Nội dung bài kinh
Kệ tóm tắt:
Thiện pháp, Trú độ thọ,
Thành, Thủy, Mộc tích dụ,
Thiện nhân vãng, Thế phước,
Nhật, Xa, Lậu tận bảy
Tôi nghe như vầy:
Một thời Thế Tôn trú tại tại nước Xá-vệ, ở trong rừng Thắng Lâm vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Tỳ-kheo nào thành tựu bảy pháp tất được hoan hỷ an lạc trong pháp Hiền Thánh, thẳng tiến đến lậu tận. Bảy pháp đó là gì? Đó là biết pháp, biết nghĩa, biết thời, biết tiết độ, biết mình, biết chúng hội và biết sự hơn kém của người.
(1) “Thế nào gọi là Tỳ-kheo biết pháp? Nghĩa là Tỳ-kheo biết chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ-tha, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu và thuyết nghĩa. Ấy là Tỳ-kheo biết pháp.
Nếu Tỳ-kheo không biết pháp, tức không biết chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tha, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu và thuyết nghĩa. Tỳ-kheo như vầy là không biết pháp.
Tỳ-kheo nào khéo biết rõ pháp, đó là biết chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tha, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu và thuyết nghĩa. Ấy là Tỳ-kheo khéo biết rõ pháp.
(2) “Thế nào gọi là Tỳ-kheo biết nghĩa? Nghĩa là Tỳ-kheo biết nghĩa của giáo thuyết này hay giáo thuyết kia, biết điều này có nghĩa như thế kia, biết điều kia có nghĩa như thế này. Đó là Tỳ-kheo biết nghĩa.
Nếu Tỳ-kheo không biết nghĩa tức là Tỳ-kheo không biết nghĩa của giáo thuyết này hay giáo thuyết kia; không biết điều này có nghĩa như thế kia, điều kia có nghĩa như thế này. Tỳ-kheo như vậy là không biết nghĩa.
Tỳ-kheo nào khéo biết rõ nghĩa, đó là biết nghĩa của giáo thuyết này hay giáo thuyết kia, biết điều này có nghĩa như thế kia, biết điều kia có nghĩa như thế này. Đó là Tỳ-kheo khéo biết rõ nghĩa.
(3) “Thế nào gọi là Tỳ-kheo biết thời? Đó là Tỳ-kheo biết thời nào nên tu phương pháp thấp, thời nào nên tu phương pháp cao, thời nào nên tu phương pháp xả. Ấy là Tỳ-kheo biết thời.
Tỳ-kheo nào không biết thời tức là không biết thời nào nên tu phương pháp thấp, thời nào nên tu phương pháp cao, thời nào nên tu phương pháp xả. Tỳ-kheo như vậy là không biết thời.
Tỳ-kheo nào khéo biết rõ thời, đó là biết thời nào nên tu phương pháp thấp, thời nào nên tu phương pháp cao, thời nào nên tu phương pháp xả. Ấy là Tỳ-kheo khéo biết rõ thời.
(4) “Thế nào là Tỳ-kheo biết tiết độ? Đó là Tỳ-kheo biết tiết độ trong việc ăn, uống, đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng, im lặng, giảm bớt ngủ nghỉ, tu tập chánh trí. Ấy là Tỳ-kheo biết tiết độ.
Tỳ-kheo nào không biết tiết độ tức là Tỳ-kheo không biết tiết độ trong việc ăn, uống, đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng, im lặng, đại tiểu tiện, giảm bớt ngủ nghỉ, tu tập chánh trí. Tỳ-kheo như vậy là không biết tiết độ.
Tỳ-kheo nào khéo biết rõ sự tiết độ, đó là biết tiết độ trong việc ăn, uống, đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng, im lặng, giảm bớt ngủ nghỉ, tu tập chánh trí. Ấy là Tỳ-kheo khéo biết rõ sự tiết độ.
(5) “Thế nào là Tỳ-kheo biết mình? Tỳ-kheo tự biết mình có mức độ ấy tín, giới, thí, tuệ, biện, A-hàm và sở đắc. Tỳ-kheo như vậy là biết mình.
Tỳ-kheo nào không biết mình tức là không tự biết mình có mức độ ấy tín, giới, văn, thí, tuệ, biện, a-hàm và sở đắc. Tỳ-kheo như vậy là không biết mình.
Tỳ-kheo nào khéo tự biết rõ mình, đó là biết mình có mức độ ấy tín, giới thí, tuệ, biện, a-hàm và sở đắc. Tỳ-kheo như vậy là khéo biết rõ mình.
(6) “Thế nào là Tỳ-kheo biết chúng hội? Tỳ-kheo biết đây là chúng hội Sát-lị, đây là Bà-la-môn, đây là chúng hội Cư sĩ, đây là chúng hội Sa-môn. Ở nơi các chúng hội ấy, ta nên đi như vậy, đứng như vậy, ngồi như vậy, nói như vậy, im lặng như vậy. Ấy là Tỳ-kheo biết chúng hội.
Tỳ-kheo nào không biết chúng hội tức là không biết đây là chúng hội Sát-lị, đây là chúng hội Bà-la-môn, đây là chúng hội Cư sĩ, đây là chúng hội Sa-môn. Ở nơi các chúng hội ấy, ta nên đi như vậy, đứng như vậy, ngồi như vậy, nói như vậy, im lặng như vậy. Tỳ-kheo như vậy là không biết chúng hội.
Tỳ-kheo nào khéo biết rõ chúng hội, đó là biết đây là chúng hội Sát-lị, đây là Bà-la-môn, đây là chúng hội Cư sĩ, đây là chúng hội Sa-môn. Ở nơi các chúng hội ấy, ta nên đi như vậy, đứng như vậy, ngồi như vậy, nói như vậy, im lặng như vậy. Ấy là Tỳ-kheo khéo biết rõ chúng hội.
(7) “Thế nào là Tỳ-kheo biết sự hơn kém của người? Đó là Tỳ-kheo biết có hai hạng người: có tín và có bất tín, người có tín là hơn, người bất tín là kém.
Người có tín lại có hai hạng: Thường đến gặp Tỳ-kheo và không thường đến gặp Tỳ-kheo. Người đến gặp thấy Tỳ-kheo là hơn, người không thường đến gặp Tỳ-kheo là kém.
Người thường đến gặp Tỳ-kheo lại có hai hạng: có lễ kính và không lễ kính. Người có lễ kính là hơn; người không lễ kính là kém.
Người có lễ kính lại có hai hạng: có hỏi Kinh và không hỏi Kinh. Người có hỏi Kinh là hơn, người không hỏi Kinh là kém.
Người có hỏi Kinh lại có hai hạng: nhất tâm nghe Kinh và không nhất tâm nghe Kinh. Người nhất tâm nghe Kinh là hơn, người không nhất tâm nghe Kinh là kém.
Người nhất tâm nghe Kinh có hai hạng: nghe rồi thọ trì pháp và nghe rồi không thọ trì pháp. Người nghe rồi thọ trì pháp là hơn, người nghe rồi không thọ trì pháp là kém.
Người nghe rồi thọ trì pháp lại có hai hạng: nghe pháp có quán sát nghĩa và nghe pháp không quán sát nghĩa. Người nghe pháp có quán sát nghĩa là hơn, người nghe pháp không quán sát nghĩa là kém.
Hạng nghe pháp quán sát nghĩa lại có hai: biết pháp, biết nghĩa, hướng đến pháp tùy pháp, tùy thuận pháp, thực hành đúng như pháp; và hạng không biết pháp, không biết nghĩa, không hướng về pháp và thứ pháp, tùy thuận pháp và thực hành đúng như pháp.
Người biết pháp, biết nghĩa, hướng về pháp và thứ pháp, tùy thuận pháp, thực hành đúng như pháp là hơn; người không biết pháp, không biết nghĩa, không hướng đến pháp tùy pháp, không tùy thuận pháp, không thực hành đúng như pháp là thấp kém.
Hạng biết pháp, biết nghĩa, hướng đến pháp tùy pháp, tùy thuận pháp, thực hành như pháp lại có hai hạng: Tự làm ích lợi cho mình và cũng làm ích lợi cho người khác, làm ích lợi cho mọi người, xót thương thế gian, cầu nghĩa lợi và lợi, an ổn khoái lạc cho trời và người; và hạng không tự làm lợi ích cho mình và cũng không làm lợi ích cho người, không xót thương thế gian, không cầu nghĩa lợi và lợi, an ổn khoái lạc cho trời và người.
Nếu người nào tự làm lợi ích, cũng làm lợi ích cho người, làm lợi ích cho mọi người, xót thương thế gian, cầu nghĩa lợi và lợi, an ổn và khoái lạc cho trời người, người ấy là bậc nhất, là lớn, là trên, là tối cao, là hơn hết, là tôn quí, là tuyệt diệu giữa mọi người khác.
Ví như từ bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sinh tô, từ sinh tô có thục tô, từ thục tô có tô tinh. Tô tinh là thứ bậc nhất, là lớn, là trên, là tối cao, là hơn hết, là tôn quí, là tuyệt diệu đối với những loại kia. Cũng vậy, nếu người nào tự làm lợi ích cho mọi người, xót thương thế gian, cầu nghĩa lợi và lợi, an ổn khoái lạc cho trời người, trong hai hạng người như trên đã nói, đã phân biệt, đã thi thiết, người ấy là bậc nhất, là lớn, là trên, là tối cao, là hơn hết, là tôn quí, là tuyệt diệu. Ấy là Tỳ-kheo biết sự hơn kém của người.
Phật thuyết như vậy. Các vị Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
T 0421a01
T 0421a03
中阿含七法品第一
(有十經)
(初一日誦)
(有五品半合有六十四經)
中阿含經卷第一
T 0421a04
T 0421a05
東晉孝武及安帝世隆安元年十一
T 0421a06
月至二年六月了於東亭寺罽賓三藏
T 0421a07
瞿曇僧伽提婆譯道祖筆受
T 0421a08
T 0421a10
善法、晝度樹 城、水、木積喻
T 0421a11
善人往、世福 日、車、漏盡七
T 0421a12
T 0421a13
我聞如是:
一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤
T 0421a14
獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「若有比丘成就
T 0421a15
七法者,便於賢聖得歡喜樂,正趣漏盡。云
T 0421a16
何為七?謂比丘知法、知義、知時、知節、知
T 0421a17
己、知眾、知人勝如。
「云何比丘為知法耶?謂
T 0421a18
比丘知正經、歌詠、記說、偈咃、因緣、撰錄、
T 0421a19
本起、此說、生處、廣解、未曾有法及說是義,
T 0421a20
是謂比丘為知法也。若有比丘不知法者,
T 0421a21
謂不知正經、歌詠、記說、偈咃、因緣、撰錄、本
T 0421a22
起、此說、生處、廣解、未曾有法及說義,如是比
T 0421a23
丘為不知法。若有比丘善知法者,謂知正
T 0421a24
經、歌詠、記說、偈咃、因緣、撰錄、本起、此說、生處、廣
T 0421a25
解、未曾有法及說義,是謂比丘善知法也。
「云
T 0421a26
何比丘為知義耶?謂比丘知彼彼說義是彼
T 0421a27
義、是此義,是謂比丘為知義也。若有比丘
T 0421a28
不知義者,謂不知彼彼說義是彼義、是此
T 0421a29
義,如是比丘為不知義。若有比丘善知
T 0421b01
義者,謂知彼彼說義是彼義、是此義,是謂
T 0421b02
比丘善知義也。
「云何比丘為知時耶?謂比
T 0421b03
丘知是時修下相,是時修高相,是時修捨
T 0421b04
相,是謂比丘為知時也。若有比丘不知
T 0421b05
時者,謂不知是時修下相,是時修高相,是
T 0421b06
時修捨相,如是比丘為不知時。若有比
T 0421b07
丘善知時者,謂知是時修下相,是時修高
T 0421b08
相,是時修捨相,是謂比丘善知時也。
「云何
T 0421b09
比丘為知節耶?謂比丘知節,若飲若食、若
T 0421b10
去若住、若坐若臥、若語若默、若大小便,捐
T 0421b11
除睡眠,修行正智,是謂比丘為知節也。若
T 0421b12
有比丘不知節者,謂不知若飲若食、若去
T 0421b13
若住、若坐若臥、若語若默、若大小便,捐除睡
T 0421b14
眠,修行正智,如是比丘為不知節。若有
T 0421b15
比丘善知節者,謂知若飲若食,若去若住,若
T 0421b16
坐若臥、若語若默、若大小便,捐除睡眠,
T 0421b17
修行正智,是謂比丘善知節也。
「云何比丘
T 0421b18
為知己耶?謂比丘自知我有爾所信、戒、聞、
T 0421b19
施、慧、辯、阿含及所得,是謂比丘為知己也。
T 0421b20
若有比丘不知己者,謂不自知我有爾
T 0421b21
所信、戒、聞、施、慧、辯、阿含及所得,如是比丘為
T 0421b22
不知己。若有比丘善知己者,謂自知我
T 0421b23
有爾所信、戒、聞、施、慧、辯、阿含及所得,是謂比
T 0421b24
丘善知己也。
「云何比丘為知眾耶?謂比丘
T 0421b25
知此剎利眾、此梵志眾、此居士眾、此沙門
T 0421b26
眾,我於彼眾應如是去、如是住、如是坐、
T 0421b27
如是語、如是默,是謂比丘為知眾也。若有
T 0421b28
比丘不知眾者,謂不知此剎利眾、此梵志
T 0421b29
眾、此居士眾、此沙門眾,我於彼眾應如是
T 0421c01
去、如是住、如是坐、如是語、如是默,如是比
T 0421c02
丘為不知眾。若有比丘善知眾者,謂知
T 0421c03
此剎利眾、此梵志眾、此居士眾、此沙門眾、我
T 0421c04
於彼眾應如是去、如是住、如是坐、如是語、
T 0421c05
如是默,是謂比丘善知眾也。
「云何比丘知
T 0421c06
人勝如?謂比丘知有二種人,有信、有不信;
T 0421c07
若信者勝,不信者為不如也。謂信人復有
T 0421c08
二種,有數往見比丘、有不數往見比丘;若
T 0421c09
數往見比丘者勝,不數往見比丘者為不
T 0421c10
如也。謂數往見比丘人復有二種,有禮敬
T 0421c11
比丘、有不禮敬比丘;若禮敬比丘者勝,不
T 0421c12
禮敬比丘者為不如也。謂禮敬比丘人復
T 0421c13
有二種,有問經、有不問經;若問經者勝,
T 0421c14
不問經者為不如也。謂問經人復有二種,
T 0421c15
有一心聽經、有不一心聽經;若一心聽
T 0421c16
經者勝,不一心聽經者為不如也。謂一
T 0421c17
心聽經人復有二種,有聞持法、有聞不
T 0421c18
持法;若聞持法者勝,聞不持法者為不
T 0421c19
如也。謂聞持法人復有二種,有聞法觀
T 0421c20
義、有聞法不觀義;若聞法觀義者勝,聞
T 0421c21
法不觀義者為不如也。謂聞法觀義人
T 0421c22
復有二種,有知法、知義、向法次法、隨順
T 0421c23
於法、如法行之;有不知法、不知義、不向
T 0421c24
法次法、不隨順法、不如法行。若知法、知
T 0421c25
義、向法次法、隨順於法、如法行者勝;不知
T 0421c26
法、不知義、不向法次法、不隨順法、不
T 0421c27
如法行者為不如也。謂知法、知義、向法
T 0421c28
次法、隨順於法、如法行人復有二種,有
T 0421c29
自饒益,亦饒益他,饒益多人,愍傷世間,為
T 0422a01
天、為人求義及饒益,求安隱快樂;有不自
T 0422a02
饒益,亦不饒益他,不饒益多人,不愍傷
T 0422a03
世間,不為天、不為人求義及饒益,求安
T 0422a04
隱快樂。若自饒益,亦饒益他,饒益多人,愍
T 0422a05
傷世間,為天、為人求義及饒益,求安隱
T 0422a06
快樂者,此人於彼人中為極第一,為大、為
T 0422a07
上、為最、為勝、為尊、為妙。譬如因牛有乳,
T 0422a08
因乳有酪,因酪有生酥,因生酥有熟酥,
T 0422a09
因熟酥有酥精,酥精者,於彼中為極第一,
T 0422a10
為大、為上、為最、為勝、為尊、為妙,如是若
T 0422a11
人自饒益,亦饒益他,饒益多人,愍傷世間,
T 0422a12
為天、為人求義及饒益,求安隱快樂。此二
T 0422a13
人如上所說,如上分別,如上施設,此為第
T 0422a14
一,為大,為上、為最、為勝、為尊、為妙,是謂
T 0422a15
比丘知人勝如。」
佛說如是。彼諸比丘聞佛
T 0422a16
所說,歡喜奉行。
T 0422a17
善法經第一竟
(一千四百二十三字)
T 0422a18