠玉。以此三事勝閻浮提。閻浮提
T 0135b29
有三事勝弗于逮。何等為三?一者勇猛強
T 0135c01
記,能造業行。二者勇猛強記,能修梵行。三者
T 0135c02
勇猛強記,佛出其土。以此三事勝弗于逮。
T 0135c03
弗于逮有三事勝閻浮提,何等為三?一者
T 0135c04
其土極廣,二者其土極大,三者其土極妙。以
T 0135c05
此三事勝閻浮提。
「閻浮提有三事勝欝單
T 0135c06
曰。何等為三?一者勇猛強記,能造業行。二
T 0135c07
者勇猛強記,能修梵行。三者勇猛強記,佛出
T 0135c08
其土。以此三事勝欝單曰。欝單曰復有
T 0135c09
三事勝閻浮提。何等為三?一者無所繫屬,
T 0135c10
二者無有我,三者壽定千歲。以此三事
T 0135c11
勝閻浮提。閻浮提人亦以上三事勝餓鬼
T 0135c12
趣。餓鬼趣有三事勝閻浮提。何等為三?一
T 0135c13
者長壽,二者身大,三者他作自受。以此三
T 0135c14
事勝閻浮提。閻浮提人亦以上三事勝龍、
T 0135c15
金翅鳥。龍、金翅鳥復有三事勝閻浮提。何
T 0135c16
等為三?一者長壽,二者身大,三者宮殿。以
T 0135c17
此三事勝閻浮提。
「閻浮提以上三事勝阿
T 0135c18
須倫。阿須倫復有三事勝閻浮提。何等為
T 0135c19
三?一者宮殿高廣,二者宮殿莊嚴,三者宮殿
T 0135c20
清淨。以此三事勝閻浮提。閻浮提人以此
T 0135c21
三事勝四天王。四天王復有三事勝閻浮
T 0135c22
提。何等為三?一者長壽,二者端正,三者多
T 0135c23
樂。以此三事勝閻浮提。閻浮提人亦以上
T 0135c24
三事勝忉利天、焰摩天、兜率天、化自在天、
T 0135c25
他化自在天。此諸天復有三事勝閻浮提。
T 0135c26
何等為三?一者長壽,二者端正,三者多樂。」
T 0135c27
佛告比丘:「欲界眾生有十二種。何等為十
T 0135c28
二?一者地獄,二者畜生,三者餓鬼,四者人,
T 0135c29
五者阿須倫,六者四天王,七者忉利天,八者
T 0136a01
焰摩天,九者兜率天,十者化自在天,十一者
T 0136a02
他化自在天,十二者魔天。色界眾生有二十
T 0136a03
二種:一者梵身天,二者梵輔天,三者梵眾天,
T 0136a04
四者大梵天,五者光天,六者少光天,七者無
T 0136a05
量光天,八者光音天,九者淨天,十者少淨天,
T 0136a06
十一者無量淨天,十二者遍淨天,十三者嚴
T 0136a07
飾天,十四者小嚴飾天,十五者無量嚴飾天,
T 0136a08
十六者嚴飾果實天,十七者無想天,十八者
T 0136a09
無造天,十九者無熱天,二十者善見天,二十
T 0136a10
一者大善見天,二十二者阿迦尼吒天。無色
T 0136a11
界眾生有四種。何等為四?一者空智天,二
T 0136a12
者識智天,三者無所有智天,四者有想無想
T 0136a13
智天。」
T 0136a14
佛告比丘:「有四大天神。何等為四?一者地
T 0136a15
神,二者水神,三者風神,四者火神。昔者,地神
T 0136a16
生惡見言:『地中無水、火、風。』時,我知此地神
T 0136a17
所念,即往語言:『汝當生念言:「地中無水、火、
T 0136a18
風。」耶?』地神報言:『地中實無水、火、風也。』我時
T 0136a19
語言:『汝勿生此念,謂地中無水、火、風。所以
T 0136a20
者何?地中有水、火、風,但地大多故,地大得
T 0136a21
名。』」
佛告比丘:「我時為彼地神次第說法,除
T 0136a22
其惡見,示教利喜,施論、戒論、生天之論,欲為
T 0136a23
不淨,上漏為患,出要為上;敷演開示,清淨
T 0136a24
梵行。我時知其心淨,柔軟歡喜,無有陰蓋,
T 0136a25
易可開化,如諸佛常法,說苦聖諦、苦集諦、
T 0136a26
苦滅諦、苦出要諦,演布開示。爾時,地神即於
T 0136a27
座上遠塵離垢,得法眼淨。譬如淨潔白衣,
T 0136a28
易為受色。彼亦如是,信心清淨,遂得
T 0136a29
法眼,無有狐疑,見法決定,不墮惡趣,不
T 0136b01
向餘道,成就無畏,而白我言:『我今歸依佛,
T 0136b02
歸依法,歸依僧,盡形壽不殺、不盜、不婬、
T 0136b03
不欺、不飲酒,聽我於正法中為優婆夷。』」
佛
T 0136b04
告比丘:「昔者,水神生惡見言:『水中無地、火、
T 0136b05
風。』時,地神知彼水神心生此見,往語水神
T 0136b06
言:『汝實起此見,言:「水中無地、火、風。」耶?』答曰:
T 0136b07
『實爾。』地神語言:『汝勿起此見,謂水中無地、
T 0136b08
火、風。所以者何?水中有地、火、風,但水大多
T 0136b09
故,水大得名。』時,地神即為說法,除其惡見,
T 0136b10
示教利喜,施論、戒論、生天之論,欲為不淨,上
T 0136b11
漏為患,出要為上;敷演開示,清淨梵行。時,
T 0136b12
地神知彼水神其心柔軟,歡喜信解,淨無陰
T 0136b13
蓋,易可開化,如諸佛常法,說苦聖諦、苦集
T 0136b14
諦、苦滅諦、苦出要諦,演布開示。時,彼水神即
T 0136b15
遠塵離垢,得法眼淨。猶如淨潔白衣,易為
T 0136b16
受色。彼亦如是,信心清淨,得法眼淨,無有
T 0136b17
狐疑,決定得果,不墮惡趣,不向餘道,成
T 0136b18
就無畏,白地神言:『我今歸依佛,歸依法,
T 0136b19
歸依僧,盡形壽不殺、不盜、不婬、不欺、不飲酒,
T 0136b20
聽我於正法中為優婆夷。』」
佛告比丘:「昔者,
T 0136b21
火神生惡見言:『火中無地、水、風。』時,地神、水
T 0136b22
神知彼火神心生此見,共語火神言:『汝實
T 0136b23
起此見耶?』答曰:『實爾。』二神語言:『汝勿起此
T 0136b24
見。所以者何?火中有地、水、風,但火大多故,火
T 0136b25
大得名耳。』時,二神即為說法,除其惡見,示
T 0136b26
教利喜,施論、戒論、生天之論,欲為不淨,上漏
T 0136b27
為患,出要為上;敷演開示,清淨梵行。二神
T 0136b28
知彼火神其心柔軟,歡喜信解,淨無陰蓋,易
T 0136b29
可開化,如諸佛常法,說苦聖諦、苦集諦、苦
T 0136c01
滅諦、苦出要諦,演布開示。時,彼火神即遠塵
T 0136c02
離垢,得法眼淨。猶如淨潔白衣,易為受色。
T 0136c03
彼亦如是,信心清淨,遂得法眼,無有狐疑,
T 0136c04
決定得果,不墮惡趣,不向餘道,成就無
T 0136c05
畏,白二神言:『我今歸依佛、法、聖眾,盡形壽
T 0136c06
不殺、不盜、不婬、不欺、不飲酒,聽我於正法中
T 0136c07
為優婆夷。』」
佛告比丘:「昔者,風神生惡見言:
T 0136c08
『風中無地、水、火。』地、水、火神知彼風神生此
T 0136c09
惡見,往語之言:『汝實起此見耶?』答曰:『實爾。』
T 0136c10
三神語言:『汝勿起此見。所以者何?風中有
T 0136c11
地、水、火,但風大多故,風大得名耳。』時,三神即
T 0136c12
為說法,除其惡見,示教利喜,施論、戒論、生天
T 0136c13
之論,欲為不淨,上漏為患,出要為上;敷演
T 0136c14
開示,清淨梵行。三神知彼風神其心柔軟,歡
T 0136c15
喜信解,淨無陰蓋,易可開化,如諸佛常法,
T 0136c16
說苦聖諦、苦集、苦滅、苦出要諦,演布開示。
T 0136c17
時,彼風神即遠塵離垢,得法眼淨。譬如淨潔
T 0136c18
白衣,易為受色。彼亦如是,信心清淨,逮得
T 0136c19
法眼,無有狐疑,決定得果,不墮惡趣,不
T 0136c20
向餘道,成就無畏,白三神言:『我今歸依佛、
T 0136c21
法、聖眾,盡形壽不殺、不盜、不婬、不欺、不飲
T 0136c22
酒,願聽我於正法中為優婆夷,慈心一切,
T 0136c23
不嬈眾生。』」
佛告比丘:「雲有四種。云何為四?
T 0136c24
一者白色,二者黑色,三者赤色。四者紅色。其
T 0136c25
白色者地大偏多,其黑色者水大偏多,其赤
T 0136c26
色者火大偏多,其紅色者風大偏多。其雲去
T 0136c27
地或十里、二十里、三十里,至四十四千里,
T 0136c28
除劫初後時雲上至光音天。電有四種。云
T 0136c29
何為四?東方電名身光,南方電名難毀,西
T 0137a01
方電名流炎,北方電名定明。以何緣故,
T 0137a02
虛空雲中有此電光?有時身光與難毀相
T 0137a03
觸,有時身光與流炎相觸,有時身光與定
T 0137a04
明相觸,有時難毀與流炎相觸,有時難毀
T 0137a05
與定明相觸,有時流炎與定明相觸。以是
T 0137a06
緣故,虛空雲中有電光起。復有何緣,虛
T 0137a07
空雲有雷聲起?虛空中有時地大與水
T 0137a08
大相觸,有時地大與火大相觸,有時地大
T 0137a09
與風大相觸,有時水大與火大相觸,有
T 0137a10
時水大與風大相觸。以是緣故,虛空雲中
T 0137a11
有雷聲起。
「相師占雨有五因緣不可定
T 0137a12
知,使占者迷惑。云何為五?一者雲有雷電,
T 0137a13
占謂當雨,以火大多故,燒雲不雨,是為
T 0137a14
占師初迷惑緣。二者雲有雷電,占謂當雨,
T 0137a15
有大風起,吹雲四散,入諸山間,以此緣故,
T 0137a16
相師迷惑。三者雲有雷電,占謂當雨,時,大
T 0137a17
阿須倫接攬浮雲,置大海中,以此因緣,
T 0137a18
相師迷惑。四者雲有雷電,占謂當雨,而雲
T 0137a19
師、雨師放逸婬亂,竟不降雨,以此因緣,相
T 0137a20
師迷惑。五者雲有雷電,占謂當雨,而世間
T 0137a21
眾庶非法放逸,行不淨行,慳貪嫉妬,所見
T 0137a22
顛倒,故使天不降雨,以此因緣,相師迷惑。
T 0137a23
是為五因緣,相師占雨不可定知。」
T 0137a24
佛說長阿含經卷第二十
第四分世記經三災品第九
T 0137b02
佛說長阿含經卷第二十一
T 0137a28
T 0137a29
後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯
T 0137b01
佛告比丘:「有四事長久,無量無限,不可以
T 0137b03
日月歲數而稱計也。云何為四?一者世間
T 0137b04
災漸起,壞此世時,中間長久,無量無限,不
T 0137b05
可以日月歲數而稱計也。二者此世間壞
T 0137b06
已,中間空曠,無有世間,長久逈遠,不可以
T 0137b07
日月歲數而稱計也。三者天地初起,向欲
T 0137b08
成時,中間長久,不可以日月歲數而稱計
T 0137b09
也。四者天地成已,久住不壞,不可以日月
T 0137b10
歲數而稱計也。是為四事長久,無量無限,
T 0137b11
不可以日月歲數而計量也。」
佛告比丘:「世
T 0137b12
有三災。云何為三?一者火災,二者水災,三
T 0137b13
者風災。有三災上際。云何為三?一者光音天,
T 0137b14
二者遍淨天,三者果實天。若火災起時,至光
T 0137b15
音天,光音天為際。若水災起時,至遍淨天,
T 0137b16
遍淨天為際。若風災起時,至果實天,果實
T 0137b17
天為際。云何為火災?火災始欲起時,此世
T 0137b18
間人皆行正法,正見不倒,修十善行,行此
T 0137b19
法時,有人得第二禪者,即踊身上昇於虛
T 0137b20
空中,住聖人道、天道、梵道,高聲唱言:『諸賢!
T 0137b21
當知無覺、無觀第二禪樂,第二禪樂。』時,世間
T 0137b22
人聞此聲已,仰語彼言:『善哉!善哉!唯願為
T 0137b23
我說無覺、無觀第二禪道。』時,空中人聞其
T 0137b24
語已,即為說無覺、無觀第二禪道。此世間人
T 0137b25
聞彼說已,即修無覺無觀第二禪道,身壞
T 0137b26
命終,生光音天。
「是時,地獄眾生罪畢命終,來
T 0137b27
生人間,復修無覺、無觀第二禪,身壞命終,生
T 0137b28
光音天;畜生、餓鬼、阿須倫、四天王、忉利天、炎
T 0137b29
天、兜率天、化自在天、他化自在天、梵天眾生命
T 0137c01
終,來生人間,修無覺、無觀第二禪,身壞命終,
T 0137c02
生光音天。由此因緣地獄道盡,畜生、餓鬼、
T 0137c03
阿須倫乃至梵天皆盡。當於爾時,先地獄盡,
T 0137c04
然後畜生盡;畜生盡已,餓鬼盡;餓鬼盡已,阿
T 0137c05
須倫盡;阿須倫盡已,四天王盡;四天王盡已,
T 0137c06
忉利天王盡;忉利天王盡已,炎摩天盡;炎
T 0137c07
摩天盡已,兜率天盡;兜率天盡已,化自在天
T 0137c08
盡;化自在天盡已,他化自在天盡;他化自在
T 0137c09
天盡已,梵天盡;梵天盡已,然後人盡,無有遺
T 0137c10
餘。人盡無餘已,此世敗壞,乃成為災,其後
T 0137c11
天不降雨,百穀草木自然枯死。」
T 0137c12
佛告比丘:「以是當知,一切行無常,變易朽
T 0137c13
壞,不可恃怙,有為諸法,甚可厭患,當求度
T 0137c14
世解脫之道。其後久久,有大黑風暴起,吹大
T 0137c15
海水,海水深八萬四千由旬,吹使兩披,取日
T 0137c16
宮殿,置於須彌山半,去地四萬二千由旬,
T 0137c17
安日道中,緣此世間有二日出。二日出已,
T 0137c18
令此世間所有小河、汱澮、渠流皆悉乾竭。」
佛
T 0137c19
告比丘:「以是當知,一切行無常,變易朽壞,
T 0137c20
不可恃怙,凡諸有為甚可厭患,當求度世
T 0137c21
解脫之道。其後久久,有大黑風暴起,海水
T 0137c22
深八萬四千由旬,吹使兩披,取日宮殿,置
T 0137c23
於須彌山半,去地四萬二千由旬,安日道
T 0137c24
中,緣此世間有三日出。三日出已,此諸大
T 0137c25
水,恒河、耶婆那河、婆羅河、阿夷羅婆提河、阿摩
T 0137c26
怯河、辛陀河、故舍河皆悉乾竭,無有遺餘。
T 0137c27
「以是當知,一切行無常,變易朽壞,不可恃
T 0137c28
怙,凡諸有為甚可厭患,當求度世解脫之
T 0137c29
道。其後久久,有大黑風暴起,海水深八萬四
T 0138a01
千由旬,吹使兩披,取日宮殿,置於須彌山
T 0138a02
半,安日道中,緣此世間有四日出。四日出
T 0138a03
已,此諸世間所有泉源、淵池,善見大池、阿
T 0138a04
耨大池、四方陀延池、優鉢羅池、拘物頭池、分
T 0138a05
陀利池、離池,縱廣五十由旬皆盡乾竭。
「以
T 0138a06
是故知,一切無常,變易朽壞,不可恃怙,凡
T 0138a07
諸有為甚可厭患,當求度世解脫之道。其
T 0138a08
後久久,有大黑風暴起,吹大海水,使令兩
T 0138a09
披,取日宮殿,置於須彌山半,安日道中,緣
T 0138a10
此世間有五日出。五日出已,大海水稍減
T 0138a11
百由旬,至七百由旬。以是可知,一切行無
T 0138a12
常,變易朽壞,不可恃怙,凡諸有為甚可厭
T 0138a13
患,當求度世解脫之道。是時,大海稍盡,餘
T 0138a14
有七百由旬、六百由旬、五百由旬、四百由旬
T 0138a15
乃至百由旬在。以是可知,一切行無常,變易
T 0138a16
朽壞,不可恃怙,凡諸有為甚可厭患,當求
T 0138a17
度世解脫之道。時,大海水稍稍減盡,至七
T 0138a18
由旬、六由旬、五由旬,乃至一由旬在。」
佛告比
T 0138a19
丘:「以是當知,一切行無常,變易朽壞,不可
T 0138a20
恃怙,凡諸有為甚可厭患,當求度世解脫
T 0138a21
之道。其後海水稍盡,至七多羅樹、六多羅樹,
T 0138a22
乃至一多羅樹。」
佛告比丘:「以是當知,一切
T 0138a23
行無常,變易朽壞,不可恃怙,凡諸有為甚
T 0138a24
可厭患,當求度世解脫之道。其後海水轉
T 0138a25
淺,七人、六人、五人、四人、三人、二人、一人,至腰、
T 0138a26
至膝,至于
[跳-兆+專]
、踝。」
佛告比丘:「以是當知,一
T 0138a27
切行無常,變易朽壞,不可恃怙,凡諸有為甚
T 0138a28
可厭患,當求度世解脫之道。其後海水猶
T 0138a29
如春雨後,亦如牛跡中水,遂至涸盡,不漬
T 0138b01
人指。」
佛告比丘:「以是當知,一切行無常,變
T 0138b02
易朽壞,不可恃怙,凡諸有為甚可厭患,當
T 0138b03
求度世解脫之道。其後久久,有大黑風暴
T 0138b04
起,吹海底沙,深八萬四千由旬,令著兩
T 0138b05
岸飃,取日宮殿,置於須彌山半,安日道中,
T 0138b06
緣此世間有六日出。六日出已,其四天下及
T 0138b07
八萬天下諸山、大山、須彌山王皆烟起燋燃,
T 0138b08
猶如陶家初然陶時,六日出時亦復如是。」
T 0138b09
佛告比丘:「以是當知,一切行無常,變易朽壞,
T 0138b10
不可恃怙,凡諸有為甚可厭患,當求度世
T 0138b11
解脫之道。其後久久,有大黑風暴起,吹海
T 0138b12
底沙,八萬四千由旬,令著兩岸飄,取日宮
T 0138b13
殿,置於須彌山半,安日道中,緣此世間有
T 0138b14
七日出。七日出已,此四天下及八萬天下諸
T 0138b15
山、大山、須彌山王皆悉洞然,猶如陶家然竈
T 0138b16
焰起,七日出時亦復如是。」
佛告比丘:「以此
T 0138b17
當知,一切行無常,變易朽壞,不可恃怙,凡諸
T 0138b18
有為甚可厭患,當求度世解脫之道。此四
T 0138b19
天下及八萬天下諸山、須彌山皆悉洞然;一
T 0138b20
時,四天王宮、忉利天宮、炎摩天宮、兜率天、
T 0138b21
化自在天、他化自在天、梵天宮亦皆洞然。」
佛
T 0138b22
告比丘:「是故當知,一切行無常,變易朽壞,
T 0138b23
不可恃怙,凡諸有為法甚可厭患,當求
T 0138b24
度世解脫之道。此四天下,乃至梵
天
火洞然
T 0138b25
已,風吹火焰至光音天,其彼初生天子
T 0138b26
見此火焰,皆生怖畏言:『咄!此何物?』先生諸
T 0138b27
天語後生天言:『勿怖畏也,彼火曾來,齊
T 0138b28
此而止。』以念前火光,故名光念天。此
T 0138b29
四天下,乃至梵天火洞然已,須彌山王漸漸
T 0138c01
頹落,百由旬、二百由旬,至七百由旬。」
佛告
T 0138c02
比丘:「以是當知,一切行無常,變易朽壞,不
T 0138c03
可恃怙,凡諸有為甚可厭患,當求度世解
T 0138c04
脫之道。此四天下乃至梵天火洞然已,其後
T 0138c05
大地及須彌山盡無灰燼。是故當知,一切行
T 0138c06
無常,變易朽壞,不可恃怙,凡諸有為甚可
T 0138c07
厭患,當求度世解脫之道。其此大地火燒盡
T 0138c08
已,地下水盡,水下風盡。是故當知,一切行無
T 0138c09
常,變易朽壞,不可恃怙,凡諸有為甚可厭
T 0138c10
患,當求度世解脫之道。」
佛告比丘:「火災起
T 0138c11
時,天不復雨,百穀草木自然枯死。誰當信
T 0138c12
者?獨有見者,自當知耶?如是乃至地下
T 0138c13
水盡,水下風盡。誰當信者?獨有見者,自當
T 0138c14
知耶?是為火災。
「云何火劫還復?其後久久,
T 0138c15
有大黑雲在虛空中,至光音天,周遍降雨,
T 0138c16
渧如車輪,如是無數百千歲雨,其水漸長,
T 0138c17
高無數百千由旬,乃至光音天。」
「時,有四大風
T 0138c18
起,持此水住。何等為四?一名住風,二名
T 0138c19
持風,三名不動,四名堅固。其後此水稍減
T 0138c20
百千由旬,無數百千萬由旬,其水四面有大
T 0138c21
風起,名曰僧伽,吹水令動,鼓蕩濤波,起沫
T 0138c22
積聚,風吹離水,在於空中自然堅固,變成
T 0138c23
天宮,七寶校飾,由此因緣有梵迦夷天宮。
T 0138c24
其水轉減至無數百千萬由旬,其水四面有
T 0138c25
大風起,名曰僧伽,吹水令動,鼓蕩濤波,起
T 0138c26
沫積聚,風吹波離水,在於空中自然堅固,
T 0138c27
變成天宮,七寶校飾,由此因緣有他化自
T 0138c28
在天宮。
「其水轉減至無數千萬由旬,其水四
T 0138c29
面有大風起,名曰僧伽,吹水令動,鼓蕩濤
T 0139a01
波,起沫積聚,風吹離水,在虛空中自然堅
T 0139a02
固,變成天宮,七寶校飾,由此因緣有化自
T 0139a03
在天宮。其水轉減至無數百千由旬,有僧
T 0139a04
伽風,吹水令動,鼓蕩濤波,起沫積聚,風吹
T 0139a05
離水,在虛空中自然堅固,變成天宮,七寶
T 0139a06
校飾,由此因緣有兜率天宮。其水轉減至
T 0139a07
無數百千由旬,有僧伽風,吹水令動,鼓蕩
T 0139a08
濤波,起沫積聚,風吹離水,在虛空中自然堅
T 0139a09
固,變成天宮,由此因緣有炎摩天宮。其水
T 0139a10
轉減至無數百千由旬,水上有沫,深六十萬
T 0139a11
八千由旬,其邊無際,譬如此間,穴泉流水,
T 0139a12
水上有沫,彼亦如是。
「以何因緣有須彌山?
T 0139a13
有亂風起,吹此水沫造須彌山,高六十萬
T 0139a14
八千由旬,縱廣八萬四千由旬,四寶所成,金、
T 0139a15
銀、水精、琉璃。以何因緣有四阿須倫宮殿?其
T 0139a16
後亂風吹大海水吹大水沫,於須彌山四
T 0139a17
面起大宮殿,縱廣各八萬由旬,自然變成七
T 0139a18
寶宮殿。復何因緣有四天王宮殿?其後亂風
T 0139a19
吹大海水沫,於須彌山半四萬二千由旬,
T 0139a20
自然變成七寶宮殿,以是故名為四天王宮
T 0139a21
殿。以何因緣有忉利天宮殿?其後亂風吹
T 0139a22
大水沫,於須彌山上自然變成七寶宮殿。
T 0139a23
「復以何緣有伽陀羅山?其後亂風吹大水
T 0139a24
沫,去須彌山不遠,自然化成寶山,下根入
T 0139a25
地四萬二千由旬,縱廣四萬二千由旬,其邊
T 0139a26
無際,雜色間廁,七寶所成,以是緣故有伽
T 0139a27
陀羅山。復以何緣有伊沙山?其後亂風吹
T 0139a28
大水沫,去伽陀羅山不遠,自然變成伊沙
T 0139a29
山,高二萬一千由旬,縱廣二萬一千由旬,其邊
T 0139b01
無際,雜色參間,七寶所成,以是緣故有伊
T 0139b02
沙山。其後亂風吹大水沫,去伊沙山不遠,
T 0139b03
自然變成樹辰陀羅山,高萬二千由旬,縱廣
T 0139b04
萬二千由旬,其邊無際,雜色參間,七寶所成,
T 0139b05
以是因緣有樹辰陀羅山。其後亂風吹大
T 0139b06
水沫,去樹辰陀羅山不遠,自然變成阿般
T 0139b07
泥樓山,高六千由旬,縱廣六千由旬,其邊無
T 0139b08
際,雜色參間,七寶所成,以是緣故有阿般
T 0139b09
尼樓山。
「其後亂風吹大水沫,去阿般尼樓
T 0139b10
山不遠,自然變成彌隣陀羅山,高三千由
T 0139b11
旬,縱廣三千由旬,其邊無際,雜色參間,七寶
T 0139b12
所成,以是因緣有尼隣陀羅山。其後亂風
T 0139b13
吹大水沫,去尼隣陀羅山不遠,自然變成
T 0139b14
比尼陀山,高千二百由旬,縱廣千二百由旬,
T 0139b15
其邊無際,雜色參間,七寶所成,以是緣故
T 0139b16
有比尼陀山。其後亂風吹大水沫,去比尼
T 0139b17
陀山不遠,自然變成金剛輪山,高三百由
T 0139b18
旬,縱廣三百由旬,其邊無際,雜色參間,七寶
T 0139b19
所成,以是因緣有金剛輪山。
「何故有月、
T 0139b20
有七日宮殿?其後亂風吹大水沫,自然變
T 0139b21
成一月宮殿、七日宮殿,雜色參間,七寶所成,
T 0139b22
為黑風所吹還到本處,以是因緣有日、月
T 0139b23
宮殿。
「其後亂風吹大水沫,自然變成四天下
T 0139b24
及八萬天下,以是因緣有四天下及八萬天
T 0139b25
下。其後亂風吹大水沫,在四天下及八萬天
T 0139b26
下,自然變成大金剛輪山,高十六萬八千
T 0139b27
由旬,縱廣十六萬八千由旬,其邊無限,金剛
T 0139b28
堅固,不可毀壞,以是因緣有大金剛輪山。
T 0139b29
其後久久,有自然雲遍滿空中,周遍大雨,
T 0139c01
渧如車輪,其水彌漫,沒四天下,與須彌
T 0139c02
山等,其後亂風吹地為大坑,澗水盡入中,
T 0139c03
因此為海,以是因緣有四大海水。海水鹹
T 0139c04
苦有三因緣。何等為三?一者有自然雲遍
T 0139c05
滿虛空,至光音天,周遍降雨,洗濯天宮,滌
T 0139c06
蕩天下,從梵迦夷天宮、他化自在天宮,下至
T 0139c07
炎摩天宮、四天下、八萬天下、諸山、大山、須彌山
T 0139c08
王皆洗濯滌蕩,其中諸處有穢惡鹹苦諸
T 0139c09
不淨汁,下流入海,合為一味,故海水鹹。二
T 0139c10
者昔有大仙人禁呪海水,長使鹹苦,人不
T 0139c11
得飲,是故鹹苦。三者彼大海水雜眾生居,
T 0139c12
其身長大,或百由旬、二百由旬,至七百由旬,
T 0139c13
呼哈吐納,大小便中,故海水鹹。是為火
T 0139c14
災。」
T 0139c15
佛告比丘:「云何為水災?水災起時,此世
T 0139c16
間人皆奉正法,正見,不邪見,修十善業,
T 0139c17
修善行已。時,有人得無喜第三禪者,
T 0139c18
踊身上昇於虛空中,住聖人道、天道、梵
T 0139c19
道,高聲唱言:『諸賢!當知無喜第三禪樂,
T 0139c20
無喜第三禪樂。』時,世間人聞此聲已,仰
T 0139c21
語彼言:『善哉!善哉!願為我說是無喜第
T 0139c22
三禪道。』時,空中人聞此語已,即為演說
T 0139c23
無喜第三禪道,此世間人聞其說已,即修
T 0139c24
第三禪道,身壞命終,生遍淨天。
「爾時,地獄
T 0139c25
眾生罪畢命終,來生人間,復修第三禪道,
T 0139c26
身壞命終,生遍淨天;畜生、餓鬼、阿須輪、四
T 0139c27
天王、忉利天、炎摩天、兜率天、化自在天、他化
T 0139c28
自在天、梵天、光音天眾生命終,來生人間,修
T 0139c29
第三禪道,身壞命終,生遍淨天。由此因緣,
T 0140a01
地獄道盡,畜生、餓鬼、阿須倫、四天王,乃至光
T 0140a02
音天趣皆盡。當於爾時,先地獄盡,然後畜生
T 0140a03
盡;畜生盡已,餓鬼盡;餓鬼盡已,阿須倫盡;阿
T 0140a04
須倫盡已,四天王盡;四天王盡已,忉利天盡;
T 0140a05
忉利天盡已,炎摩天盡;炎摩天盡已,兜率天
T 0140a06
盡;兜率天盡已,化自在天盡;化自在天盡已,
T 0140a07
他化自在天盡;他化自在天盡已,梵天盡;梵
T 0140a08
天盡已,光音天盡;光音天盡已,然後人盡無
T 0140a09
餘。人盡無餘已,此世間敗壞,乃成為災。
「其後
T 0140a10
久久,有大黑雲暴起,上至遍淨天,周遍大
T 0140a11
雨,純雨熱水,其水沸湧,煎熬天上,諸天宮
T 0140a12
殿皆悉消盡,無有遺餘。猶如酥油置於火
T 0140a13
中,煎熬消盡,無有遺餘,光音天宮亦復如
T 0140a14
是。以此可知,一切行無常,為變易法,不可
T 0140a15
恃怙,有為諸法,甚可厭患,當求度世解脫
T 0140a16
之道。
「其後此雨復浸梵迦夷天宮,煎熬消盡,
T 0140a17
無有遺餘。猶如酥油置於火中,無有遺
T 0140a18
餘,梵迦夷宮亦復如是。其後此雨復浸他
T 0140a19
化自在天、化自在天、兜率天、炎摩天宮,煎熬
T 0140a20
消盡,無有遺餘。猶如酥油置於火中,無
T 0140a21
有遺餘,彼諸天宮亦復如是。其後此雨復浸
T 0140a22
四天下及八萬天下諸山、大山、須彌山王,煎熬
T 0140a23
消盡,無有遺餘。猶如酥油置於火中,煎熬
T 0140a24
消盡,無有遺餘,彼亦如是。是故當知,一切行
T 0140a25
無常,為變易法,不可恃怙,凡諸有為甚可
T 0140a26
厭患,當求度世解脫之道。其後此水煎熬
T 0140a27
大地,盡無餘已,地下水盡,水下風盡。是故當
T 0140a28
知,一切行無常,為變易法,不可恃怙,凡諸
T 0140a29
有為甚可厭患,當求度世解脫之道。」
佛告
T 0140b01
比丘:「遍淨天宮煎熬消盡。誰當信者?獨有
T 0140b02
見者,乃能知耳。梵迦夷宮煎熬消盡,乃至地
T 0140b03
下水盡,水下風盡。誰當信者?獨有見者,乃
T 0140b04
當知耳。是為水災。
「云何水災還復?其後久
T 0140b05
久,有大黑雲充滿虛空,至遍淨天,周遍降
T 0140b06
雨,渧如車輪,如是無數百千萬歲,其水漸
T 0140b07
長,至遍淨天。有四大風,持此水住。何等為
T 0140b08
四?一名住風,二名持風,三名不動,四名堅
T 0140b09
固。其後此水稍減無數百千由旬,四面有大
T 0140b10
風起,名曰僧伽,吹水令動,鼓蕩濤波,起沫
T 0140b11
積聚,風吹離水,在虛空中,自然變成光音
T 0140b12
天宮,七寶校飾,由此因緣有光音天宮。其
T 0140b13
水轉減無數百千由旬,彼僧伽風吹水令動,
T 0140b14
鼓蕩濤波,起沫積聚,風吹離水,在虛空中,
T 0140b15
自然變成梵迦夷天宮,七寶校飾;如是乃至
T 0140b16
海水一味鹹苦,亦如火災復時。是為水災。」
佛
T 0140b17
告比丘:「云何為風災?風災起時,此世間人皆
T 0140b18
奉正法,正見,不邪見,修十善業,修善行時,
T 0140b19
時,有人得清淨護念第四禪,於虛空中住
T 0140b20
聖人道、天道、梵道,高聲唱言:『諸賢!護念清淨
T 0140b21
第四禪樂,護念清淨第四禪樂。』時,此世人聞
T 0140b22
其聲已,仰語彼言:『善哉!善哉!願為我說護
T 0140b23
念清淨第四禪道。』時,空中人聞此語已,即為
T 0140b24
說第四禪道,此世間人聞其說已,即修第
T 0140b25
四禪道,身壞命終,生果實天。
「爾時,地獄眾生
T 0140b26
罪畢命終,來生人間,復修第四禪,身壞命終,
T 0140b27
生果實天;畜生、餓鬼、阿須倫、四天王乃至遍
T 0140b28
淨天眾生命終,來生人間,修第四禪,身壞
T 0140b29
命終,生果實天。由此因緣,地獄道盡,畜生、
T 0140c01
餓鬼、阿須倫、四天王,乃至遍淨天趣皆盡。爾
T 0140c02
時,地獄先盡,然後畜生盡;畜生盡已,餓鬼盡;
T 0140c03
餓鬼盡已,阿須倫盡;阿須倫盡已,四天王盡;
T 0140c04
四天王盡已,如是展轉至遍淨天盡;遍淨天
T 0140c05
盡已,然後人盡無餘。人盡無餘已,此世間敗
T 0140c06
壞,乃成為災。其後久久,有大風起,名曰大
T 0140c07
僧伽,乃至果實天,其風四布,吹遍淨天宮、光
T 0140c08
音天宮,使宮宮相拍,碎若粉塵。猶如力士
T 0140c09
執二銅杵,杵杵相拍,碎盡無餘,二宮相拍
T 0140c10
亦復如是。以是當知,一切行無常,為變易
T 0140c11
法,不可恃怙,凡諸有為甚可厭患,當求度
T 0140c12
世解脫之道。
「其後此風吹梵迦夷天宮、他化
T 0140c13
自在天宮,宮宮相拍,碎如粉塵,無有遺餘。
T 0140c14
猶如力士執二銅杵,杵杵相拍,碎盡無餘,
T 0140c15
二宮相拍亦復如是。以是當知,一切行無
T 0140c16
常,為變易法,不可恃怙,凡諸有為甚可厭
T 0140c17
患,當求度世解脫之道。其後此風吹化自
T 0140c18
在天宮、兜率天宮、炎摩天宮,宮宮相拍,碎若
T 0140c19
粉塵,無有遺餘。猶如力士執二銅杵,杵
T 0140c20
杵相拍,碎盡無餘,彼宮如是碎盡無餘。以
T 0140c21
是當知,一切行無常,為變易法,不可恃怙,
T 0140c22
凡諸有為甚可厭患,當求度世解脫之道。
T 0140c23
「其後此風吹四天下及八萬天下諸山、大山、
T 0140c24
須彌山王置於虛空,高百千由旬,山山相拍,
T 0140c25
碎若粉塵。猶如力士手執輕糠散於空中,
T 0140c26
彼四天下、須彌諸山碎盡分散,亦復如是。以
T 0140c27
是可知,一切行無常,為變易法,不可恃怙,
T 0140c28
凡諸有為甚可厭患,當求度世解脫之道。
T 0140c29
其後風吹大地盡,地下水盡,水下風盡。是故
T 0141a01
當知,一切行無常,為變易法,不可恃怙,凡
T 0141a02
諸有為甚可厭患,當求度世解脫之道。」
佛
T 0141a03
告比丘:「遍淨天宮、光音天宮,宮宮相拍,碎若
T 0141a04
粉塵。誰當信者?獨有見者,乃能知耳。如是
T 0141a05
乃至地下水盡,水下風盡。誰能信者?獨有見
T 0141a06
者,乃能信耳。是為風災。
「云何風災還復?其
T 0141a07
後久久,有大黑雲周遍虛空,至果實天,而
T 0141a08
降大雨,渧如車輪,霖雨無數百千萬歲,
T 0141a09
其水漸長,至果實天。時,有四風持此水住。
T 0141a10
何等為四?一名住風,二名持風,三名不動,
T 0141a11
四名堅固。其後此水漸漸稍減無數百千由
T 0141a12
旬,其水四面有大風起,名曰僧伽,吹水令
T 0141a13
動,鼓蕩濤波,起沫積聚,風吹離水,在於空
T 0141a14
中自然變成遍淨天宮,雜色參間,七寶所成,
T 0141a15
以此因緣有遍淨天宮。其水轉減無數百千
T 0141a16
由旬,彼僧伽風吹水令動,鼓蕩濤波,起沫
T 0141a17
積聚,風吹離水,在於空中自然變成光音
T 0141a18
天宮,雜色參間,七寶所成;乃至海水一味鹹
T 0141a19
苦,亦如火災復時。是為風災。是為三災,是
T 0141a20
為三復。」
T 0141a21
佛說長阿含第四分世記經戰鬪品第十
T 0141a22
佛告比丘:「昔者,諸天與阿須倫共鬪。時,釋
T 0141a23
提桓因命忉利諸天而告之曰:『汝等今往
T 0141a24
與彼共戰,若得勝者,捉毘摩質多羅阿須
T 0141a25
倫,以五繫繫縛,將詣善法講堂,吾欲觀之。』
T 0141a26
時,忉利諸天受帝釋教已,各自莊嚴。時,毘摩
T 0141a27
質多羅阿須倫命諸阿須倫而告之曰:『汝
T 0141a28
等今往與彼共戰,若得勝者,捉釋提桓因,
T 0141a29
以五繫繫縛,將詣七葉講堂,吾欲觀之。』時,
T 0141b01
諸阿須倫受毘摩質多阿須倫教已,各自莊
T 0141b02
嚴。
「於是,諸天、阿須倫眾遂共戰鬪,諸天得
T 0141b03
勝,阿須倫退。時,忉利諸天捉阿須倫王,以
T 0141b04
五繫繫縛,將詣善法堂所,示天帝釋。時,阿
T 0141b05
須倫王見天上快樂,生慕樂心,即自念言:
T 0141b06
『此處殊勝,即可居止,用復還歸阿須倫宮
T 0141b07
為?』發此念時,五繫即得解,五樂在前。若阿
T 0141b08
須倫生念欲還詣本宮殿,五繫還縛,五樂自
T 0141b09
去。時,阿須倫所被繫縛,轉更牢固。魔所繫
T 0141b10
縛復過於是,計吾我人為魔所縛,不計
T 0141b11
吾我人魔縛得解,愛我為縛,愛愛為縛,
T 0141b12
我當有為縛,我當無為縛,有色為縛,無色
T 0141b13
為縛,有色無色為縛,我有想為縛,無想為
T 0141b14
縛,有想無想為縛,我為大患、為癰、為刺。
T 0141b15
是故,賢聖弟子知我為大患、為癰、為刺,
T 0141b16
捨吾我想,修無我行,觀彼我為重擔、
T 0141b17
為放逸、為有。當有我是有為,當有無
T 0141b18
我是有為,有色是有為,無色是有為,有色無
T 0141b19
色是有為,有想是有為,無想是有為,有想
T 0141b20
無想是有為,有為為大患、為
刺
、為瘡。是
T 0141b21
故,賢聖弟子知有為為大患、為
刺
、為瘡
T 0141b22
故,捨有為,為無為行。」
佛告比丘:「昔者,諸天
T 0141b23
子與阿須倫共鬪。時,釋提桓因命忉利
T 0141b24
天而告之曰:『汝等今往與阿須倫共鬪,
T 0141b25
若得勝者,捉毘摩質多羅阿須倫,以五
T 0141b26
繫繫縛,將詣善法講堂,吾欲觀之。』時,忉
T 0141b27
利諸天受帝釋教已,各即自莊嚴。時,毘摩
T 0141b28
質多阿須倫復命諸阿須倫而告之曰:『汝
T 0141b29
等今往與彼共戰,若得勝者,捉釋提桓因,
T 0141c01
以五繫繫縛,將詣七葉講堂,吾欲觀之。』時,
T 0141c02
諸阿須倫受毘摩質多阿須倫教已,各自莊
T 0141c03
嚴。於是,諸天、阿須倫眾遂共戰鬪,諸天得勝,
T 0141c04
阿須倫退。忉利諸天捉阿須倫,以五繫繫
T 0141c05
縛,將詣善法堂所,示天帝釋。彷徉遊善
T 0141c06
法堂上,阿須倫王遙見帝釋,於五繫中惡
T 0141c07
口罵詈。時,天帝侍者於天帝前,即說偈言:
T 0141c08
「『天帝何恐怖, 自現己劣弱,
T 0141c09
須質面毀呰, 默聽其惡言。』
T 0141c10
「時,天帝釋即復以偈答侍者曰:
T 0141c11
「『彼亦無大力, 我亦不恐畏,
T 0141c12
如何大智士, 與彼無智諍。』
T 0141c13
「爾時,侍者復作偈頌白帝釋言:
T 0141c14
「『今不折愚者, 恐後轉難忍,
T 0141c15
宜加以杖捶, 使愚自改過。』
T 0141c16
「時,天帝釋復作偈頌答侍者曰:
T 0141c17
「『我常言智者, 不應與愚諍,
T 0141c18
愚罵而智默, 即為信勝彼。』
T 0141c19
「爾時,侍者復作偈頌白帝釋言:
T 0141c20
「『天王所以默, 恐損智者行,
T 0141c21
而彼愚騃人, 謂王懷怖畏。
T 0141c22
愚不自忖量, 謂可與王敵,
T 0141c23
沒死來觸突, 欲王如牛退。』
T 0141c24
「時,天帝釋復作偈頌答侍者曰:
T 0141c25
「『彼愚無知見, 謂我懷恐怖,
T 0141c26
我觀第一義, 忍默為最上。
T 0141c27
惡中之惡者, 於瞋復生瞋,
T 0141c28
能於瞋不瞋, 為戰中最上。
T 0141c29
夫人有二緣, 為己亦為他,
T 0142a01
眾人諍有訟, 不報者為勝。
T 0142a02
夫人有二緣, 為己亦為他,
T 0142a03
見無諍訟者, 乃謂為愚騃。
T 0142a04
若人有大力, 能忍無力者,
T 0142a05
此力為第一, 於忍中最上。
T 0142a06
愚自謂有力, 此力非為力,
T 0142a07
如法忍力者, 此力不可沮。』」
T 0142a08
佛告比丘:「爾時,天帝釋豈異人乎?勿造斯
T 0142a09
觀。時,天帝釋即我身是也。我於爾時,修習
T 0142a10
忍辱,不行卒暴,常亦稱讚能忍辱者。若有
T 0142a11
智之人欲弘吾道者,當修忍默,勿懷忿
T 0142a12
諍。」
佛告比丘:「昔者,忉利諸天與阿須倫共
T 0142a13
鬪。時,釋提桓因語質多阿須倫言:『卿等何為
T 0142a14
嚴飾兵仗,懷怒害心,共戰諍為?今當共汝
T 0142a15
講論道義,知有勝負。』彼質多阿須倫語
T 0142a16
帝釋言:『正使捨諸兵仗,止於諍訟論義者,
T 0142a17
誰知勝負?』帝釋教言:『但共論議,今汝眾中、我
T 0142a18
天眾中,自有智慧知勝負者。』時,阿須倫語
T 0142a19
帝釋言:『汝先說偈。』帝釋報言:『汝是舊天,汝
T 0142a20
應先說。』爾時,質多阿須倫即為帝釋而作
T 0142a21
頌曰:
T 0142a22
「『今不折愚者, 恐後轉難忍,
T 0142a23
宜加以杖捶, 使愚自改過。』
T 0142a24
「時,阿須倫說此偈已,阿須倫眾即大歡喜,高
T 0142a25
聲稱善;唯諸天眾默然無言。時,阿須倫王語
T 0142a26
帝釋言:『汝次說偈。』爾時,帝釋即為阿須倫
T 0142a27
而說偈言:
T 0142a28
「『我常言智者, 不應與愚諍,
T 0142a29
愚罵而智默, 即為勝彼愚。』
T 0142b01
「時,天帝釋說此偈已,忉利諸天皆大歡喜,舉
T 0142b02
聲稱善;時,阿須倫眾默然無言。爾時,天帝
T 0142b03
語阿須倫言:『汝次說偈。』時,阿須倫復說偈
T 0142b04
言:
T 0142b05
「『天王所以默, 恐損智者行,
T 0142b06
而彼愚騃人, 謂王懷怖畏。
T 0142b07
愚不自忖量, 謂可與王敵,
T 0142b08
沒死來觸突, 欲王如牛退。』
T 0142b09
「時,阿須倫王說此偈已,阿須倫眾踊躍歡喜,
T 0142b10
舉聲稱善;時,忉利天眾默然無言。時,阿須倫
T 0142b11
王語帝釋言:『汝次說偈。』時,天帝釋為阿須
T 0142b12
倫而說偈言:
T 0142b13
「『彼愚無知見, 謂我懷恐畏,
T 0142b14
我觀第一義, 忍默為最上。
T 0142b15
惡中之惡者, 於瞋復生瞋,
T 0142b16
能於瞋不瞋, 為戰中最勝。
T 0142b17
夫人有二緣, 為己亦為他,
T 0142b18
眾人為諍訟, 不報者為勝。
T 0142b19
夫人有二緣, 為己亦為他,
T 0142b20
見無諍訟者, 不謂為愚騃。
T 0142b21
若人有大力, 能忍無力者,
T 0142b22
此力為第一, 於忍中最上。
T 0142b23
愚自謂有力, 此力非為力,
T 0142b24
如法忍力者, 此力不可沮。』
T 0142b25
「釋提桓因說此偈已,忉利天眾踊躍歡喜,舉
T 0142b26
聲稱善;阿須倫眾默然無言。時,天眾、阿須
T 0142b27
倫眾各小退却,自相謂言:『阿須倫王所說偈
T 0142b28
頌,有所觸犯,起刀劍讐,生鬪訟根,長諸怨
T 0142b29
結,樹三有本。天帝釋所說偈者,無所觸嬈,
T 0142c01
不起刀劍,不生鬪訟,不長怨結,絕三有
T 0142c02
本。天帝所說為善,阿須倫所說不善。諸天
T 0142c03
為勝,阿須倫負。』」
佛告比丘:「爾時,釋提桓因
T 0142c04
豈異人乎?勿造斯觀。所以者何?即我身是。
T 0142c05
我於爾時,以柔濡言,勝阿須倫眾。」
佛告
T 0142c06
比丘:「昔者,諸天復與阿須倫共鬪。時,阿須倫
T 0142c07
勝,諸天不如。時,釋提桓因乘千輻寶車怖
T 0142c08
懼而走,中路見晱婆羅樹上有一巢,巢有
T 0142c09
兩子,即以偈頌告御者言,頌曰:
T 0142c10
「『此樹有二鳥, 汝當迴車避,
T 0142c11
正使賊害我, 勿傷二鳥命。』
T 0142c12
「爾時,御者聞帝釋偈已,尋便住車迴避鳥。
T 0142c13
爾時,車頭向阿須倫,阿須倫眾遙見寶車
T 0142c14
迴向,其軍即相謂言:『今天帝釋乘千輻寶車
T 0142c15
迴向我眾,必欲還鬪,不可當也。』阿須倫眾
T 0142c16
即便退散,諸天得勝,阿須倫退。」
佛告比丘:
T 0142c17
「爾時,帝釋者豈異人乎?勿造斯觀。所以者
T 0142c18
何?即我身是也。我於爾時,於諸眾生起慈
T 0142c19
愍心。諸比丘!汝等於我法中出家修道,宜
T 0142c20
起慈心,哀愍黎庶。」
T 0142c21
佛告比丘:「昔者,諸天與阿須倫共鬪。」爾時,
T 0142c22
諸天得勝,阿須倫退。時,天帝釋戰勝還宮,
T 0142c23
更造一堂,名曰最勝,東西長百由旬,南北廣
T 0142c24
六十由旬。其堂百間,間間有七交露臺,一一
T 0142c25
臺上有七玉女,一一玉女有七使人。釋提桓
T 0142c26
因亦不憂供給諸玉女衣被、飲食、莊嚴之
T 0142c27
具,隨本所造,自受其福,以戰勝阿須倫,
T 0142c28
因歡喜心而造此堂,故名最勝堂。又千世
T 0142c29
界中所有堂觀無及此堂,故名最勝。
佛告
T 0143a01
比丘:「昔者,阿須倫自生念言:『我有大威德,
T 0143a02
神力不少,而忉利天、日月諸天常在虛空,
T 0143a03
於我頂上遊行自在,今我寧可取彼日月
T 0143a04
以為耳璫,自在遊行耶?』時,阿須倫王瞋恚熾
T 0143a05
盛,即念捶打阿須倫,捶打阿須倫即復念言:
T 0143a06
『今阿須倫王念我,我等當速莊嚴。』即勅左
T 0143a07
右備具兵仗,駕乘寶車,與無數阿須倫眾
T 0143a08
前後導從,詣阿須倫王前,於一面立。時,王
T 0143a09
復念舍摩梨阿須倫,舍摩梨阿須倫復自
T 0143a10
念言:『今王念我,我等宜速莊嚴。』即勅左右
T 0143a11
備具兵仗,駕乘寶車,與無數阿須倫眾前
T 0143a12
後導從,詣阿須倫王前,在一面立。
「時,王復
T 0143a13
念毘摩質多阿須倫,毘摩質多阿須倫復自
T 0143a14
念言:『今王念我,我等宜速莊嚴。』即勅左右
T 0143a15
備具兵仗,駕乘寶車,與無數阿須倫眾前
T 0143a16
後導從,往詣王前,在一面立。時,王復念大
T 0143a17
臣阿須倫,大臣阿須倫即自念言:『今王念我,
T 0143a18
我等宜速莊嚴。』即勅左右備具兵仗,駕乘
T 0143a19
寶車,與無數阿須倫眾前後導從,往詣王
T 0143a20
前,於一面立。時,王復念諸小阿須倫,諸小
T 0143a21
阿須倫復自念言:『今王念我,我等宜速莊
T 0143a22
嚴。』即自莊嚴,備具兵仗,與無數眾相隨,往
T 0143a23
詣王前,於一面立。時,羅呵阿須倫王即自莊
T 0143a24
嚴,身著寶鎧,駕乘寶車,與無數百千阿須
T 0143a25
倫眾兵仗嚴事,前後圍遶出其境界,欲往
T 0143a26
與諸天共鬪。」
「爾時,難陀龍王、跋難陀龍王
T 0143a27
以身纏遶須彌山七匝,震動山谷,薄布微
T 0143a28
雲,渧渧稍雨,以尾打大海水,海水波涌,至
T 0143a29
須彌山頂。時,忉利天即生念言:『今薄雲微布,
T 0143b01
渧渧稍雨,海水波涌,乃來至此。將是阿須
T 0143b02
倫欲來戰鬪,故有此異瑞耳。』
「爾時,海中諸
T 0143b03
龍兵眾無數巨億,皆持戈鉾、弓矢、刀劍,重
T 0143b04
被寶鎧,器仗嚴整,逆與阿須倫共戰,若龍
T 0143b05
眾勝時,即逐阿須倫入其宮殿。若龍眾退,龍
T 0143b06
不還宮,即
[馬*奔]
趣伽樓羅鬼神所,而告之曰:
T 0143b07
『阿須倫眾欲與諸天共戰,我往逆鬪,彼今
T 0143b08
得勝;汝等當備諸兵仗,眾共併力,與彼共
T 0143b09
戰。』時,諸鬼神聞龍語已,即自莊嚴,備諸兵
T 0143b10
仗,重被寶鎧,與諸龍眾共阿須倫鬪,得
T 0143b11
勝時,即逐阿須倫入其宮殿。若不如時,不
T 0143b12
還本宮,即退走
[馬*奔]
持華鬼神界,而告之言:
T 0143b13
『阿須倫眾欲與諸天共鬪,我等逆戰,彼今
T 0143b14
得勝;汝等當備諸兵仗,眾共併力,與彼共
T 0143b15
戰。』
「諸持華鬼神聞龍語已,即自莊嚴,備諸
T 0143b16
兵仗,重被寶鎧,眾共併力,與阿須倫鬪,若
T 0143b17
得勝時,即逐阿須倫入其宮殿。若不如時,
T 0143b18
不還本宮,即退走
[馬*奔]
常樂鬼神界,而告之
T 0143b19
言:『阿須倫眾欲與諸天共鬪,我等逆戰,彼
T 0143b20
今得勝;汝等當備諸兵仗,與我併力,共
T 0143b21
彼戰鬪。』時,諸常樂鬼神聞是語已,即自莊嚴,
T 0143b22
備諸兵仗,重被寶鎧,眾共併力,與阿須倫
T 0143b23
鬪,若得勝時,即逐阿須倫入其宮殿。若不
T 0143b24
如時,不還本宮,即退走
[馬*奔]
四天王,而告之
T 0143b25
曰:『阿須倫眾欲與諸天共鬪,我等逆戰,彼
T 0143b26
今得勝;汝等當備諸兵仗,眾共併力,與彼
T 0143b27
共戰。』
「時,四天王聞此語已,即自莊嚴,備諸兵
T 0143b28
仗,重被寶鎧,眾共併力,與阿須倫共鬪,若
T 0143b29
得勝時,即逐阿須倫入其宮殿。若不如者,
T 0143c01
四天王即詣善法講堂,白天帝釋及忉利諸
T 0143c02
天言:『阿須倫欲與諸天共鬪,今忉利諸天
T 0143c03
當自莊嚴,備諸兵仗,眾共併力,往共彼戰。』
T 0143c04
時,天帝釋命一侍天而告之曰:『汝持我聲
T 0143c05
往告焰摩天、兜率天、化自在天、他化自在天
T 0143c06
子言:「阿須倫與無數眾欲來戰鬪,今者諸
T 0143c07
天當自莊嚴,備諸兵仗,助我鬪戰。」』時,彼侍
T 0143c08
天受帝教已,即詣焰摩天,乃至他化自在
T 0143c09
天,持天帝釋聲而告之曰:『彼阿須倫
無數
T 0143c10
眾來戰鬪,今者諸天當自莊嚴,備諸兵仗,
T 0143c11
助我戰鬪。』
「時,焰摩天子聞此語已,即自莊
T 0143c12
嚴,備諸兵仗,重被寶鎧,駕乘寶車,與無數
T 0143c13
巨億百千天眾前後圍遶,在須彌山東面住。
T 0143c14
時,兜率天子聞此語已,即自莊嚴,備諸兵仗,
T 0143c15
重被寶鎧,駕乘寶車,與無
數
巨億百千天
T 0143c16
眾圍遶,在須彌山南面住。時,化自在天子
T 0143c17
聞此語已,亦嚴兵眾,在須彌山西面住。時,
T 0143c18
他化自在天子聞此語已,亦嚴兵眾,在須
T 0143c19
彌山北住。
「時,天帝釋即念三十三天忉利天,
T 0143c20
三十三天忉利天即自念言:『今帝釋念我,
T 0143c21
我等宜速莊嚴。』即勅左右備諸兵仗,駕乘
T 0143c22
寶車,與無數巨億諸天眾前後圍遶,詣天
T 0143c23
帝釋前,於一面立。時,天帝釋復念餘忉利
T 0143c24
諸天,餘忉利諸天即自念言:『今帝釋念我,我
T 0143c25
等宜速莊嚴。』即勅左右備諸兵仗,駕乘寶
T 0143c26
車,與無數巨億諸天眾前後圍遶,詣帝釋
T 0143c27
前,於一面立。時,帝釋復念妙匠鬼神,妙匠鬼
T 0143c28
神即自念言:『今帝釋念我,我宜速莊嚴。』即
T 0143c29
勅左右備諸兵仗,駕乘寶車,無數千眾前
T 0144a01
後圍遶,詣帝釋前立。時,帝釋復念善住龍
T 0144a02
王,善住龍王即自念言:『今天帝釋念我,我
T 0144a03
今宜往。』即詣帝釋前立。
「時,帝釋即自莊嚴,
T 0144a04
備諸兵仗,身被寶鎧,乘善住龍王頂上,與
T 0144a05
無數諸天鬼神前後圍遶,自出天宮與阿須
T 0144a06
倫往鬪。所謂嚴兵仗、刀劍、鉾矟、弓矢、
斲
T 0144a07
釿、
鉞
斧、旋輪、羂索,兵仗鎧器,以七寶成,復以
T 0144a08
鋒刃加阿須倫身,其身不傷,但刃觸而已。
T 0144a09
阿須倫眾執持七寶刀劍、鉾矟、弓矢、
斲
釿、
T 0144a10
鉞斧、旋輪、羂索,以鋒刃加諸天身,但觸而
T 0144a11
已,不能傷損。如是欲行諸天共阿須倫鬪,
T 0144a12
欲因欲是。」
T 0144a13
佛說長阿含經卷第二十一
第四分世記經三中劫品第十一
T 0144a19
佛說長阿含經卷第二十二
T 0144a16
T 0144a17
後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯
T 0144a18
佛告比丘:「有三中劫。何等為三?一名刀兵
T 0144a20
劫,二名穀貴劫,三名疾疫劫。云何為刀兵
T 0144a21
劫?此世間人本壽四萬歲,其後稍減壽二萬
T 0144a22
歲,其後復減壽萬歲,轉壽千歲,轉壽五百歲,
T 0144a23
轉壽三百歲、二百歲,如今人壽於百歲少
T 0144a24
出多減;其後人壽稍減,當壽十歲,是時女
T 0144a25
人生五月行嫁。時,世間所有美味,酥油、蜜、
T 0144a26
石蜜、黑石蜜,諸有美味皆悉自然消滅,五穀
T 0144a27
不生,唯有稊稗。是時,有上服錦綾、繒絹、劫貝、
T 0144a28
芻摩皆無復有,唯有麤織草衣。爾時,此地
T 0144a29
純生荊棘、蚊虻、蜂蝎、蚖蛇、毒虫,金銀、琉璃、七
T 0144b01
寶珠玉自然沒地,唯有石沙穢惡充滿。是
T 0144b02
時,眾生但增十惡,不復聞有十善之名,乃
T 0144b03
無善名,況有行善者?爾時,人有不孝父母,
T 0144b04
不敬師長,能為惡者,則得供養,人所敬待,
T 0144b05
如今人孝順父母,敬事師長,能為善者,則
T 0144b06
得供養,人所敬待。彼人為惡,便得供養,
T 0144b07
亦復如是。時人命終墮畜生中,猶如今人
T 0144b08
得生天上。時,人相見懷毒害心,但欲相殺。
T 0144b09
猶如獵師見彼群鹿,但欲殺之,無一善念。
T 0144b10
其人如是,但欲相殺,無一善念。爾時,此地
T 0144b11
溝
澗
、溪谷、山陵、塠阜,無一平地,時,人
行
來恐怖
T 0144b12
惶懼,衣毛為竪。
「時,七日中有刀劍劫起,時,人
T 0144b13
手執草木、瓦石,皆變成刀劍,刀劍鋒利,所
T 0144b14
擬皆斷,展轉相害。其中有
黠
慧者見刀兵相
T 0144b15
害,恐怖逃避,入山林、坑
澗
無人之處,七日藏
T 0144b16
避,心口自言:『我不害人,人勿害我。』其人於
T 0144b17
七日中,食草木根,以自存活,過七日已,還
T 0144b18
出山林。時,有一人得共相見,歡喜而言:『今
T 0144b19
見生人,今見生人。』猶如父母與一子別,久
T 0144b20
乃相見,歡喜踊躍,不能自勝。彼亦如是,歡
T 0144b21
喜踊躍,不能自勝。是時,人民於七日中,哭
T 0144b22
泣相向,復於七日中,共相娛樂,歡喜慶賀。時
T 0144b23
人身壞命終,皆墮地獄中。所以者何?斯由
T 0144b24
其人常懷瞋怒,害心相向,無慈仁故,是
T 0144b25
為刀兵劫。」
T 0144b26
佛告比丘:「云何為飢餓劫?爾時,人民多行
T 0144b27
非法,邪見顛倒,為十惡業,以行惡故,天不
T 0144b28
降雨,百草枯死,五穀不成,但有莖稈。云何
T 0144b29
為飢餓?爾時,人民收掃田里、街巷、道陌、糞土
T 0144c01
遺穀,以自存活,是為飢餓。復次,飢餓時,其
T 0144c02
人於街巷、市里、屠殺之處及丘塚間,拾諸骸
T 0144c03
骨,煮汁飲之,以此自存,是為白骨飢餓。
T 0144c04
復次,飢餓劫時,所種五穀盡變成草木,時,人
T 0144c05
取華煮汁而飲。復次,飢餓時,草木華落,覆在
T 0144c06
土下,時,人掘地取華煮食,以是自存,是為
T 0144c07
草木飢餓。爾時,眾生身壞命終,墮餓鬼中。所
T 0144c08
以者何?斯由其人於飢餓劫中,常懷慳貪,
T 0144c09
無施惠心,不肯分割,不念厄人故也,是
T 0144c10
為飢餓劫。」
T 0144c11
佛告比丘:「云何為疾疫劫?爾時,世人修行
T 0144c12
正法,正見,不顛倒見,具十善行。他方世界
T 0144c13
有鬼神來,此間鬼神放逸婬亂,不能護人,
T 0144c14
他方鬼神侵嬈此世間人,撾打捶杖,接其精
T 0144c15
氣,使人心亂,驅逼將去。猶如國王勅諸將
T 0144c16
帥有所守護,餘方有賊寇來侵嬈,此放逸
T 0144c17
之人劫於村國。此亦如是,他方世界有鬼
T 0144c18
神來,取此間人,撾打捶杖,接其精氣,驅
T 0144c19
逼將去。」
佛告比丘:「正使此間鬼神不放逸
T 0144c20
婬亂,他方世界有大力鬼神來,此間鬼神
T 0144c21
畏怖避去,彼大鬼神侵嬈此人,撾打捶杖,
T 0144c22
接其精氣,殺之而去。譬如國王、若王大臣,
T 0144c23
遣諸將帥守衛人民,將帥清慎,無有放
T 0144c24
逸;他方有強猛將帥,人兵眾多來破村城,
T 0144c25
掠奪人物。彼亦如是,正使此間鬼神不敢
T 0144c26
放逸,他方世界有大力鬼神來,此間鬼神恐
T 0144c27
怖避去,彼大鬼神侵嬈此人,撾打捶杖,接其
T 0144c28
精氣,殺之而去。時,疾疫劫中人民身壞命終,
T 0144c29
皆生天上。所以者何?斯由時人慈心相向,展
T 0145a01
轉相問:『汝病差不?身安隱不?』以此因緣
T 0145a02
得生天上。是故名為疾疫劫。是為三中劫
T 0145a03
也。」
T 0145a04
佛說長阿含第四分世記經世本緣品第十 二
T 0145a06
佛告比丘:「火災過已,此世天地還欲成時,
T 0145a07
有餘眾生福盡、行盡、命盡,於光音天命終,
T 0145a08
生空梵處,於彼生染著心,愛樂彼處,願餘
T 0145a09
眾生共生彼處。發此念已,有餘眾生福、行、
T 0145a10
命盡,於光音天身壞命終,生空梵處。時,先
T 0145a11
生梵天即自念言:『我是梵王大梵天王,無造
T 0145a12
我者,我自然有,無所承受,於千世界最得
T 0145a13
自在,善諸義趣,富有豐饒,能造化萬物,我
T 0145a14
即是一切眾生父母。』其後來諸梵復自念言:
T 0145a15
『彼先梵天即是梵王大梵天王,彼自然有,無
T 0145a16
造彼者,於千世界最尊第一,無所承受,
T 0145a17
善諸義趣,富有豐饒,能造萬物,是眾生父母,
T 0145a18
我從彼有。』彼梵天王顏貌容狀常如童子,是
T 0145a19
故梵王名曰童子。
「或有是時,此世還成世間,
T 0145a20
眾生多有生光音天者,自然化生,歡喜為
T 0145a21
食,身光自照,神足飛空,安樂無礙,壽命長久。
T 0145a22
其後此世變成大水,周遍彌滿。當於爾時,
T 0145a23
天下大闇,無有日月、星辰、晝夜,亦無歲月、
T 0145a24
四時之數。其後此世還欲變時,有餘眾生
T 0145a25
福盡、行盡、命盡,從光音天命終,來生此間,
T 0145a26
皆悉化生,歡喜為食,身光自照,神足飛空,安
T 0145a27
樂無礙,久住此間。爾時,無有男女、尊卑、上
T 0145a28
下,亦無異名,眾共生世,故名眾生。
「是時,此
T 0145a29
地有自然地味出,凝停於地,猶如醍醐,
T 0145b01
地味出時,亦復如是,猶如生酥,味甜如
T 0145b02
蜜。其後眾生以手試甞知為何味,初甞覺
T 0145b03
好,遂生味著。如是展轉甞之不已,遂生
T 0145b04
貪著,便以手掬,漸成摶食,摶食不已,餘
T 0145b05
眾生見,復效食之,食之不已。時,此眾生身
T 0145b06
體麤澁,光明轉滅,無復神足,不能飛行。爾
T 0145b07
時,未有日月,眾生光滅,是時,天地大闇,如
T 0145b08
前無異。其後久久,有大暴風吹大海水,深
T 0145b09
八萬四千由旬,使令兩披飄,取日宮殿,著
T 0145b10
須彌山半,安日道中,東出西沒,周旋天下。
T 0145b11
「第二日宮從東出西沒,時,眾生有言:『是即
T 0145b12
昨日也。』或言:『非昨也。』第三日宮繞須彌
T 0145b13
山,東出西沒,彼時眾生言:『定是一日。』日者,義
T 0145b14
言是前明因,是故名為日。日有二義:一曰
T 0145b15
住常度,二曰宮殿。
「宮殿四方遠見故圓,寒溫
T 0145b16
和適,天金所成,頗梨間廁,二分天金,純真無
T 0145b17
雜,外內清徹,光明遠照,一分頗梨,純真無
T 0145b18
雜,外內清徹,光明遠照。日宮縱廣五十一
T 0145b19
由旬,宮牆及地薄如梓柏。」
「宮牆七重,七重欄
T 0145b20
楯、七重羅網、七重寶鈴、七重行樹,周匝校飾
T 0145b21
以七寶成,金牆銀門,銀牆金門,琉璃牆水精
T 0145b22
門,水精牆琉璃門,赤珠牆馬碯門,馬碯牆赤
T 0145b23
珠門,車
璩
牆眾寶門,眾寶牆車
璩
門。又其欄
T 0145b24
楯,金欄銀桄,銀欄金桄,琉璃欄水精桄,水精
T 0145b25
欄琉璃桄,赤珠欄馬碯桄,馬碯欄赤珠桄,眾
T 0145b26
寶欄車
璩
桄,車
璩
欄眾寶桄。金網銀鈴,銀
T 0145b27
網金鈴,水精網琉璃鈴,琉璃網水精鈴,赤珠
T 0145b28
網馬碯鈴,馬碯網赤珠鈴,車
璩
網眾寶鈴,眾
T 0145b29
寶網車
璩
鈴。其金樹者銀葉華實,銀樹者金
T 0145c01
葉華實,琉璃樹者水精華實,水精樹者琉璃
T 0145c02
華實,赤珠樹者馬碯華實,馬碯樹者赤珠華
T 0145c03
實,車
璩
樹者眾寶華實,眾寶樹者車
璩
華
T 0145c04
實。宮牆四門,門有七階,周匝欄楯,樓閣臺
T 0145c05
觀、園林浴池,次第相比,生眾寶華,行行相當,
T 0145c06
種種果樹,華葉雜色,樹香芬馥,周流四遠,雜
T 0145c07
類眾鳥相和而鳴。
「其日宮殿為五風所持:
T 0145c08
一曰持風,二曰養風,三曰受風,四曰轉風,
T 0145c09
五曰調風。日天子所止正殿,純金所造,高十
T 0145c10
六由旬,殿有四門,周匝欄楯。日天子座縱
T 0145c11
廣半由旬,七寶所成,清淨柔軟,猶如天衣。日
T 0145c12
天子自身放光照于金殿,金殿光照于日
T 0145c13
宮,日宮光出照四天下。日天子壽天五百
T 0145c14
歲,子孫相承,無有間異。其宮不壞,終于一
T 0145c15
劫。日宮行時,其日天子無有行意,言我行
T 0145c16
住,
常以
五欲自相娛樂。日宮行時,無數百千
T 0145c17
諸大天神在前導從,歡樂無倦,好樂捷疾,
T 0145c18
因是日天子名為捷疾。
「日天子身出千光,
T 0145c19
五百光下照,五百光傍照,斯由宿業功德,故
T 0145c20
有此千光,是故日天子名為千光。宿業功
T 0145c21
德云何?或有一人供養沙門、婆羅門,濟諸
T 0145c22
窮乏,施以飲食、衣服、湯藥、象馬、車乘、房舍、燈
T 0145c23
燭,分布時與,隨其所須,不逆人意,供養持
T 0145c24
戒諸賢聖人。由彼種種無數法喜光明因緣,
T 0145c25
善心歡喜。如剎利王水澆頭種初登王位,善
T 0145c26
心歡喜,亦復如是。以此因緣,身壞命終,為
T 0145c27
日天子,得日宮殿,有千光明,故言善業得
T 0145c28
千光明。
「復以何等故,名為宿業光明?或
T 0145c29
有人不殺生,不盜,不邪婬,不兩舌、惡口、
T 0146a01
妄言、綺語,不貪取,不瞋恚、邪見,以此因緣,
T 0146a02
善心歡喜。猶如四衢道頭有大浴池,清淨無
T 0146a03
穢,有人遠行,疲極熱渴,來入此池,澡浴清涼,
T 0146a04
歡喜愛樂。彼十善者,善心歡喜,亦復如是。
T 0146a05
其人身壞命終,為日天子,居日宮殿,有千
T 0146a06
光明,以是因緣故,名善業光明。
「復以何緣
T 0146a07
名千光明?或有人不殺、不盜、不婬、不欺、不飲
T 0146a08
酒,以此因緣,善心歡喜,身壞命終,為日天
T 0146a09
子,居日宮殿,有千光明,以是因緣故,名善
T 0146a10
業千光明。
「六十念頃名一羅耶,三十羅耶名摩
T 0146a11
睺多,百摩睺多名優波摩。日宮殿六月南行,
T 0146a12
日行三十里,極南不過閻浮提,日北行亦復
T 0146a13
如是。」
「以何緣故日光炎熱?有十因緣。何
T 0146a14
等為十?一者須彌山外有佉陀羅山,高四萬
T 0146a15
二千由旬,頂廣四萬二千由旬,其邊無量,
T 0146a16
七寶所成,日光照山,觸而生熱,是為一緣
T 0146a17
日光炎熱。二者佉陀羅山表有伊沙陀山,高
T 0146a18
二萬一千由旬,縱廣二萬一千由旬,周匝無
T 0146a19
量,七寶所成,日光照山,觸而生熱,是為二
T 0146a20
緣日光炎熱。三者伊沙陀山表有樹提陀
T 0146a21
羅山,上高萬二千由旬,縱廣萬二千由旬,周
T 0146a22
匝無量,七寶所成,日光照山,觸而生熱,是
T 0146a23
為三緣日光炎熱。四者去樹提陀羅山表
T 0146a24
有山名善見,高六千由旬,縱廣六千由旬,
T 0146a25
周匝無量,七寶所成,日光照山,觸而生熱,
T 0146a26
是為四緣日光炎熱。五者善見山表
有
馬
T 0146a27
祀山,高三千由旬,縱廣三千由旬,周匝無量,
T 0146a28
七寶所成,日光照山,觸而生熱,是為五緣
T 0146a29
日光炎熱。六者去馬祀山表有尼彌陀羅
T 0146b01
山,高千二百由旬,縱廣千二百由旬,周匝無
T 0146b02
量,七寶所成,日光照山,觸而生熱,是為六
T 0146b03
緣日光炎熱。七者去尼彌陀羅山表有調
T 0146b04
伏山,高六百由旬,縱廣六百由旬,周匝無量,
T 0146b05
七寶所成,日光照山,觸而生熱,是為七緣
T 0146b06
日光炎熱。八者調伏山表有金剛輪山,高
T 0146b07
三百由旬,縱廣三百由旬,周匝無量,七寶所
T 0146b08
成,日光照山,觸而生熱,是為八緣日光炎
T 0146b09
熱。復次,上萬由旬有天宮殿,名為星宿,
琉
T 0146b10
璃所成,日光照彼,觸而生熱,是為九緣日
T 0146b11
光炎熱。復次,日宮殿光照於大地,觸而生
T 0146b12
熱,是為十緣日光炎熱。」爾時,世尊以偈頌
T 0146b13
曰:
T 0146b14
「以此十因緣, 日名為千光,
T 0146b15
光明炎熾熱, 佛日之所說。」
T 0146b16
佛告比丘:「何故冬日宮殿寒而不可近,有
T 0146b17
光而冷?有十三緣,雖光而冷。云何為十三?
T 0146b18
一者須彌山、佉陀羅山中間有水,廣八萬四
T 0146b19
千由旬,周匝無量,其水生雜華:優鉢羅華、拘
T 0146b20
勿頭、鉢頭摩、分陀利、須乾提華,日光所照,觸
T 0146b21
而生冷,是為一緣日光為冷。二者佉陀羅
T 0146b22
山、伊沙陀羅山中間有水,廣四萬二千由
T 0146b23
旬,縱廣四萬二千由旬,周匝無量,有水生
T 0146b24
諸雜華,日光所照,觸而生冷,是為二緣日
T 0146b25
光為冷。三者伊沙陀羅山去樹提陀羅山中
T 0146b26
間有水,廣二萬一千由旬,周匝無量,生諸
T 0146b27
雜華,日光所照,觸而生冷,是為三緣日光
T 0146b28
為冷。四者善見山、樹提山中間有水,廣萬
T 0146b29
二千由旬,周匝無量,生諸雜華,日光所照,
T 0146c01
觸而生冷,是為四緣日光為冷。五者善見
T 0146c02
山、馬祀山中間有水,廣六千由旬,生諸雜華,
T 0146c03
日光所照,觸而生冷,是為五緣日光為冷。
T 0146c04
六者馬祀山、尼彌陀羅山中間有水,廣千二
T 0146c05
百由旬,周匝無量,生諸雜華,日光所照,觸
T 0146c06
而生冷,是為六緣日光為冷。尼彌陀羅山、
T 0146c07
調伏山中間有水,廣六百由旬,周匝無量,
T 0146c08
生諸雜華,日光所照,觸而生冷,是為七緣
T 0146c09
日光為冷。調伏山、金剛輪山中間有水,廣三
T 0146c10
百由旬,周匝無量,生諸雜華,日光所照,觸
T 0146c11
而生冷,是為八緣日光為冷。復次,此閻浮
T 0146c12
利地大海江河,日光所照,觸而生冷,是為
T 0146c13
九緣日光為冷。閻浮提地河少,拘耶尼地水
T 0146c14
多,日光所照,觸而生冷,是為十緣日光為
T 0146c15
冷。拘耶尼河少,弗于逮水多,日光所照,觸而
T 0146c16
生冷,是為十一緣日光為冷。弗于逮河少,
T 0146c17
欝單曰河多,日光所照,觸而生冷,是為十
T 0146c18
二緣日光為冷。復次,日宮殿光照大海水,
T 0146c19
日光所照,觸而生冷,是為十三緣日光為
T 0146c20
冷。」佛時頌曰:
T 0146c21
「以此十三緣, 日名為千光,
T 0146c22
其光明清冷, 佛日之所說。」
T 0146c23
佛告比丘:「月宮殿有時損質盈虧,光明損
T 0146c24
減,是故月宮名之為損。月有二義:一曰住
T 0146c25
常度,二曰宮殿。四方遠見故圓,寒溫和適,
T 0146c26
天銀、琉璃所成,二分天銀,純真無雜,內外清
T 0146c27
徹,光明遠照,一分琉璃,純真無雜,外內清徹,
T 0146c28
光明遠照。月宮殿縱廣四十九由旬,宮牆及
T 0146c29
地薄如梓柏,宮牆七重,七重欄楯、七重羅網、
T 0147a01
七重寶鈴、七重行樹,周匝校飾以七寶成,
T 0147a02
乃至無數眾鳥相和而鳴。
「其月宮殿為五
T 0147a03
風所持:一曰持風,二曰養風,三曰受風,
T 0147a04
四曰轉風,五曰調風。月天子所止正殿,琉璃
T 0147a05
所造,高十六由旬,殿有四門,周匝欄楯。月
T 0147a06
天子座縱廣半由旬,七寶所成,清淨柔軟,
T 0147a07
猶如天衣。月天子身放光明,照琉璃殿,琉
T 0147a08
璃殿光照于月宮,月宮光出照四天下。月天
T 0147a09
子壽天五百歲,子孫相承,無有異系。其宮
T 0147a10
不壞,終于一劫。月宮行時,其月天子無有
T 0147a11
行意,言我行住,常以五欲自相娛樂。月宮
T 0147a12
行時,無數百千諸大天神常在前導,好樂
T 0147a13
無倦,好樂捷疾,因是月天名為捷疾。
「月天
T 0147a14
子身出千光明,五百光下照,五百光傍照,斯
T 0147a15
由宿業功德故有此光明,是故月天子名
T 0147a16
曰千光。宿業功德云何?世間有人供養沙
T 0147a17
門、婆羅門,施諸窮乏飲食、衣服、湯藥、象馬、車
T 0147a18
乘、房舍、燈燭,分布時與,隨意所須,不逆人
T 0147a19
意,供養持戒諸賢聖人。猶是種種無數法
T 0147a20
喜,善心光明。如剎利王水澆頭種初登王位,
T 0147a21
善心歡喜,亦復如是。以是因緣,身壞命終,
T 0147a22
為月天子,月宮殿有千光明,故言善業得
T 0147a23
千光明。
「復以何業得千光明?世間有人不
T 0147a24
殺,不盜,不邪婬,不兩舌、惡口、妄言、綺語,不貪
T 0147a25
取、瞋恚、邪見,以此因緣,善心歡喜。猶如四
T 0147a26
衢道頭有大浴池清淨無穢,有人遠行,疲極
T 0147a27
熱渴,來入此池,澡浴清涼,歡喜快樂。彼行
T 0147a28
十善者,善心歡喜,亦復如是。其人身壞命終,
T 0147a29
為月天子,居月宮殿,有千光明,以是因緣
T 0147b01
故,名善業千光。
「復以何因緣得千光明?
T 0147b02
世間有人不殺、不盜、不婬、不欺、不飲酒,以此
T 0147b03
因緣,善心歡喜。身壞命終,為月天子,居月
T 0147b04
宮殿,有千光明,以是因緣故,名善業千光。
T 0147b05
六十念頃名一羅耶,三十羅耶名摩睺多,百
T 0147b06
摩睺多名優婆摩。若日宮殿六月南行,日
T 0147b07
行三十里,極南不過閻浮提,是時,月宮殿
T 0147b08
半歲南行,不過閻浮提;月北行亦復如是。
T 0147b09
「以何緣故月宮殿小小損減?有三因緣故
T 0147b10
月宮殿小小損減:一者月出於維,是為一
T 0147b11
緣故月損減。復次,月宮殿內有諸大臣身
T 0147b12
著青服,隨次而上,住處則青,是故月減,是
T 0147b13
為二緣月日日減。復次,日宮有六十光,光
T 0147b14
照於月宮,映使不現,是故所映之處月則
T 0147b15
損減。是為三緣月光損減。
「復以何緣月光
T 0147b16
漸滿?復有三因緣使月光漸滿。何等為
T 0147b17
三?一者月向正方,是故月光滿。二者月宮諸
T 0147b18
臣盡著青衣,彼月天子以十五日處中而
T 0147b19
坐,共相娛樂,光明遍照,遏諸天光,故光普
T 0147b20
滿。猶如眾燈燭中燃大炬火,遏諸燈明。彼
T 0147b21
月天子亦復如是,以十五日在天眾中,
T 0147b22
遏絕眾明,其光獨照,亦復如是,是為二因
T 0147b23
緣。三者日天子雖有六十光照於月宮,十
T 0147b24
五日時月天子能以光明逆照,使不掩翳,
T 0147b25
是為三因緣月宮團滿無有損減。復以
T 0147b26
何緣月有黑影?以閻浮樹影在於月中,故
T 0147b27
月有影。」
T 0147b28
佛告比丘:「心當如月,清涼無熱,至檀越
T 0147b29
家,專念不亂。復以何緣有諸江河?因日
T 0147c01
月有熱,因熱有炙,因炙有汗,因汗成江
T 0147c02
河,故世間有江河。有何因緣世間有五種
T 0147c03
子?有大亂風,從不敗世界吹種子來生
T 0147c04
此國,一者根子,二者莖子,三者節子,四者
T 0147c05
虛中子,五者子子,是為五子。以此因緣,世
T 0147c06
間有五種子出。
「此閻浮提日中時,弗于逮日
T 0147c07
沒,拘耶尼日出,鬱單曰夜半;拘耶尼日中
T 0147c08
閻浮提日沒,鬱單曰日出,弗于逮夜半;鬱
T 0147c09
單曰日中,拘耶尼日沒,弗于逮日出,閻浮
T 0147c10
提夜半;若弗于逮日中,鬱單曰日沒,閻浮
T 0147c11
提日出,拘耶尼夜半。閻浮提東方,弗于逮為
T 0147c12
西方;閻浮提為西方,拘耶尼為東方;拘
T 0147c13
耶尼為西方,鬱單曰為東方;鬱單曰為
T 0147c14
西方,弗于逮為東方。
「所以閻浮提名閻浮
T 0147c15
者,下有金山,高三十由旬,因閻浮樹生,
T 0147c16
故得名為閻浮金。閻浮樹其果如蕈,其味
T 0147c17
如蜜。樹有五大孤,四面四孤,上有一孤,
T 0147c18
其東孤孤果乾闥和所食;其南孤者七
T 0147c19
國人所食:一曰拘樓國、二曰拘羅婆、三名
T 0147c20
毘提、四名善毘提、五名漫陀、六名婆羅、
T 0147c21
七名婆梨;其西孤果海虫所食;其北孤
T 0147c22
果者禽獸所食;其上孤果者星宿天所食。
T 0147c23
七大國北有七大黑山:一曰裸
土
,二曰白
T 0147c24
鶴,三曰守宮,四者仙山,五者高山,六者禪
T 0147c25
山,七者土山。此七黑山上有七婆羅門仙人,
T 0147c26
此七仙人住處,一名善帝,二名善光,三名守
T 0147c27
宮,四名仙人,五者護宮,六者伽那那,七者
T 0147c28
增益。」
佛告比丘:「劫初眾生食地味已,久住
T 0147c29
於世,其食多者顏色麤悴,其食少者顏色光
T 0148a01
潤,然後乃知眾生顏色形貌優劣,互相是非,
T 0148a02
言:『我勝汝,汝不如我。』以其心存彼我,懷諍
T 0148a03
競故,地味消竭。又地皮生,狀如薄餅,色味
T 0148a04
香潔。爾時,眾生聚集一處,懊惱悲泣,椎胷
T 0148a05
而言:『咄哉為禍!今者地味初不復現。』猶如
T 0148a06
今人得盛美味,稱言美善,後復失之以為
T 0148a07
憂惱,彼亦如是憂惱悔恨。後食地皮,漸得
T 0148a08
其味,其食多者顏色麤悴,其食少者顏色潤
T 0148a09
澤,然後乃知眾生顏色形貌優劣,互相是非,
T 0148a10
言:『我勝汝,汝不如我。』以其心存彼我,懷諍
T 0148a11
競故,地皮消竭。
「其後復有地膚出,轉更麤
T 0148a12
厚,色如天華,軟若天衣,其味如蜜。時,諸眾
T 0148a13
生復取共食,久住於世,食之多者顏色轉損,
T 0148a14
食甚少者顏色光澤,然後乃知眾生顏色形
T 0148a15
貌優劣,互相是非,言:『我勝汝,汝不如我。』以
T 0148a16
其心存彼我,懷諍競故,地膚消竭。其後復
T 0148a17
有自然粳米,無有糠糩,不加調和,備眾
T 0148a18
美味。爾時,眾生聚集而言:『咄哉為禍!今者地
T 0148a19
膚忽不復現。』猶如今人遭禍逢難,稱言:『苦
T 0148a20
哉!』爾時,眾生亦復如是懊惱悲歎。
「其後眾生
T 0148a21
便共取粳米食之,其身麤醜,有男女形,互
T 0148a22
相瞻視,遂生欲想,共在屏處為不淨行。餘
T 0148a23
眾生見言:『咄此為非!云何眾生共生有如
T 0148a24
此事?』彼行不淨男子者,見他呵責,即自悔
T 0148a25
過言:『我所為非。』即身投地。其彼女人見其男
T 0148a26
子以身投地,悔過不起,女人即便送食。餘
T 0148a27
眾生見,問女人言:『汝持此食,欲以與誰?』答
T 0148a28
曰:『彼悔過眾生墮不善行者,我送食與之。』
T 0148a29
因此言故,世間便有不善夫主之名;以送
T 0148b01
飯與夫,因名之為妻。
「其後眾生遂為婬
T 0148b02
逸,不善法增,為自障蔽,遂造屋舍,以此因
T 0148b03
緣故,始有舍名。其後眾生婬逸轉增,遂成
T 0148b04
夫妻。有餘眾生壽、行、福盡,從光音天命終,
T 0148b05
來生此間,在母胎中,因此世間有處胎名。
T 0148b06
爾時,先造瞻婆城,次造伽尸婆羅捺城,
T 0148b07
其次造王舍城。日出時造,即日出時成。以
T 0148b08
此因緣,世間便有城郭、郡邑王所治名。
「爾時,
T 0148b09
眾生初食自然粳米時,朝收暮熟,暮收朝
T 0148b10
熟,收後復生,無有莖稈。時,有眾生默自
T 0148b11
念言:『日日收穫,疲勞我為?今當併取以供
T 0148b12
數日。』即時併穫,積數日粮。餘人於後語此
T 0148b13
人言:『今可相與共取粳米。』此人答曰:『我已
T 0148b14
先積,不須更取。汝欲取者,自隨意去。』後人
T 0148b15
復自念言:『前者能取二日餘粮,我豈不能取
T 0148b16
三日粮耶?』此人即積三日餘粮。復有餘人
T 0148b17
語言:『共取粮去來。』此人答曰:『我已取三日
T 0148b18
餘粮。汝欲取者,自隨汝意。』此人念言:『彼人
T 0148b19
能取三日粮,我豈不能取五日粮耶?』取
T 0148b20
五日粮已。時,眾生競積餘粮故,是時粳米
T 0148b21
便生糠糩,收已不生,有枯稈現。
「爾時,眾
T 0148b22
生集在一處,懊惱悲泣,拍胷而言:『咄此為
T 0148b23
哉!』自悼責言:『我等本皆化生,以念為食,身光
T 0148b24
自照,神足飛空,安樂無礙。其後地味始生,色
T 0148b25
味具足,時,我等食此地味,久住於世。其食
T 0148b26
多者顏色轉麤,其食少者色猶光澤,於是
T 0148b27
眾生心懷彼我,生憍慢心言:「我色勝,汝色
T 0148b28
不如。」諍色憍慢故,地味消滅。更生地皮,色
T 0148b29
香味具。我等時復共取食之,久住於世。其
T 0148c01
食多者色轉麤悴,其食少者色猶光澤,於是
T 0148c02
眾生心懷彼我,生憍慢心言:「我色勝,汝色
T 0148c03
不如。」諍色憍慢故,地皮消滅。更生地膚,轉
T 0148c04
更麤厚,色香味具。我等時復共取食之,久住
T 0148c05
於世。其食多者色轉麤悴,其食少者色猶光
T 0148c06
澤,於是眾生心懷彼我,生憍慢心言:「我色
T 0148c07
勝,汝色不如。」諍色憍慢故,地膚滅。更生自
T 0148c08
然粳米,色香味具。我等時復共取食之,朝
T 0148c09
穫暮熟,暮穫朝熟,收以隨生,無有載收。
T 0148c10
由我爾時競共積聚故,便生糠糩,收已
T 0148c11
不生,現有根稈。我等今者寧可共封田
T 0148c12
宅,以分疅畔。』
「時,即共分田以異疅畔,計
T 0148c13
有彼我。其後遂自藏己米,盜他田穀。餘眾
T 0148c14
生見已,語言:『汝所為非,汝所為非。云何自藏
T 0148c15
己物,盜他財物?』即呵責言:『汝後勿復為盜。』
T 0148c16
如是不已,猶復為盜,餘人復呵言:『汝所為
T 0148c17
非,何故不休?』即便以手杖打,將詣眾中,
T 0148c18
告眾人言:『此人自藏粳米,盜他田穀。』盜
T 0148c19
者復言:『彼人打我。』眾人聞已,懊惱涕泣,拊胷
T 0148c20
而言:『世間轉惡,乃是惡法生耶?』遂生憂結熱
T 0148c21
惱苦報,此是生、老、病、死之原,墜墮惡趣。有
T 0148c22
田宅疅畔別異,故生諍訟,以致怨讐,無能
T 0148c23
決者。『我等今者寧可立一平等主,善護人
T 0148c24
民,賞善罰惡,我等眾人各共減割以供給
T 0148c25
之。』
「時,彼眾中有一人形質長大,容貌端正,甚
T 0148c26
有威德,眾人語言:『我等今欲立汝為主,善
T 0148c27
護人民,賞善罰惡,當共減割以相供給。』其
T 0148c28
人聞之,即受為主,應賞者賞,應罰者罰,於
T 0148c29
是始有民主之名。初民主有子,名曰珍寶。
T 0149a01
珍寶有子,名曰好味,好味有子,名曰靜齋,
T 0149a02
靜齋有子,名曰頂生,頂生有子,名曰善行,
T 0149a03
善行有子,名曰宅行,宅行有子,名曰妙味,
T 0149a04
妙味有子,名曰味帝,味帝有子,名曰水仙,
T 0149a05
水仙有子,名曰百智,百智有子,名曰嗜欲,
T 0149a06
嗜欲有子,名曰善欲,善欲有子,名曰斷結,
T 0149a07
斷結有子,名曰大斷結,大斷結有子,名曰
T 0149a08
寶藏,寶藏有子,名曰大寶藏,大寶藏有子,
T 0149a09
名曰善見,善見有子,名曰大善見,大善見
T 0149a10
有子,名曰無憂,無憂有子,名曰洲渚,洲渚
T 0149a11
有子,名曰殖生,殖生有子,名曰山岳,山
T 0149a12
岳有子,名曰神天,神天有子,名曰遣力,
T 0149a13
遣力有子,名曰牢車,牢車有子,名曰十
T 0149a14
車,十車有子,名曰百車,百車有子,名曰
T 0149a15
牢弓,牢弓有子,名曰百弓,百弓有子,名
T 0149a16
曰養牧,養牧有子,名曰善思。
「從善思
T 0149a17
已來有十族,轉輪聖王相續不絕。一名伽
T 0149a18
[少/兔]
麤,二名多羅婆,三名阿葉摩,四名
T 0149a19
持施,五名伽楞伽,六名瞻婆,七名拘
T 0149a20
羅婆,八者般闍羅,九者彌私羅,十者聲摩。
T 0149a21
伽
[少/兔]
麤王有五轉輪聖王,多羅婆王有五
T 0149a22
轉輪聖王,阿葉摩王有七轉輪聖王,持施
T 0149a23
王有七轉輪聖王,伽楞伽王有九轉輪聖
T 0149a24
王,瞻婆王有十四轉輪聖王,拘
羅婆
王有三
T 0149a25
十一轉輪聖王,般闍羅王有三十二轉輪聖
T 0149a26
王,彌私羅王有八萬四千轉輪聖王,聲摩
T 0149a27
王有百一轉輪聖王,最後有王,名大善生
T 0149a28
從。
「聲摩王有子,名烏羅婆,烏羅婆有子,
T 0149a29
名渠羅婆,渠羅婆有子,名尼求羅,尼求羅
T 0149b01
有子,名師子頰,師子頰有子,名曰白淨
T 0149b02
王,白淨王有子,名菩薩,菩薩有子,名羅睺
T 0149b03
羅。由此本緣有剎利名。
「爾時,有一眾生
T 0149b04
作是念言:『世間所有家屬萬物皆為刺棘癰
T 0149b05
瘡,今宜捨離,入山行道,靜處思惟。』時,即遠
T 0149b06
離家刺,入山靜處,樹下思惟,日日出山,
T 0149b07
入村乞食。村人見已,加敬供養,眾共稱善:
T 0149b08
『此人乃能捨離家累,入山求道,以其能離
T 0149b09
惡不善法。』因是稱曰為婆羅門。婆羅門眾中
T 0149b10
有不能行禪者,便出山林,遊於人間,自
T 0149b11
言:『我不能坐禪。』因是名曰無禪婆羅門,經
T 0149b12
過下村,為不善法,施行毒法,因是相生,遂
T 0149b13
便名毒。由此因緣,世間有婆羅門種。
「彼眾
T 0149b14
生中習種種業以自營生,因是故世間有
T 0149b15
居士種。
「彼眾生中習諸技藝以自生活,
T 0149b16
因是世間有首陀羅種。
「世間先有此釋種
T 0149b17
出已,然後有沙門種。剎利種中有人自思
T 0149b18
惟:『世間恩愛汙穢不淨,何足貪著也?』於
T 0149b19
是捨家,剃除鬚髮,法服求道:『我是沙門!我
T 0149b20
是沙門!』婆羅門種、居士種、首陀羅種眾中
T 0149b21
有人自思惟:『世間恩愛汙穢不淨,何足貪
T 0149b22
著?』於是捨家,剃除鬚髮,法服求道:『我是沙
T 0149b23
門!我是沙門!』
「若剎利眾中,有身行不善、口
T 0149b24
行不善、意行不善,行不善已,身壞命終,一
T 0149b25
向受苦。或婆羅門、居士、首陀羅,身行不善、
T 0149b26
口行不善、意行不善,彼行不善已,身壞命
T 0149b27
終,一向受苦。剎利種身行善、口行善、意念
T 0149b28
善,身壞命終,一向受樂。婆羅門、居士、首陀羅,
T 0149b29
身行善、口行善、意等念善,身壞命終,一向
T 0149c01
受樂。剎利種身中有二種行,口、意有二種
T 0149c02
行,彼身、意行二種已,身壞命終,受苦樂報。
T 0149c03
婆羅門、居士、首陀羅,身二種行,口、意二種行,
T 0149c04
彼身、意行二種行已,身壞命終,受苦樂報。
T 0149c05
「剎利眾中剃除鬚髮,服三法衣,出家求道,
T 0149c06
彼修七覺意,彼以信堅固出家為道,修無
T 0149c07
上梵行,於現法中自身作證:我生死已盡,梵
T 0149c08
行已立,所作已辦,更不受後有。婆羅門、居士、
T 0149c09
首陀羅剃除鬚髮,服三法衣,出家求道,彼
T 0149c10
修七覺意,彼以信堅固出家為道,修無上
T 0149c11
梵行,於現法中作證:我生死已盡,梵行已
T 0149c12
立,更不受後有。此四種中,出明行成,得阿
T 0149c13
羅漢為最第一。是時,梵天說是偈言:
T 0149c14
「『剎利生為最, 能集諸種姓,
T 0149c15
明行成具足, 天人中為最。』」
T 0149c16
佛告諸比丘:「彼梵天說此偈為善說,非
T 0149c17
不善說,善受,非不善受,我所印可。所以者
T 0149c18
何?我今如來、至真、等正覺亦說此偈:
T 0149c19
「『剎利生為最, 能集諸種姓,
T 0149c20
明行成具足, 天人中為最。』」
T 0149c21
爾時,諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0149c22
長阿含具足,歸命一切智,一切眾安樂,眾
T 0149c23
生處無為,我亦在其例。
T 0149c24
佛說長阿含經卷第二十二