Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

9. Kinh chúng tập (DA9)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật du hành ở Mạt-la cùng với một nghìn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo, rồi đi dần đến thành Ba-bà, vườn Am-bà của Xà-đầu.

Bấy giờ, vào ngày mười lăm lúc trăng tròn, Thế Tôn ngồi ở giữa khoảng đất trống với các Tỳ-kheo vây quanh trước sau. Thế tôn đêm ấy sau khi đã thuyết pháp nhiều, bèn nói với Xá-lợi-phất :

“Các Tỳ-kheo bốn phương tụ tập về, thảy đều siêng năng, dẹp bỏ ngủ nghỉ. Nhưng Ta đau lưng, muốn nghỉ một chút. Ngươi nay hãy thuyết pháp cho các Tỳ-kheo.”

Xá-lợi-phất đáp:

“Kính vâng. Con sẽ làm theo Thánh giáo.”

Thế Tôn trải tăng-già-lê bốn lớp rồi nằm nghiêng phía hữu như con sư tử, hai chân chồng lên nhau.

Khi ấy Xá-lợi-phất nói với các Tỳ-kheo:

“Nay trong thành Ba-bà này có Ni-kiền Tử mạng chung chưa bao lâu, nhưng các đệ tử chia ra làm hai bộ, luôn luôn tranh chấp nhau, tỳm sở trường và sở đoản của nhau, mắng nhiếc nhau, thị phi với nhau rằng: ‘Ta biết pháp này. Ngươi không biết pháp này. Ngươi theo tà kiến. Ta theo chánh kiến. Ngươi nói năng hỗn loạn, chẳng có trước sau, tự cho điều mình nói là chân chính. Lập ngôn của ta thắng. Lập ngôn của ngươi bại. Nay ta làm chủ cuộc đàm luận, ngươi có điều muốn hỏi thì đến hỏi ta.’

“Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ nhân dân trong nước những ai theo Ni-kiền Tử đều chán ghét những tiếng cãi vã của bọn này. Đó là vì pháp ấy không chân chính. Pháp không chân chính thì không có con đường xuất ly. Ví như ngôi tháp đã đổ thì không còn tô trét gì được nữa. Đó không phải là điều mà đấng Chánh giác đã dạy.

“Các Tỳ-kheo, duy chỉ Pháp vô thượng tôn của đức Thích-ca ta là chân chánh mới có thể có con đường xuất ly. Cũng như ngôi tháp mới thì có thể được dễ dàng trang hoàng. Vì đó là điều mà đấng Chánh giác giảng dạy.

“Các Tỳ-kheo, hôm nay chúng ta cần phải kết tập pháp luật để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông, cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP MỘT

“Như Lai nói một Chánh pháp: Hết thảy chúng sanh đều y thức ăn mà tồn tại.

“Như Lai lại nói một Chánh pháp: tất cả chúng sanh đều y các hành mà tồn tại.

“Đó là một pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông, cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP HAI

“Các Tỳ-kheo, Như Lai nói hai Chánh pháp: một là danh, hai là sắc.

“Lại có hai pháp: một là si, hai là ái.

“Lại có hai pháp: hữu kiến và vô kiến.

“Lại có hai pháp: không biết tàm và không biết quí.

“Lại có hai pháp: có tàm và có quí.

“Lại có hai pháp: tận trí và vô sanh trí.

“Lại có hai pháp, hai nhân hai duyên sanh ra ái dục: một, sắc tịnh diệu; hai, không tư duy.

“Lại có hai pháp, hai nhân, hai duyên sanh nơi sân nhuế: thù ghét và không tư duy.

“Lại có hai pháp, hai nhân, hai duyên sanh nơi tà kiến: nghe từ người khác và tà tư duy.

“Lại có hai pháp, hai nhân, hai duyên sanh nơi chánh kiến: nghe từ người khác và chánh tư duy.

“Lại có hai pháp, hai nhân, hai duyên: giải thoát hữu học và giải thoát vô học.

“Lại có hai pháp hai nhân, hai duyên: hữu vi giới và vô vi giới.

“Các Tỳ-kheo, đó là hai pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kiết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông, cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP BA

“Các Tỳ-kheo, Như Lai nói ba pháp, tức là ba bất thiện căn: tham dục, sân nhuế và ngu si.

“Lại có ba pháp, tức là ba thiện căn: không tham, không nhuế và không si.

“Lại có ba pháp, tức là ba bất thiện hành: thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện và ý hành bất thiện.

“Lại có ba pháp, tức là ba bất thiện hành: bất thiện hành của thân, bất thiện hành của khẩu và bất thiện hành của ý.

“Lại nữa, có ba pháp, tức là ba ác hành : ác hành của thân, ác hành của khẩu và ác hành của ý.

“Lại có ba pháp, tức là ba thiện hành: thiện hành của thân, thiện hành của khẩu và thiện hành của ý.

“Lại có ba pháp, tức là ba tưởng bất thiện: dục tưởng, sân tưởng và hại tưởng.

“Lại có ba pháp tức là ba tưởng thiện: vô dục tưởng, vô sân tưởng và vô hại tưởng.

“Lại có ba pháp tức là ba tư bất thiện: dục tư, nhuế tư và hại tư

“Lại có ba pháp tức là ba tư thiện: vô dục tư, vô nhuế tư và vô hại tư.

“Lại có ba loại phước nghiệp: nghiệp bố thí, nghiệp bình đẳng và nghiệp tư duy.

“Lại có ba pháp, tức là ba thọ: lạc thọ, khổ thọ và phi khổ phi lạc thọ.

“Lại có ba pháp tức là ba ái: dục ái, hữu ái, vô hữu ái.

“Lại có ba pháp tức là ba hữu lậu: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

“Lại có ba pháp, tức là ba thứ lửa: lửa dục, lửa sân và lửa si.

“Lại có ba pháp tức là ba cầu : dục cầu, hữu cầu và phạm hạnh cầu.

“Lại có ba pháp tức là ba tăng thịnh: ngã tăng thịnh, thế tăng thịnh và pháp tăng thịnh.

“Lại có ba pháp tức là ba giới: dục giới, sân giới và hại giới.

“Lại có ba pháp tức là ba giới: xuất ly giới, vô sân giới và vô hại giới.

“Lại có ba pháp tức là ba giới: sắc giới, vô sắc giới, tận giới.

“Lại có ba pháp tức là ba tụ: giới tụ, định tụ và huệ tụ.

“Lại có ba pháp tức là ba giới: tăng thượng giới (cấm), tăng thượng tâm, tăng thịnh tuệ.

“Lái có ba pháp tức là ba tam-muội: không tam-muội, vô nguyện tam-muội, và vô tướng tam-muội.

“Lại có ba pháp tức là ba tướng: chỉ tức tướng, tinh cần tướng, và xả tướng.

“Lại có ba pháp tức là ba minh: tự thức túc mạng trí minh, thiên nhãn trí minh, và lậu tận trí minh.

“Lại có ba pháp tức là ba biến hóa: thần túc biến hóa, biết tâm người mà tùy ý thuyết pháp và giáo giới.

“Lại có ba pháp tức là ba căn bổn dục sinh: 1. Do hiện dục hiện tiền sinh trời người; 2. do hóa dục sinh trời Hóa tự tai; 2. do tha hóa dục sinh trời Tha Hóa Tự Tại.

“Lại có ba pháp tức là ba lạc sinh: 1. Chúng sanh tự nhiên thành biện sanh hoan hỷ tâm như trời Phạm chúng vào lúc mới sinh. 2. Có chúng sanh lấy niệm làm an vui tự xướng ‘lành thay’ như trời Quang Âm. 3. Lạc do được chỉ tức như trời Biến Tịnh.

“Lại có ba pháp tức là ba khổ: dục khổ, hành khổ, và biến dịch khổ.

“Lại có ba pháp tức là ba căn: vị tri dục tri căn, tri căn, tri dĩ căn.

“Lại có ba pháp tức là ba trụ: Hiền Thánh trụ, thiên trụ, phạm trụ.

“Lại có ba pháp tức là ba sự cử tội: cử tội do thấy, cử tội do nghe và cử tội do nghi.

“Lại có ba pháp tức là ba ngôn y: Quá khứ có sự như thế, có ngôn luận như thế. Vị lai có sự như thế, có ngôn luận như thế. Hiện tại có sự như thế có ngôn luận như thế.

“Lại có ba pháp tức là ba tụ : chánh định tụ, tà định tụ, và bất định tụ.

“Lại có ba pháp tức là ba ưu: thân ưu, khẩu ưu, và ý ưu.

“Lại có ba pháp, tức ba trưởng lão: trưởng lão do tuổi tác, trưởng lão do pháp và trưởng lão do tác thành.

“Lại có ba pháp tức là ba con mắt: con mắt thịt, con mắt trời và con mắt tuệ.

“Các Tỳ-kheo, đó là ba pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông, cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP BỐN

“Các Tỳ-kheo, Như Lai nói bốn pháp, tức là bốn ác hành do miệng: 1. nói dối; 2. hai lưỡi; 3. ác khẩu; 4. ỷ ngữ.

“Lại có bốn pháp, tức là bốn thiện hành của miệng: 1. nói sự thật; 2. nói dịu dàng; 3. không ỷ ngữ; 4. không hai lưỡi.

“Lại có bốn pháp tức là bốn phi thánh ngôn: 1. không thấy nói thấy; 2. không nghe nói nghe; 3. không cảm thấy nói cảm thấy; 4. không biết nói biết.

“Lại có bốn pháp tức là bốn thánh ngôn: 1. thấy nói thấy; 2. nghe nói nghe; 3. hay nói hay; 4. biết nói biết.

“Lại có bốn pháp tức là bốn loại thực phẩm: 1. đoạn thực; 2. xúc thực; 3. ý tư thực; 4. thức thực.

“Lại có bốn pháp tức là bốn pháp thọ: 1. khổ hành trong hiện tại thọ khổ báo về sau; 2. khổ hành hiện tại thọ lạc báo về sau; 3. lạc hành hiện tại thọ khổ báo về sau; 4. lạc hành hiện tại thọ lạc báo về sau.

“Lại có bốn pháp tức là bốn thủ: 1. dục thủ, 2. ngã thủ, 3. giới cấm thủ, 4. kiến thủ.

“Lại có bốn pháp tức là bốn phược: 1. thân phược bởi dục tham, 2. thân phược bởi sân nhuế, 3. thân phược bởi giới đạo, 4. thân phược bởi ngã kiến.

“Lại có bốn pháp, tức bốn gai nhọn: 1. gai nhọn dục; 2. gai nhọn nhuế; 3. gai nhọn kiến; 4. gai nhọn mạn.

“Lại có bốn pháp tức là bốn sanh: 1. sanh từ trứng, 2. sanh từ thai, 3. sanh do thấp, 4. sanh do biến hóa.

“Lại có bốn pháp tức bốn niệm xứ: 1. Ở đây, Tỳ-kheo quán thân trên nội thân tinh cần không biếng nhác, ức niệm không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời; quán thân trên ngoại thân tinh cần không biếng nhác, ức niệm không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời; quán thân trên nội ngoại thân tinh cần không biếng nhác, ức niệm không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. 2. Quán thọ, 3. Quán tâm, 4. Quán pháp, cũng vậy.

“Lại có bốn pháp tức là bốn chánh cần : 1. Ở đây Tỳ-kheo ác pháp chưa khởi, phương tiện khiến không khởi, 2. Ác pháp đã khởi phương tiện khiến diệt, 3. Thiện pháp chưa khởi pháp, phương tiện khiến khởi, 4. Thiện pháp đã khởi phương tiện khiến tăng trưởng.

“Lại có bốn pháp tức là bốn thần túc: 1. Ở đây Tỳ-kheo tư duy dục định đoạn hành thành tựu, 2. Tinh tấn định, 3. Tâm định, 4. Tư duy định cũng vậy.

“Lại có bốn pháp tức là bốn thiền: 1. Ở đây, Tỳ-kheo trừ dục, ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, hỷ lạc phát sanh do viễn ly, nhập sơ thiền, 2. Diệt tầm và tứ, nội tịnh, nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sanh, nhập đệ nhị thiền; 3. Lìa hỷ, an trú xả chuyên niệm không loạn, tự thân cảm giác lạc, điều mà Hiền Thánh nói là xả, an trú lạc có niệm, nhập đệ tam thiền; 4. Xả bỏ khổ và lạc, trừ diệt ưu và hỷ từ trước, không khổ, không lạc, xả và niệm thanh tịnh, nhập đệ tứ thiền.

“Lại có bốn pháp tức là bốn phạm trụ: từ, bi, hỷ và xả.

“Lại có bốn pháp tức là bốn vô sắc định: 1. Ở đây, Tỳ-kheo siêu việt hết thảy sắc tưởng, sân tưởng đã diệt từ trước, không niệm các tưởng khác, tư duy vô lượng không vô biên xứ; 2. Sau khi xả không vô biên xứ, nhập thức vô biên xứ; 3. Sau khi xả thức vô biên xứ nhập vô hữu xứ; 4. Sau khi xả vô hữu xứ nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ.

“Lại có bốn pháp tức là bốn pháp tích : Pháp tích không tham, pháp tích không sân, pháp tích chánh niệm và pháp tích chánh định.

“Lại có bốn pháp tức là bốn Thánh chủng: 1. Ở đây, Tỳ-kheo tri túc về y thực, được thứ tốt không mừng, được cái xấu không buồn; không nhiễm không trước, biết điều cấm kỵ, biết con đường xuất yếu; ở trong pháp này tinh cần không biếng nhác; thành tựu sự ấy không khuyết không giảm và cũng dạy người thành tựu sự ấy. Đó là thứ nhất; tri túc, an trú trong sự truyền thừa của Hiền Thánh, từ xưa đến nay chưa thường não loạn. Chư thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, Trời và Người không ai có thể chê trách. 2. Thức ăn. 3. Vật dụng nằm ngồi, 4. Thuốc thang trị bệnh, tất cả đều cũng tri túc như thế.

“Lại có bốn pháp tức là bốn nhiếp sự: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.

“Lại có bốn pháp, tức là bốn chi của Tu-đà-hoàn : Tỳ-kheo thành tựu tín tâm bất hoại đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng và đối với Giới.

“Lại có bốn pháp tức là bốn thọ chứng: 1. Thọ chứng do thấy sắc; 2. thọ chứng do thân hoại diệt; 3. thọ chứng do nhớ về túc mạng; 4. thọ chứng do biết hữu lậu đã bị diệt tận.

“Lại có bốn pháp tức là bốn thông hành: khổ đắc chậm, khổ đắc nhanh, lạc đắc chậm và lạc đắc nhanh.

“Lại có bốn pháp tức là bốn Thánh đế: Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt Thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế.

“Lại có bốn pháp tức là bốn Sa-môn quả: Tu-đà-hoàn quả, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán quả.

“Lại có bốn pháp tức là bốn xứ: thật xứ, thí xứ, trí xứ, chỉ tức xứ.

“Lại có bốn pháp tức là bốn trí: pháp trí, vị tri trí, đẳng trí, và tha tâm trí.

“Lại có bốn pháp tức là bốn biện tài: pháp biện tài, nghĩa biện tài, từ biện tài, ứng thuyết biện tài.

“Lại có bốn pháp tức là bốn trú xứ của thức: sắc là trú xứ của thức, duyên sắc mà trú, sắc và ái cùng tăng trưởng. Thọ, tưởng, hành, cũng đều như vậy.

“Lại có bốn pháp tức là bốn ách: dục là ách, hữu là ách, kiến là ách, vô minh là ách.

“Lại có bốn pháp tức là bốn vô ách: vô dục ách, vô hữu ách, vô kiến ách, vô vô minh ách.

“Lại có bốn pháp tức là bốn tịnh: giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, và độ nghi tịnh.

“Lại nữa có bốn pháp tức là bốn sự biết: đáng thọ biết thọ, đáng hành biết hành, đáng lạc biết lạc, đáng xả biết xả.

“Lại có bốn pháp tức là bốn oai nghi: đáng đi biết đi, đáng đứng biết đứng, đáng ngồi biết ngồi, đáng nằm biết nằm.

“Lại có bốn pháp tức là bốn tư duy: tư duy ít, tư duy rộng, tư duy vô lượng, không tư duy gì cả.

“Lại có bốn pháp tức là bốn ký luận : quyết định ký luận, phân biệt ký luận, cật vấn ký luận, chỉ trú ký luận.

“Lại có bốn tức là bốn pháp không cần phòng hộ của Phật: 1. Như Lai thân hành thanh tịnh, không khiếm khuyết, không rò rỉ; có thể tự phòng hộ; 2. khẩu hành thanh tịnh; 3. ý hành thanh tịnh; 4. mạng hành thanh tịnh cũng đều như vậy.

“Các Tỳ-kheo, đó là bốn pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP NĂM

“Như Lai nói năm Chánh pháp, tức là năm xứ : mắt, sắc; tai, tiếng; mũi, hương; lưỡi, vị; thân, xúc.

“Lại có năm pháp tức là năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn; thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn.

“Lại có năm pháp, tức là năm cái: tham dục cái, sân nhuế cái, thùy miên cái, trạo cử cái, nghi cái.

“Lại có năm pháp tức là năm hạ phần kết: thân kiến, giới đạo, nghi, tham dục và sân nhuế.

“Lại có năm pháp tức là năm thuận thượng phần kết: sắc ái, vô sắc ái, vô minh, mạn, trạo hối.

“Lại có năm pháp tức là năm căn: tín, tấn, niệm, định, huệ.

“Lại có năm pháp tức là năm lực: tín, tấn, niệm, định, huệ.

“Lại có năm pháp tức là năm thắng chi : 1. Tỳ-kheo tin Phật, Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, mười hiệu thành tựu. 2. Tỳ-kheo không bịnh, thân thường an ổn. 3. Chất trực, không dua xiểm. Được như thế thì Như Lai chỉ bày con đường đi đến Niết-bàn. 4. Tự chuyên tâm không để thác loạn. Những điều đã tụng đọc từ trước ghi nhớ không quên. 5. Khéo quán sát sự sinh và diệt của các pháp bằng sự thực hiện của Hiền Thánh mà diệt tận gốc rễ của khổ.

“Lại có năm pháp tức là năm sự phát ngôn: phát phi thời, phát hư dối, phát phi nghĩa, phát hư ngôn, phát không từ tâm.

“Lại có năm pháp tức là năm thiện phát: phát đúng thời, phát sự thật, phát có nghĩa, phát lời nói hòa, phát khởi từ tâm.

“Lại có năm pháp tức là năm sự tật đố: tật đố về trú xứ, tật đố về thí chủ, tật đố về lợi dưỡng, tật đố về sắc, tật đố về pháp.

“Lại có năm pháp tức là năm thú hướng giải thoát: tưởng về thân bất tịnh, tưởng về thức ăn bất tịnh, tưởng hết thảy các hành vô thường, tưởng hết thảy thế gian không đáng vui, tưởng về sự chết.

“Lại có năm pháp tức là năm xuất ly giới: 1. Tỳ-kheo đối với dục không hoan hỷ, bất động, cũng không thân cận, mà chỉ niệm sự thoát ly, hoan hỷ nơi sự viễn ly, thân cận không giải đãi, tâm mềm mại, xuất ly, ly dục. Vị ấy đối với các lậu triền do nhân dục mà khởi, cũng dứt sạch, xả ly diệt trừ mà được giải thoát. Đó gọi là dục thoát ly. 2. Sân nhuế xuất ly, 3. Tật đố xuất ly, 4. Sắc xuất ly, 5. Thân kiến xuất ly cũng vậy.

“Lại có năm pháp tức năm hỷ giải thoát nhập. Nếu Tỳ-kheo tinh cần không biếng nhác, ưa ở nơi nhàn tĩnh, chuyên niệm nhất tâm, chưa giải thoát thì được giải thoát, chưa an thì được an. Những gì là năm? 1. Ở đây Tỳ-kheo nghe Như Lai thuyết pháp, hoặc nghe đồng phạm hạnh thuyết pháp, hoặc nghe sư trưởng thuyết pháp, tư duy, quán sát, phân biệt pháp nghĩa, tâm đắc hoan hỷ. Sau khi được hoan hỷ thì được pháp ái, sau khi được pháp ái thân tâm an ổn, sau khi thân tâm an ổn thì chứng đắc thiền định. Đắc thiền định rồi, đắc như thật kiến. Đó là giải thoát xứ thứ nhất. 2. Ở đây, Tỳ-kheo sau khi nghe pháp hoan hỷ. 3. Thọ trì đọc tụng cũng lại hoan hỷ. 4. Thuyết cho người khác cũng lại hoan hỷ. 5. Tư duy phân biệt cũng lại hoan hỷ, ở nơi pháp mà đắc định cũng như vậy.

“Lại có năm pháp tức là năm hạng người : trung bát-niết-bàn, sanh bát-niết-bàn, vô hành bát-niết-bàn, hữu hành bát-niết-bàn, thượng lưu sắc cứu cánh.

“Các Tỳ-kheo, đó là năm Chánh pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kiết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP SÁU

“Lại nữa, các Tỳ-kheo, Như Lai nói sáu Chánh pháp tức là sáu nội xứ : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

“Lại có sáu pháp tức là sáu ngoại xứ: sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp.

“Lại có sáu pháp tức là sáu thức thân: nhãn thức thân, nhĩ thức thân, tỷ thức thân, thiệt thức thân, thân thức thân, ý thức thân.

“Lại nữa có sáu pháp tức là sáu xúc thân: nhãn xúc thân, nhĩ xúc thân, tỷ xúc thân, thiệt xúc thân, thân xúc thân, ý xúc thân.

“Lại có sáu pháp tức là sáu thọ thân: nhãn thọ thân, nhĩ thọ thân, tỷ thọ thân, thiệt thọ thân, thân thọ thân, ý thọ thân.

“Lại có sáu pháp tức là sáu tưởng thân: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tưởng thân.

“Lại có sáu pháp tức sáu tư thân: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tư thân.

“Lại có sáu pháp tức là sáu ái thân: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ái thân.

“Lại có sáu pháp tức là gốc rễ tranh cãi : 1. Nếu Tỳ-kheo ưa sân không bỏ, không kính Như Lai, cũng không kính Pháp, cũng không kính Chúng tăng, ở nơi giới có lọt, có rĩ, nhiễm ô bất tịnh, ở trong Chúng ưa gây tranh cãi mà ai cũng ghét, tranh chấp nhiễu loạn, trời và người bất an. Các Tỳ-kheo, các ngươi hãy tự mình quán sát bên trong, giả sử có sự sân hận như kẻ nhiễu loạn kia, hãy tập hợp hòa hợp chúng, rộng đặt phương tiện, nhỗ sạch gốc rễ tranh cãi ấy. Các ngươi lại hãy chuyên niệm, tự quán sát. Nếu kết hận đã diệt lại hãy thêm phương tiện ngăn cản tâm ấy không để sinh khởi trở lại. 2. Các Tỳ-kheo ngoan cố không chịu nghe. 3. Xan tham, tật đố. 4. Xảo ngụy, hư vọng. 5. Cố chấp kiến giải của mình không chịu bỏ. 6. Nghe lầm nơi tà kiến cùng với biên kiến cũng như vậy.

“Lại có sáu pháp tức là sáu giới: địa giới, hỏa giới, thủy giới, phong giới, không giới, thức giới.

“Lại có sáu pháp tức là sáu sát hành : con mắt sát hành sắc, tai đối với tiếng, mũi đối với hương, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc, ý đối với pháp.

“Lại có sáu pháp tức là sáu xuất ly giới: 1. Nếu Tỳ-kheo nói như vầy: ‘Tôi tu từ tâm nhưng lại tâm sanh sân nhuế.’ Các Tỳ-kheo khác bảo: ‘Ngươi chớ nói như vậy. Chớ báng bổ Như Lai. Như Lai không nói như vậy. Giả sử tu từ giải thoát mà sanh sân nhuế tưởng, không có trường hợp ấy. Phật nói: trừ sân nhuế rồi sau mới đắc từ.’ 2. Nếu Tỳ-kheo nói: ‘Tôi thực hành bi giải thoát nhưng tâm sanh tật đố.’ 3. ‘Thực hành hỷ giải thoát nhưng sanh tâm ưu não.’ 4. ‘Thực hành xả giải thoát nhưng sanh tâm yêu ghét.’ 5 ‘Thực hành vô ngã nhưng sanh tâm hồ nghi.’ 6. ‘Thực hành vô tưởng nhưng sanh tâm loạn tưởng;’ cũng giống như vậy.

“Lại có sáu pháp tức là sáu vô thượng: kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi dưỡng vô thượng, giới vô thượng, cung kính vô thượng, ức niệm vô thượng.

“Lại có sáu pháp tức là sáu tư niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên.

“Các Tỳ-kheo, đó là sáu pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông, cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP BẢY

“Các Tỳ-kheo, Như Lai nói bảy Chánh pháp, tức là bảy phi pháp: không có tín, không có tàm, không có quí, ít học hỏi, biếng nhác, hay quên, vô trí.

“Lại có bảy pháp tức là bảy Chánh pháp: có tín, có tàm, có qúi, đa văn. tinh tấn, tổng trì, đa trí.

“Lại có bảy pháp tức là bảy thức trụ: 1. Hoặc có chúng sanh với thân sai biệt, với tưởng sai biệt, tức là Chư Thiên và loài người. Đó là trú xứ thứ nhất của thức. 2. Hoặc có chúng sanh với nhiều thân khác nhau nhưng chỉ một tưởng, đó là trời Phạm chúng, tối sơ mới thọ sinh. Đó là trú xứ thứ hai của thức. 3. Hoặc có chúng sanh với một thân nhưng nhiều tưởng sai biệt tức là trời Quang Âm. Đó là trú xứ thứ ba của thức. 4. Hoặc có chúng sanh với một thân và một tưởng đó là trời Biến Tịnh. Đó là trú xứ thứ tư của thức. 5. Hoặc có chúng sanh trú ở không vô biên xứ. 6. Trú ở thức vô biên xứ. 7. Trú ở vô hữu xứ.

“Lại có bảy pháp, tức là bảy tinh cần: 1. Tỳ-kheo tinh cần nơi sự thực hành giới. 2. Tinh cần diệt tham dục. 3. Tinh cần phá tà kiến. 4. Tinh cần nơi đa văn. 5. Tinh cần nơi tinh tấn. 6. Tinh cần nơi chánh niệm. 7. Tinh cần nơi thiền định.

“Lại có bảy pháp tức là bảy tưởng: tưởng về thân bất tịnh, tưởng về thức ăn bất tịnh, tưởng về hết thảy thế gian không đáng ưa thích, tưởng về sự chết, tưởng về vô thường, tưởng về vô thường là khổ, tưởng về khổ là vô ngã.

“Lại có bảy pháp tức là bảy tam-muội cụ: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm.

“Lại có bảy pháp tức là bảy giác chi: niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi.

“Các Tỳ-kheo, đó là bảy pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông, cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP TÁM

“Các Tỳ-kheo, Như Lai nói tám Chánh pháp tức là tám pháp ở đời: đắc, thất, vinh, nhục, khen, chê, lạc và khổ.

“Lại có tám pháp tức là tám giải thoát: 1. Sắc quán sắc giải thoát. 2. Nội không sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát. 3. Tịnh giải thoát, 4. Vượt quá sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, an trú hư không vô biên xứ giải thoát. 5. Vượt hư không vô biên xứ an trú hư không vô biên xứ giải thoát. 6. Vượt thức vô biên xứ an trú vô hữu xứ giải thoát, vượt vô sở hữu xứ an trú phi phi tưởng xứ giải thoát. 8. Vượt phi tưởng phi phi tưởng xứ, an trú diệt tận định giải thoát.

“Lại có tám pháp tức là tám thánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

“Lại có tám pháp tức tám hạng người: Tu-đà-hoàn hướng, Tu-đà-hoàn quả, Tư-đà-hàm hướng, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm hướng, A-na-hàm quả; A-la-hán hướng, A-la-hán quả.

“Các Tỳ-kheo, đó là tám pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài, làm lợi ích cho số đông cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP CHÍN

“Các Tỳ-kheo, Như Lai nói chín Chánh pháp, tức là chín chúng sanh cư: 1. Hoặc có chúng sanh có nhiều thân khác nhau, với nhiều tưởng khác nhau, tức là Chư Thiên và loài người. Đó là nơi cư trú thứ nhất của chúng sanh. 2. Lại có chúng sanh có nhiều thân khác nhau, nhưng với một tưởng giống nhau, tức là trời Phạm chúng lúc mới sanh thời kiép sơ. Đó là cư trú thứ hai của chúng sinh. 3. Lại có chúng sanh với một thân giống nhau, nhưng với nhiều tưởng khác nhau, tức là trời Quang Âm. Đó là cư trú thứ ba của chúng sanh. 4. Lại có chúng sanh với một thân một tưởng giống nhau, tức là trời Biến Tịnh. Đó là cư trú thứ tư của chúng sanh. 5. Lại có chúng sanh không có tưởng và không có giác tri, tức là trời Vô tưởng. Đó là cư trú thứ năm của chúng sanh. 6. Lại có chúng sanh an trú hư không vô biên xứ. Đó là cư trú thứ sáu của chúng sanh. 7. Lại có chúng sanh an trú thức vô biên xứ. Đó là cư trú thứ bảy của chúng sanh. 8. Lại có chúng sanh an trú vô sở hữu xứ. Đó là cư trú thứ tám của chúng sanh. 9. Lại có chúng sanh an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là cư trú thứ chín của chúng sanh.

“Các Tỳ-kheo, đó là chín pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài, làm lợi ích cho số đông, cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.

PHÁP MƯỜI

“Các Tỳ-kheo, Như Lai nói mười Chánh pháp, tức là mười pháp vô học: vô học chánh kiến, vô học chánh tư duy, vô học chánh ngữ, vô học chánh nghiệp, vô học chánh mạng, vô học chánh niệm, vô học chánh tinh tấn, vô học chánh định, vô học chánh trí, vô học chánh giải thoát.

“Các Tỳ-kheo, đó là mười pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài, làm lợi ích cho số đông, cho Chư Thiên và nhân loại được an lạc.”

Bấy giờ, Thế Tôn ấn khả những điều Xá-lợi-phất đã nói. Các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Xá-lợi-phất đã nói, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

如是我聞:

一時,佛於末羅遊行,與千二百

T 0049b28

五十比丘俱,漸至波婆城闍頭菴婆園。

T 0049b29

爾時,世尊以十五日月滿時,於露地坐,諸

T 0049c01

比丘僧前後圍繞。世尊於夜多說法已,告

T 0049c02

舍利弗言:「今者四方諸比丘集,皆共精勤,

T 0049c03

捐除睡眠,吾患背痛,欲暫止息,汝今可為

T 0049c04

諸比丘說法。」

對曰:「唯然!當如聖教。」

爾時,世

T 0049c05

尊即四牒僧伽梨,偃右脇如師子,累足

T 0049c06

而臥。

時,舍利弗告諸比丘:「今此波婆城有

T 0049c07

尼乾子命終未久,其後弟子分為二部,

T 0049c08

常共諍訟相求長短,迭相罵詈,各相是非:『我

T 0049c09

知此法,汝不知此;汝在邪見,我在正法。

T 0049c10

言語錯亂,無有前後。』自稱己言,以為真正。

T 0049c11

『我所言勝,汝所言負,我今能為談論之主,

T 0049c12

汝有所問,可來問我。』

「諸比丘!時,國人民奉

T 0049c13

尼乾者,厭患此輩鬪訟之聲,皆由其法不

T 0049c14

真正故;法不真正無由出要,譬如

T 0049c15

不可復圬,此非三耶三佛所說。諸比丘!

T 0049c16

唯我釋迦無上尊法,最為真正可得出要,

T 0049c17

譬如新塔易可嚴飾,此是三耶三佛之所

T 0049c18

說也。諸比丘!我等今者,宜集法、律,以防諍

T 0049c19

訟,使梵行久立,多所饒益,天、人獲安。諸比

T 0049c20

丘!如來說一正法,一切眾生皆仰食存。如

T 0049c21

來所說復有一法,一切眾生皆由行往,是

T 0049c22

為一法如來所說,當共集之,以防諍訟,使

T 0049c23

梵行久立,多

饒益,天、人獲安。

「諸比丘!如

T 0049c24

來說二正法:一名,二色。復有二法:一癡,二

T 0049c25

愛。復有二法:有見、無見。復有二法:一無慚,

T 0049c26

二無愧。復有二法:一有慚,二有愧。復有二

T 0049c27

法:一盡智,二無生智。復有二法,二因二緣生

T 0049c28

於欲愛:一者淨妙色,二者不思惟。復有二法,

T 0049c29

二因二緣生於瞋恚:一者怨憎,二者不思惟。

T 0050a01

復有二法,二因二緣生於邪見:一者從他

T 0050a02

聞,二者邪思惟。復有二法,二因二緣生於

T 0050a03

正見:一者從他聞,二者正思惟。復有二法,二

T 0050a04

因二緣:一者學解脫,二者無學解脫。復有

T 0050a05

二法,二因二緣:一者有為界,二者無為界。諸

T 0050a06

比丘!是為如來所說,當共撰集以防諍訟,

T 0050a07

使梵行久立,多所饒益,天、人獲安。

「諸比丘!

T 0050a08

如來說三正法,謂三不善根:一者貪欲,二者

T 0050a09

瞋恚,三者愚癡。復有三法,謂三善根:一者不

T 0050a10

貪,二者不恚,三者不癡。復有三法,謂三不

T 0050a11

善行:一者不善身行,二者不善口行,三者

T 0050a12

不善意行。復有三法,謂三不善行:身不善

T 0050a13

行、口不善行、意不善行。復有三法,謂三惡行:

T 0050a14

身惡行、口惡行、意惡行。復有三法,謂三善行:

T 0050a15

身善行、口善行、意善行。復有三法,謂三不善

T 0050a16

想:欲想、瞋想、害想。復有三法,謂三善想:無

T 0050a17

欲想、無瞋想、無害想。復有三法,謂三不善思:

T 0050a18

欲思、恚思、害思。復有三法,謂三善思:無欲思、

T 0050a19

無恚思、無害思。

「復有三法,謂三福業:施業、平

T 0050a20

等業、思惟業。復有三法,謂三受:樂受、苦受、不

T 0050a21

苦不樂受。復有三法,謂三愛:欲愛、有愛、無

T 0050a22

有愛。復有三法,謂三有漏:欲漏、有漏、無明

T 0050a23

漏。復有三法,謂三火:欲火、恚火、愚癡火。復

T 0050a24

有三法,謂三求:欲求、有求、梵行求。復有三

T 0050a25

法,謂三增盛:我增盛、世增盛、法增盛。復有三

T 0050a26

法,謂三界:欲界、恚界、害界。復有三法,謂三

T 0050a27

界:出離界、無恚界、無害界。復有三法,謂三

T 0050a28

界:色界、無色界、盡界。復有三法,謂三聚:戒

T 0050a29

聚、定聚、慧聚。復有三法,謂三戒:增盛戒、增盛

T 0050b01

意、增盛慧。

「復有三法,謂三三昧:空三昧、無

T 0050b02

願三昧、無相三昧。復有三法,謂三相:止息相、

T 0050b03

精勤相、捨相。復有三法,謂三明:自識宿命智

T 0050b04

明、天眼智明、漏盡智明。復有三法,謂三變

T 0050b05

化:一者神足變化,二者知他心隨意說法,三

T 0050b06

者教誡。復有三法,謂三欲生本:一者由現

T 0050b07

欲生人天,二者由化欲生化自在天,三者

T 0050b08

由他化欲生他化自在天。復有三法,謂三

T 0050b09

樂生:一者眾生自然成辦,生歡樂心,如梵光

T 0050b10

音天初始生時。二者有眾生以念為樂,自

T 0050b11

唱善哉,如光音天。三者得止息樂,如遍淨

T 0050b12

天。

「復有三法,謂三苦:行苦、苦苦、變易苦。復

T 0050b13

有三法,謂三根:未知欲知根、知根、知已根。

T 0050b14

復有三法,謂三堂:賢聖堂、天堂、梵堂。復有

T 0050b15

三法,謂三發:見發、聞發、疑發。復有三法,謂

T 0050b16

三論:過去有如此事,有如是論;未來有

T 0050b17

如此事,有如是論;現在有如此事,有如

T 0050b18

是論。復有三法,謂三聚:正定聚、邪定聚、不定

T 0050b19

聚。復有三法,謂三憂:身憂、口憂、意憂。復有

T 0050b20

三法,謂三長老:年耆長老、法長老、作長老。復

T 0050b21

有三法,謂三眼:肉眼、天眼、慧眼。諸比丘!是

T 0050b22

為如來所說正法,當共撰集,以防諍訟,使

T 0050b23

梵行久立,多所饒益,天、人獲安。

「諸比丘!如

T 0050b24

來說四正法,謂口四惡行:一者妄語,二者兩

T 0050b25

舌,三者惡口,四者綺語。復有四法,謂口四

T 0050b26

善行:一者實語,二者軟語,三者不綺語,四者

T 0050b27

不兩舌。

「復有四法,謂四不聖語:不見言見,

T 0050b28

不聞言聞,不覺言覺,不知言知。復有四法,

T 0050b29

謂四聖語:見則言見,聞則言聞,覺則言覺,

T 0050c01

知則言知。復有四法,謂四種食:摶食、觸食、

T 0050c02

念食、識食。復有四法,謂四受:有現作苦行

T 0050c03

後受苦報;有現作苦行後受樂報;有現作樂

T 0050c04

行後受苦報;有現作樂行後受樂報。復有四

T 0050c05

法,謂四受:欲受、我受、戒受、見受。復有四法,

T 0050c06

謂四縛:貪欲身縛、瞋恚身縛、戒盜身縛、我見

T 0050c07

身縛。

「復有四法,謂四刺:欲刺、恚刺、見刺、慢

T 0050c08

刺。復有四法,謂四生:卵生、胎生、濕生、化生。

T 0050c09

復有四法,謂四念處;於是,比丘內身身觀,

T 0050c10

精勤不懈,憶念不忘,捨世貪憂;外身身觀,

T 0050c11

精勤不懈,憶念不忘,捨世貪憂;內外身身

T 0050c12

觀,精勤不懈,憶念不忘,捨世貪憂。受、意、法

T 0050c13

觀,亦復如是。復有四法,謂四意斷;於是,比

T 0050c14

丘未起惡法,方便使不起;已起惡法,方便

T 0050c15

使滅;未起善法,方便使起;已起善法,方便思

T 0050c16

惟,使其增廣。

「復有四法,謂四神足;於是,比

T 0050c17

丘思惟欲定滅行成就;精進定、意定、思惟定,

T 0050c18

亦復如是。復有四法,謂四禪;於是,比丘除

T 0050c19

欲、惡不善法,有覺、有觀,離生喜、樂,入於初

T 0050c20

禪。滅有覺、觀,內信、一心,無覺、無觀,定生喜、樂,

T 0050c21

入第二禪。離喜修捨、念、進,自知身樂,諸聖

T 0050c22

所求,憶念、捨、樂,入第三禪。離苦、樂行,先滅

T 0050c23

憂、喜、不苦不樂、捨、念、清淨,入第四禪。復有

T 0050c24

四法,謂四梵堂:一慈、二悲、三喜、四捨。復有四

T 0050c25

法,謂四無色定;於是,比丘越一切色想,

T 0050c26

先盡瞋恚想,不念異想,思惟無量空處,

T 0050c27

捨空處已入識處,捨識處已入不用處,

T 0050c28

捨不用處已入有想無想處。

「復有四法,謂

T 0050c29

四法足:不貪法足、不瞋法足、正念法足、正

T 0051a01

定法足。復有四法,謂四賢聖族;於是,比丘

T 0051a02

衣服知足,得好不喜,遇惡不憂,不染不著,

T 0051a03

知所禁忌,知出要路,於此法中精勤不

T 0051a04

懈,成辦其事,無闕無減,亦能教人成辦此

T 0051a05

事,是為第一知足住賢聖族。從本至今,未

T 0051a06

常惱亂;諸天、魔、梵、沙門、婆羅門、天及世間人,

T 0051a07

無能毀罵;飯食、牀臥具、病瘦醫藥,皆悉

T 0051a08

知足,亦復如是。復有四法,謂四攝法:惠施、愛

T 0051a09

語、利人、等利。復有四法,謂四須陀洹支:

T 0051a10

比丘於佛得無壞信,於法、於僧、於戒得無

T 0051a11

壞信。復有四法,謂四受證:見色受證、身受

T 0051a12

滅證、念宿命證、知漏盡證。復有四法,謂四

T 0051a13

道:苦遲得、苦速得、樂遲得、樂速得。

「復有四

T 0051a14

法,謂四聖諦:苦聖諦、苦集聖諦、苦滅聖諦、

T 0051a15

苦出要聖諦。復有四法,謂四沙門果:須陀洹

T 0051a16

果、斯陀含果、阿那含果、阿羅漢果。復有四法,

T 0051a17

謂四處:實處、施處、智處、止息處。復有四法,

T 0051a18

謂四智:法智、未知智、等智、知他人心智。復

T 0051a19

有四法,謂四辯才:法辯、義辯、詞辯、應辯。復

T 0051a20

有四法,謂四識住處:色識住、緣色、住色,與

T 0051a21

愛俱增長,受、想、行識中亦如是住。復有四

T 0051a22

法,謂四扼:欲扼、有扼、見扼、無明扼。復

T 0051a23

有四法,謂四無扼:無欲扼、無有扼、無見

T 0051a24

扼、無無明扼。

「復有四法,謂四淨:戒淨、心淨、

T 0051a25

見淨、度疑淨。復有四法,謂四知:可受知受、

T 0051a26

可行知行、可樂知樂、可捨知捨。復有四

T 0051a27

法,謂四威儀:可行知行、可住知住、可坐

T 0051a28

知坐、可臥知臥。復有四法,謂四思惟:少

T 0051a29

思惟、廣思惟、無量思惟、無所有思惟。復有

T 0051b01

四法,謂四記論:決定記論,分別記論、詰問記

T 0051b02

論、止住記論。復有四法,謂佛四不護法;如

T 0051b03

來身行清淨,無有闕漏,可自防護;口行清

T 0051b04

淨、意行清淨、命行清淨,亦復如是。是為如

T 0051b05

來所說正法,當共撰集,以防諍訟,使梵行

T 0051b06

久立,多所饒益,天、人獲安。

「又,諸比丘!如來

T 0051b07

說五正法,謂五入:眼色、耳聲、鼻香、舌味、身觸。

T 0051b08

復有五法,謂五受陰:色受陰,受、想、行、識受

T 0051b09

陰。復有五法,謂五蓋:貪欲蓋、瞋恚蓋、睡眠蓋、

T 0051b10

掉戲蓋、疑蓋。復有五法,謂五下結:身見結、

T 0051b11

戒盜結、疑結、貪欲結、瞋恚結。復有五法,謂五

T 0051b12

上結:色愛、無色愛、無明、慢、掉。復有五法,謂

T 0051b13

五根:信根、精進根、念根、定根、慧根。復有五法,

T 0051b14

謂五力:信力、精進力、念力、定力、慧力。

「復有五

T 0051b15

法,謂滅盡枝:一者比丘信佛、如來、至真、等

T 0051b16

正覺,十號具足。二者比丘無病,身常安

T 0051b17

三者質直無有諛諂,能如是者,如來則示

T 0051b18

涅槃徑路。四者自專其心,使不錯亂,昔所

T 0051b19

諷誦,憶持不忘。五者善於觀察法之起滅,

T 0051b20

以賢聖行,盡於苦本。復有五法,謂五發:非

T 0051b21

時發、虛發、非義發、虛言發、無慈發。復有五法,

T 0051b22

謂五善發:時發、實發、義發、和言發、慈心發。復

T 0051b23

有五法,謂五憎嫉:住處憎嫉、檀越憎嫉、利養

T 0051b24

憎嫉、色憎嫉、法憎嫉。

「復有五法,謂五趣解

T 0051b25

脫:一者身不淨想,二者食不淨想,三者一切

T 0051b26

行無常想,四者一切世間不可樂想,五者死

T 0051b27

想。復有五法,謂五出要界:一者比丘於欲

T 0051b28

不樂、不動,亦不親近,但念出要,樂於遠離,

T 0051b29

親近不怠,其心調柔,出要離欲,彼所因欲起

T 0051c01

諸漏纏,亦盡捨滅而得解脫,是為欲出要。

T 0051c02

瞋恚出要、嫉妬出要、色出要、身見出要,亦復

T 0051c03

如是。

「復有五法,謂五喜解脫入。若比丘精

T 0051c04

勤不懈,樂閑靜處,專念一心,未解得解,未

T 0051c05

盡得盡,未安得安。何謂五?於是,比丘聞如

T 0051c06

來說法,或聞梵行者說,或聞師長說法,思

T 0051c07

惟觀察,分別法義,心得歡喜,得歡喜已,得

T 0051c08

法愛,得法愛已,身心安隱,身心安隱已,則

T 0051c09

得禪定,得禪定已,得實知見,是為初解脫

T 0051c10

入。於是,比丘聞法喜已,受持諷誦,亦復歡

T 0051c11

喜,為他人說,亦復歡喜,思惟分別,亦復歡

T 0051c12

喜,於法得定,亦復如是。復有五法,謂五人:

T 0051c13

中般涅槃、生般涅槃、無行般涅槃、有行般涅

T 0051c14

槃、上流阿迦尼吒。諸比丘!是為如來所說

T 0051c15

正法,當共撰集,以防諍訟,使梵行久立,多

T 0051c16

所饒益,天、人獲安。

「又,諸比丘!如來說六正

T 0051c17

法,謂內六入:眼入、耳入、鼻入、舌入、身入、意入。

T 0051c18

復有六法,謂外六入:色入、聲入、香入、味入、觸

T 0051c19

入、法入。復有六法,謂六識身:眼識身,耳、鼻、

T 0051c20

舌、身、意識身。復有六法,謂六觸身:眼觸身,

T 0051c21

耳、鼻、舌、身、意觸身。復有六法,謂六受身:眼受

T 0051c22

身,耳、鼻、舌、身、意受身。復有六法,謂六想身:

T 0051c23

色想、聲想、香想、

想、觸想、法想。復有六法,

T 0051c24

謂六思身:色思、聲思、香思、味思、觸思、法思。

T 0051c25

復有六法,謂六愛身:色愛身,聲、香、味、觸、法愛

T 0051c26

身。復有六法,

六諍本:若比丘好瞋不捨,

T 0051c27

不敬如來,亦不敬法,亦不敬眾,於戒穿

T 0051c28

漏,染汙不淨;好於眾中多生

訟,人所憎

T 0051c29

惡,嬈亂淨眾,天、人不安。諸比丘!汝等當自

T 0052a01

內觀,設有瞋恨,如彼嬈亂者,當集和合

T 0052a02

眾,廣設方便,拔此諍本;汝等又當專念自

T 0052a03

觀,若結恨已滅,當更方便,遮止其心,勿復

T 0052a04

使起。諸比丘!佷戾不諦、慳恡嫉妬、巧偽虛

T 0052a05

妄、自因己見、謬受不捨、迷於邪見、與邊

T 0052a06

見俱,亦復如是。復有六法,謂六界:地界、火

T 0052a07

界、水界、風界、空界、識界。復有六法,謂六察行:

T 0052a08

眼察色,耳聲、鼻香、舌味、身觸、意察法。

「復有

T 0052a09

六法,謂六出要界。若比丘作是言:『我修慈

T 0052a10

心,更生瞋恚。』餘比丘語言:『汝勿作此言,勿

T 0052a11

謗如來,如來不作是說:欲使修慈解脫,

T 0052a12

更生瞋恚想,無有是處。佛言:除瞋恚已,然

T 0052a13

後得慈。』若比丘言:『我行悲解脫,生憎嫉心;

T 0052a14

行喜解脫,生憂惱心;行捨解脫,生憎愛心;

T 0052a15

行無我行,生狐疑心;行無想行,生眾亂想。』

T 0052a16

亦復如是。復有六法,謂六無上:見無上、聞無

T 0052a17

上、利養無上、戒無上、恭敬無上、憶念無上。復

T 0052a18

有六法,謂六思念:佛念、法念、僧念、戒念、施念、

T 0052a19

天念。是為如來所說正法,當共撰集,以防諍

T 0052a20

訟,使梵行久立,多所饒益,天、人獲安。

「諸比

T 0052a21

丘!如來說七正法,謂七非法:無信、無慙、無愧、

T 0052a22

少聞、懈怠、多忘、無智。復有七法,謂七正法:有

T 0052a23

信、有慚、有愧、多聞、精進、總持、多智。復有七法,

T 0052a24

謂七識住:或有眾生,若干種身,若干種想,天

T 0052a25

及人是,是初識住;或有眾生,若干種身而一

T 0052a26

想者,梵光音天最初生時是,是二識住;或有

T 0052a27

眾生,一身若干種想,光音天是,是三識住;或

T 0052a28

有眾生,一身一想,遍淨天是,是四識住;或

T 0052a29

有眾生,空處住、識處住、不用處住。

「復有七

T 0052b01

法,謂七勤法:一者比丘勤於戒行,二者勤

T 0052b02

滅貪欲,三者勤破邪見,四者勤於多聞,五

T 0052b03

者勤於精進,六者勤於正念,七者勤於禪

T 0052b04

定。復有七法,謂七想:不淨想、食不淨想、一

T 0052b05

切世間不可樂想,無想、無常想、無常苦想、

T 0052b06

苦無我想。復有七法,謂七三昧具:正見、正思、

T 0052b07

正語、正業、正命、正方便、正念。復有七法,謂七

T 0052b08

覺意:念覺意、法覺意、精進覺意、喜覺意、猗覺

T 0052b09

意、定覺意、護覺意。是為如來所說正法,當共

T 0052b10

撰集,以防諍訟,使梵行久立,多所饒益,天、

T 0052b11

人獲安。

「諸比丘!如來說八正法,謂世八法:

T 0052b12

利、衰、毀、譽、稱、譏、苦、樂。復有八法,謂八解脫:色

T 0052b13

觀色,一解脫;內無色想觀外色,二解脫;淨解脫,

T 0052b14

三解脫;度色想滅瞋恚想住空處解脫,四解

T 0052b15

脫;度空處住識處,五解脫;度識處住不用處,

T 0052b16

六解脫;度不用處住有想無想處,七解脫;度

T 0052b17

有想無想處住想知滅,八解脫。復有八法,謂

T 0052b18

八聖道:正見、正志、正語、正業、正命、正方便、正

T 0052b19

念、正定。復有八法,謂八人:須陀洹向、須陀洹、

T 0052b20

斯陀含向、斯陀含、阿那含向、阿那含、阿羅漢

T 0052b21

向、阿羅漢。是為如來所說正法,當共撰集,

T 0052b22

以防諍訟,使梵行久立,多所饒益,天、人獲

T 0052b23

安。

「諸比丘!如來說九正法,所謂九眾生居:

T 0052b24

或有眾生,若干種身,若干種想,天及人是,是

T 0052b25

初眾生居;復有眾生,若干種身而一想者,梵

T 0052b26

光音天最初生時是,是二眾生居;復有眾生,

T 0052b27

一身若干種想,光音天是,是三眾生居;復有

T 0052b28

眾生,一身一想,遍淨天是,是四眾生居;復

T 0052b29

有眾生,無想無所覺知,無想天是,是五眾生

T 0052c01

居;復有眾生,空處住,是六眾生居;復有眾

T 0052c02

生,識處住,是七眾生居;復有眾生,不用處

T 0052c03

住,是八眾生居;復有眾生,住有想無想處,

T 0052c04

是九眾生居。是為如來所說正法,當共撰集,

T 0052c05

以防諍訟,使梵行久立,多所饒益,天、人獲

T 0052c06

安。

「諸比丘!如來說十正法,所謂十無學法,

T 0052c07

無學正見、正思、正語、正業、正命、正念、正方便、正

T 0052c08

定、正智、正解脫。是為如來所說正法,當共撰

T 0052c09

集,以防諍訟,使梵行久立,多所饒益,天、人

T 0052c10

獲安。」

爾時,世尊印可舍利弗所說。時,諸比丘

T 0052c11

聞舍利弗所說,歡喜奉行。

T 0052c12

佛說長阿含經卷第八

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc