Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

135. Kinh thiện sanh (MA135)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật trú tại thành Vương-xá, trong rừng Nhiêu hà mô.

Bấy giờ, trong thành Vương xá có con của vị Cư sĩ tên là Thiện Sanh. Khi người cha sắp lâm chung, nhân sáu phương mà trối trăn, khéo dạy khéo quở rằng:

“Này Thiện Sanh! Sau khi cha mất, con phải chắp tay mà lạy sáu phương rằng: Ở phương Đông, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.

“Cũng như vậy, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, trên, dưới, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.”

Thiện Sanh, con trai Cư sĩ, nghe cha dạy xong, thưa rằng:

“Con xin vâng theo lời cha dạy bảo.”

Sau khi cha mất, vào mỗi sáng sớm, Thiện Sanh tắm gội xong, mặc áo sô-ma mới, tay cầm lá câu-xá còn tươi, đi đến bờ sông, chắp tay lạy sáu phương:

“Ở phương Đông, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.

“Cũng như vậy, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, trên, dưới, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.”

Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Đức Thế Tôn mang y, cầm bát vào thành Vương xá khất thực. Khi Đức Thế Tôn vào thành Vương xá khất thực, từ xa trông thấy Thiện Sanh, con vị Cư sĩ, vào lúc sáng sớm, tắm gội, mặc áo sô-ma mới, tay cầm lá câu-xá còn tươi, đi đến bờ sông, chắp tay lạy sáu phương:

“Ở phương Đông, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.

“Cũng như vậy, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, trên, dưới, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.”

Đức Thế Tôn thấy thế, liền đi đến gần, hỏi Thiện Sanh, con trai Cư sĩ:

“Này con trai Cư sĩ, ông thọ nhận sự giáo hóa của Sa-môn, Bà-la-môn nào? Ai dạy ông cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng sáu phương? Mà vào mỗi buổi sáng tắm rửa, mặc áo sô-ma mới, tay cầm lá câu-xá còn tươi, đi đến bờ sông, chắp tay lạy sáu phương:

“—Ở phương Đông, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.

“—Cũng như vậy, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, trên, dưới, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi?”

Thiện Sanh, con trai Cư sĩ, thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, không có vị Sa-môn, Bà-la-môn nào dạy con cả. Bạch Thế Tôn, cha con khi sắp lâm chung, nhân sáu phương mà trối lại con, khéo dạy, khéo quở rằng: Này Thiện Sanh! Sau khi cha mất, con phải chắp tay mà lạy sáu phương rằng: Ở phương Đông, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.

“ Cũng như vậy, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, trên, dưới, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.

“Bạch Thế Tôn, con vâng lời trối của cha nên con cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng. Mỗi sáng sớm tắm gội, mặc áo sô-ma mới, tay cầm lá câu-xá còn tươi đi đến bờ sông, chắp tay lạy sáu phương rằng: Phương Đông nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.

“Cũng như vậy, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, trên, dưới, nếu có chúng sanh nào thì tôi hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó. Khi tôi đã hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng chúng sanh đó rồi, chúng sanh đó cũng hết lòng cung kính, cúng dường, lễ bái, thờ phụng lại tôi.”

Đức Thế Tôn sau khi nghe như vậy, Ngài nói rằng:

“Này con trai Cư sĩ, Ta nói có sáu phương, chớ không nói là không có. Này con trai Cư sĩ, nếu có người khéo phân biệt sáu phương, xa lìa những nghiệp ác bất thiện ở bốn phương, người đó ngay trong đời này đáng được cung kính, tôn trọng. Sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sẽ sanh đến thiện xứ, sanh vào cõi trời. Này con trai Cư sĩ, chúng sanh có bốn loại nghiệp, bốn loại ô uế. Những gì là bốn? Này con trai Cư sĩ, sát sanh là một loại nghiệp, một loại ô uế của chúng sanh; lấy vật không được cho, tà dâm, vọng ngôn, là một loại nghiệp, một loại ô uế của chúng sanh.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ này:

Sát sanh cùng trộm cắp,

Tà dâm lấy vợ người,

Lời nói không chân thật,

Bậc trí không ngợi khen.

“Này con trai Cư sĩ, con người do bốn việc mà bị nhiều tội lỗi. Bốn việc đó là gì? Đó là bị dục chi phối, bị sân hận chi phối, bị sợ hãi chi phối và bị ngu si chi phối.”

Rồi Đức Phật dạy tiếp bài kệ:

Dục, nhuế, bố và si;

Hành vi ác, phi pháp,

Thanh danh tất bị diệt,

Như mặt trăng sắp tàn.

“Này con trai Cư sĩ, con người do bốn việc mà được nhiều phước. Bốn việc đó là gì? Đó là không bị dục chi phối, không bị sân hận chi phối, không bị sợ hãi chi phối và không bị ngu si chi phối.”

Khi ấy, Đức Thế Tôn dạy bài kệ:

Đoạn dục, không nhuế, bố,

Không si, hành pháp hành;

Thanh danh được tròn đủ,

Như mặt trăng dần đầy.

“Này con trai Cư sĩ, kẻ mong cầu của cải nên biết sáu điều phi đạo. Sáu điều đó là gì? Một là chơi bời cờ bạc các thứ mà mong cầu tài vật là phi pháp. Hai là rong chơi không phải lúc mà mong cầu tài vật là phi pháp. Ba là đam mê rượu chè mà mong cầu tài vật là phi pháp. Bốn là gần gũi ác tri thức mà mong cầu tài vật là phi pháp. Năm là đam mê kỹ nhạc mà mong cầu tài vật là phi pháp. Sáu là quen lười biếng mà mong cầu tài vật là phi pháp.

“Này con của vị Cư sĩ, với kẻ chơi bời bài bạc, nên biết có sáu tai họa. Sáu tai họa đó là gì? Một là, thắng thì sanh oán thù. Hai là, thua thì sanh xấu hổ. Ba là, mắc nợ thì ngủ không yên. Bốn là, khiến kẻ thù vui mừng. Năm là, khiến thân thuộc lo âu. Sáu là, nói giữa đám đông không ai tin dùng. Này con trai Cư sĩ, người chơi bài bạc thì làm việc không kinh doanh. Làm việc không kinh doanh thì công nghiệp không thành. Tài vật chưa có được thì không thể có được. Tài vật đã có sẵn thì càng lúc càng tiêu hao.

“Này con trai Cư sĩ, với người rong chơi không phải lúc, nên biết có sáu món tai họa. Sáu món đó là gì? Một là không tự giữ mình. Hai là không giữ gìn tài vật. Ba là không giữ gìn vợ con. Bốn là bị người nghi ngờ. Năm là sanh nhiều khổ hoạn. Sáu là bị người hủy báng. Này con trai Cư sĩ, người rong chơi không phải lúc thì việc làm không kinh doanh. Việc làm không kinh doanh thì công nghiệp không thành. Tài vật chưa có được thì không thể có. Tài vật đã có sẵn thì càng lúc càng tiêu hao.

“Này con của vị Cư sĩ, với người đam mê rượu chè, nên biết có sáu món tai họa. Sáu món đó là gì? Một là tài sản hiện tại bị tổn thất. Hai là thân bị nhiều bệnh hoạn. Ba là đấu tranh càng tăng trưởng. Bốn là để lộ chỗ kín. Năm là tổn thất danh tiếng. Sáu là mất trí, thành ngu. Này con của vị Cư sĩ, người đam mê rượu thì việc làm không kinh doanh được. Việc làm không kinh doanh thì công nghiệp không thành. Tài vật chưa có được thì không thể có. Tài vật đã có sẵn thì càng lúc càng bị tiêu hao.

“Này con nhà Cư sĩ, người gần gũi tri thức ác, nên biết có sáu món tai họa. Sáu món đó là gì? Một là thân cận giặc cướp. Hai là thân cận kẻ lừa gạt. Ba là thân cận kẻ say sưa. Bốn là thân cận kẻ buông lung. Năm là tụ hội chơi bời. Sáu là lấy đó làm thân hữu, lấy đó làm bạn đồng hành. Này con nhà Cư sĩ, người gần gũi ác tri thức thì việc làm không kinh doanh. Việc làm không kinh doanh thì công nghiệp không thành. Tài vật chưa có được thì không thể có. Tài vật đã có sẵn thì càng lúc càng bị tiêu hao.

Này con trai Cư sĩ, với người đam mê kỹ nhạc, nên biết có sáu món tai họa. Sáu món đó là gì? Một là mê nghe ca. Hai là mê xem vũ. Ba là mê đánh nhạc. Bốn là mê xem lắc chuông. Năm là thích vỗ tay. Sáu là thích tụ hội đông người. Này con nhà Cư sĩ, người đam mê kỹ nhạc không phải lúc thì việc làm không kinh doanh. Việc làm không kinh doanh thì công nghiệp không thành. Tài vật chưa có được thì không thể có. Tài vật đã có sẵn thì càng lúc càng bị tiêu hao.

“Này con nhà Cư sĩ, với người lười biếng, nên biết có sáu tai họa. Sáu món đó là gì? Một là quá sớm, không làm việc. Hai là quá trễ, không làm việc. Ba là quá lạnh, không làm việc. Bốn là quá nóng, không làm việc. Năm là quá no, không làm việc. Sáu là quá đói, không làm việc. Này con nhà Cư sĩ, người lười biếng không phải lúc thì việc làm không kinh doanh được. Việc làm không kinh doanh thì công nghiệp không thành. Tài vật chưa có được thì không thể có. Tài vật đã có sẵn thì càng lúc càng bị tiêu hao.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ này:

Bài bạc, đuổi theo sắc,

Nghiện rượu, thích đánh nhạc,

Gần gũi ác tri thức,

Lười biếng không làm việc,

Buông lung không giữ mình;

Những thứ ấy hại người.

Tới lui không giữ gìn,

Tà dâm, lấy vợ người,

Trong tâm thường kết oán,

Cầu nguyện không có lợi,

Uống rượu, nhớ nữ sắc;

Những thứ ấy hại người.

Thường xuyên hành bất thiện,

Ngoan cố không nghe lời,

Chửi Sa-môn, Bà-la-môn,

Điên đảo có tà kiến,

Hung bạo làm nghiệp đen,

Những thứ ấy hại người.

Thiếu thốn không của cải,

Uống rượu, mất áo quần,

Mang nợ, như chìm suối,

Kẻ ấy phá họ hàng;

Thường đi đến lò rượu,

Gần gũi bằng hữu xấu,

Muốn được của không được,

Lấy bạn bè làm vui.

Có nhiều bạn hữu ác,

Thường theo bạn không lành,

Đời nay và đời sau,

Hai đời đều bại hoại.

Người làm ác giảm lần;

Làm lành lần hưng thạnh.

Tập thù thắng càng tăng.

Cho nên phải tập thắng;

Tập thắng thì được thắng;

Thường theo trí tuệ thắng.

Càng được giới thanh tịnh,

Càng an vui vi diệu.

Ngày thì ưa ngủ nghỉ,

Đêm lại thích rong chơi;

Buông lung, thường uống rượu;

Ở nhà không yên được.

Quá lạnh và quá nóng,

Đều lười biếng không làm;

Rốt cuộc không sự nghiệp,

Không kiếm ra tài vật.

Hoặc lạnh và quá nóng,

Bất kể, như ngọn cỏ.

Siêng làm việc như vậy,

Suốt đời đều an vui.

“Này con nhà Cư sĩ, có bốn hạng người không thân cận, tuồng như thân cận. Bốn hạng người đó là gì? Một là biết việc, thì chẳng phải thân cận in tuồng thân cận. Hai là trước mặt nói lời dịu ngọt, thì chẳng phải thân cận in tuồng như thân cận. Ba là lời nói khéo thì chẳng thân cận in tuồng như thân cận. Bốn là bạn đưa đến chỗ ác thì chẳng thân cận in tuồng như thân cận.

“Này con nhà Cư sĩ, do bốn trường hợp nên người biết việc dù chẳng phải thân cận in tuồng như thân cận. Bốn trường hợp ấy là gì? Một là do biết việc mà đoạt của. Hai là cho ít lấy nhiều. Ba là hoặc vì sợ mà làm. Bốn là hoặc vì lợi mà hùa theo.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Người lấy biết làm việc,

Nói năng rất êm dịu,

Sợ, vì lợi hùa theo,

Biết chẳng thân, tuồng thân.

Nên xa lìa kẻ ấy

Như đường có hiểm họa.

“Này con nhà Cư sĩ, do bốn trường hợp, trước mặt nói lời dịu ngọt, dù chẳng thân cận in tuồng như thân cận. Bốn trường hợp đó là gì? Một là bày ra những việc hay đẹp. Hai là xúi làm các việc ác. Ba là trước mặt ngợi khen. Bốn là sau lưng nói việc xấu.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Nếu đặt chuyện hay ho,

Xúi làm ác bất thiện,

Đối mặt thì ngợi khen,

Sau lưng lại nói xấu;

Nếu biết hay và ác,

Và biết hai lối nói,

Dù thân, không nên thân;

Biết người ấy như vậy,

Nên xa lìa kẻ ấy;

Như đường có hiểm họa.

“Này con nhà Cư sĩ, có bốn trường hợp, nói khéo dù chẳng phải thân cận in tuồng như thân cận. Bốn trường hợp đó là gì? Một là chấp nhận việc đã qua. Hai là bàn bạc việc ngày mai. Ba là dối trá không nói thật. Bốn là việc hiện tại thì hỏng; nhận nói rằng ‘tôi sẽ làm’ nhưng không làm.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Nhận việc qua, chưa đến;

Bàn suông, việc nay hỏng;

Nói làm, nhưng không làm;

Biết chẳng thân như thân;

Nên xa lìa kẻ ấy

Như đường có hiểm họa.

“Này con nhà Cư sĩ, có bốn trường hợp bạn dẫn đến chỗ ác, dù chẳng phải thân cận in tuồng như thân cận. Bốn trường hợp đó là gì? Một là xúi các việc bài bạc. Hai là xúi đi rong chơi không phải thời. Ba là xúi uống rượu. Bốn là xúi thân cận kẻ ác.”

Rồi thì Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Xúi đủ thứ bài bạc

Uống rượu, lấy vợ người;

Thói thấp, không vươn lên;

Nó diệt như trăng tàn.

Nên xa lìa kẻ ấy

Như đường có hiểm họa.

“Này con nhà Cư sĩ, nên biết, có bốn hạng bạn lành. Những gì là bốn? Một là cùng chịu khổ vui, nên biết đó là bạn lành. Hai là thương tưởng, nên biết đó là bạn lành. Ba là khuyên điều lợi, nên biết đó là bạn lành. Bốn là giúp đỡ, nên biết đó là bạn lành.

“Này con nhà Cư sĩ, do bốn việc mà cùng khổ cùng vui. Bốn trường hợp đó là gì? Một là quên mình, vì bạn. Hai là quên tài sản vì bạn. Ba là quên vợ con vì bạn. Bốn là biết nghe lời.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Xả dục, tài, vợ, con,

Lời nói hay kham nhẫn;

Biết thân cùng khổ vui,

Kẻ trí nên làm thân.

“Này con nhà Cư sĩ, do bốn việc mà thương tưởng, nên biết là bạn lành. Những gì là bốn? Một là dạy cho diệu pháp. Hai là ngăn cấm ác pháp. Ba là khen ngợi trước mặt. Bốn là khước từ oán gia.

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Dạy lành, cản việc ác,

Khen trước mặt, tránh thù;

Biết bạn lành thương tưởng,

Kẻ trí nên làm thân.

“Này con nhà Cư sĩ, do bốn việc mà cầu lợi, nên biết là bạn lành. Những gì là bốn? Một là bộc lộ việc kín ra. Hai là không che giấu việc kín. Ba là được lợi nên vui mừng. Bốn là không được lợi, không buồn.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Việc mật, bày không giấu;

Lợi vui; không, chẳng buồn.

Biết bạn lành cầu lợi,

Kẻ trí nên thường thân.

“Này con nhà Cư sĩ, do bốn việc mà giúp đỡ, nên biết bạn lành. Những gì là bốn? Một là biết bạn hết của cải. Hai là biết của cải hết, liền cung cấp vật. Ba là thấy buông lung nên khuyên ngăn. Bốn là thường thương tưởng.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Biết của hết, cho thêm;

Buông lung khuyên; thương tưởng.

Biết bạn lành giúp đỡ,

Kẻ trí nên làm quen.

“Này con nhà Cư sĩ, trong pháp luật của bậc Thánh, có sáu phương: Đông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới.

“Này con nhà Cư sĩ, cũng như đối với phương Đông, con đối với cha mẹ cũng vậy. Người con phải có năm điều thờ kính, phụng dưỡng cha mẹ. Năm điều đó là gì? Một là tăng thêm của cải. Hai là cáng đáng mọi việc. Ba là dâng lên cha mẹ những gì người muốn. Bốn là không tự tác, không trái ý. Năm là tất cả vật riêng của mình đều dâng hết cha mẹ. Người con làm năm việc như trên để phụng dưỡng, thờ kính cha mẹ.

“Cha mẹ cũng lấy năm việc để chăm sóc các con. Năm việc đó là gì? Một là thương yêu con cái. Hai là cung cấp không thiếu. Ba là khiến con không mang nợ. Bốn là gả cưới xứng đáng. Năm là cha mẹ có của cải vừa ý đều giao hết cho con. Cha mẹ bằng năm điều ấy mà chăm sóc các con.

“Này con nhà Cư sĩ, như vậy phương Đông có hai trường hợp phân biệt. Này con nhà Cư sĩ, trong luật pháp của bậc Thánh, phương Đông là giữa con và cha mẹ. Này con nhà Cư sĩ, nếu người từ hiếu với cha mẹ, chắc chắn có sự tăng ích, chứ không có sự suy hao.

“Này con nhà Cư sĩ, cũng như phương Đông, phương Nam có hai trường hợp phân biệt.

“Học trò đối với thầy nên biết năm điều thờ kính, phụng dưỡng thầy. Năm điều đó là gì? Một là khéo cung kính vâng lời. Hai là khéo giúp đỡ, hầu hạ. Ba là hăng hái. Bốn là nghề nghiệp giỏi. Năm là hay thờ kính thầy. Đệ tử lấy năm điều ấy cung kính, phụng dưỡng Sư trưởng.

“Sư trưởng cũng dùng năm việc săn sóc đệ tử. Năm việc đó là gì? Một là dạy cho nên nghề. Hai là dạy dỗ nhanh chóng. Ba là dạy hết những điều mình biết. Bốn là đặt để ở những chỗ lành. Năm là gửi gấm bậc thiện tri thức. Sư trưởng lấy năm điều ấy mà săn sóc đệ tử.

“Này con nhà Cư sĩ, như vậy phương Nam có hai trường hợp phân biệt. Này con nhà Cư sĩ, trong luật pháp của bậc Thánh, phương Nam là giữa học trò và thầy. Này con nhà Cư sĩ, nếu người từ thuận đối với Sư trưởng, chắc chắn có sự tăng ích chứ không có sự suy hao.

“Này con nhà Cư sĩ, cũng như phương Tây, người chồng đối với vợ cũng vậy. Người chồng nên lấy năm việc mà yêu thương, cấp dưỡng vợ. Năm việc đó là gì? Một là thương yêu vợ. Hai là không khinh rẻ. Ba là sắm các thứ chuỗi ngọc, đồ trang điểm. Bốn là ở trong nhà để vợ được tự do. Năm là xem vợ như chính mình. Người chồng lấy năm việc để thương yêu, cấp dưỡng vợ.

“Người vợ phải lấy mười ba điều khéo léo kính thuận chồng. Mười ba điều ấy là gì? Một là thương yêu kính trọng chồng. Hai là cung phụng, kính trọng chồng. Ba là nhớ nghĩ đến chồng. Bốn là trông nom các công việc. Năm là khéo tiếp đãi bà con. Sáu là trước mặt đưa mắt hầu đợi. Bảy là sau lưng thì cử chỉ yêu thương. Tám là lời nói thành thật. Chín là không khóa kín cửa phòng. Mười là thấy đến thì ca ngợi. Mười một là trải sẵn giường mà đợi. Mười hai là bày dọn đồ ăn uống ngon lành, sạch sẽ, dồi dào. Mười ba là cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn. Người vợ lấy mười ba việc ấy để khéo léo kính trọng chồng.

“Này con nhà Cư sĩ, như vậy phương Tây có hai trường hợp phân biệt. Này con nhà Cư sĩ, trong luật pháp của bậc Thánh, phương Tây là giữa vợ với chồng. Này con nhà Cư sĩ, nếu người từ mẫn với vợ, chắc có sự tăng ích, chứ không có sự suy hao.

“Này con nhà Cư sĩ, cũng như phương Bắc, chủ nhà đối với tôi tớ cũng như vậy. Người chủ nhà nên lấy năm điều thương mến chu cấp cho tôi tớ. Năm điều ấy là gì? Một là tùy sức mà sai làm việc. Hai là tùy lúc mà cho ăn. Ba là tùy lúc cho uống. Bốn là hết ngày thì cho nghỉ. Năm là bệnh hoạn cho thuốc thang. Chủ nhà lấy năm việc trên mà thương xót cung cấp cho tôi tớ.

“Tôi tớ cũng nên lấy chín điều mà phụng sự chủ nhà. Chín điều ấy là gì? Một là tùy thời mà làm việc. Hai là chuyên tâm vào công việc. Ba là làm tất cả việc. Bốn là trước mặt thì đưa mắt hầu đợi. Năm là sau lưng thì thương kính mà làm. Sáu là nói lời thành thật. Bảy là khi chủ hoạn nạn thì không bỏ đi. Tám là đi phương xa thì nên khen ngợi chủ. Chín là khen chủ nhà là dễ dãi. Tôi tớ lấy chín điều ấy khéo léo phụng sự chủ nhà.

“Này con nhà Cư sĩ, như vậy phương Bắc có hai trường hợp phân biệt. Này con nhà Cư sĩ, trong luật pháp của bậc Thánh, phương Bắc là giữa chủ nhà và tôi tớ. Này con nhà Cư sĩ, nếu có người thương xót tôi tớ, chắn chắn có sự tăng ích chứ không có sự suy hao.

“Này con nhà Cư sĩ, cũng như phương Dưới, bằng hữu đối với bằng hữu cũng vậy. Thân hữu nên lấy năm việc để ái kính cung cấp thân hữu. năm việc ấy là gì? Một là ái kính. Hai là không khinh mạn. Ba là không dối gạt. Bốn là cho tặng đồ quý. Năm là tìm cách giúp đỡ. Thân hữu lấy năm việc trên để ái kính, cung cấp thân hữu.

“Thân hữu này cũng lấy năm việc để nhớ nghĩ đến thân hữu. Năm việc đó là gì? Một là biết của cải hết. Hai là khi biết của cải hết thì cung cấp của cải. Ba là thấy buông lung thì khuyên răn. Bốn là thương nhớ. Năm là gặp hoạn nạn thì cho nương tựa. Thân hữu lấy năm việc ấy để nhớ nghĩ đến thân hữu.

“Này con nhà Cư sĩ, như vậy, phương Dưới có hai trường hợp phân biệt. Này con nhà Cư sĩ, trong pháp luật của bậc Thánh là thân hữu đối với thân hữu vậy. Này con nhà Cư sĩ, nếu người thương xót thân hữu, chắc chắn có sự tăng ích chứ không phải có sự suy hao.

“Này con nhà Cư sĩ, cũng như phương Trên, thí chủ đối với Sa-môn, Bà-la-môn cũng vậy. Thí chủ nên lấy năm điều để tôn kính, cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn. Năm điều đó là gì? Một là không đóng kín cửa. Hai là thấy đến thì tán thán. Ba là trải giường mà đợi. Bốn là làm các món ăn uống ngon sạch, dồi dào, mà cúng. Năm là đúng như pháp mà hộ trì. Người thí chủ lấy năm điều trên cung kính cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn.

“Sa-môn, Bà-la-môn cũng lấy năm việc để khéo nhớ nghĩ đến thí chủ. Năm việc ấy là gì? Một là dạy cho có tín, hành tín và niệm tín. Hai là dạy các giới cấm. Ba là dạy nghe rộng. Bốn là dạy bố thí. Năm là dạy cho có tuệ, hành tuệ và lập tuệ. Sa-môn, Bà-la-môn lấy năm việc ấy để nhớ nghĩ đến thí chủ.

“Này con nhà Cư sĩ, như vậy phương Trên có hai trường hợp phân biệt. Này con nhà Cư sĩ, trong luật pháp của bậc Thánh, phương trên là giữa thí chủ và Sa-môn, Bà-la-môn. Này con nhà Cư sĩ, nếu người nào tôn kính cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn thì chắc chắn có sự tăng ích chứ không có sự suy hao.

“Này con nhà Cư sĩ, có bốn nhiếp sự. Bốn việc ấy là gì? Một là huệ thí. Hai là lời nói khả ái. Ba là làm lợi cho người. Bốn là có lợi cùng chia.”

Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Huệ thí và ái ngôn,

Thường vì người lợi hành,

Với tất cả đồng lợi,

Khắp nơi đều vang danh.

Sự này duy trì đời

Cũng như người đánh xe.

Nhiếp sự này vắng mặt,

Mẹ không nhân bởi con

Mà được kính phụng dưỡng.

Con đối cha cũng vậy.

Nếu có nhiếp sự này,

Phước hựu thật to lớn;

Chiếu soi như ánh nhật,

Tiếng tốt truyền đi nhanh.

Thông minh, không nói cộc

Như vậy, làm nên danh

Định vững, không cao ngạo;

Tiếng loan truyền đi nhanh

Thành tựu tín và giới,

Như vậy làm nên danh.

Hăng hái, không giải đãi;

Thường cho người uống ăn;

Dìu dắt vào nẻo chánh;

Như vậy làm nên danh.

Bạn bè cùng lân tuất,

Ái lạc có giới hạn;

Giữa người thân, nhiếp sự

Thù diệu như sư tử.

Học nghề, học buổi đầu,

Kiếm lợi, kiếm sau đó.

Sản nghiệp đã dựng thành,

Phân chia làm bốn phần.

Phần cung cấp ẩm thực;

Phần điền giả nông canh;

Phần kho tàng chất chứa,

Phòng khi hữu sự cần;

Gom nông tang, thương cổ,

Thu xuất, lợi một phần.

Thứ năm để cưới vợ;

Thứ sáu làm nhà cửa.

Tại gia sáu sự này,

Hưng thịnh, sống khoái lạc.

Tiền tài sẵn càng đầy,

Như nước xuôi biển cả.

Đời mưu sinh như vầy,

Như ong hút nhụy hoa;

Đời mưu sinh lâu dài,

Sống an lạc hưởng thọ.

Xuất tiền, không xuất xa;

Không tản mác tung ra.

Không thể đem tài vật

Cho hung bạo, ngoan tà.

Phương Đông là cha mẹ;

Phương Nam là tôn sư;

Phương Tây là thê tử;

Phương Bắc là nô tỳ;

Phương Dưới bằng và hữu;

Phương Trên bậc tịnh tu;

Nguyện lễ các phương ấy,

Phước đời này đời sau.

Do lễ các phương ấy,

Thí chủ sanh trời cao.

Phật thuyết như vậy. Thiện Sanh con trai Cư sĩ sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

T 0638c08

我聞如是:

一時,佛遊王舍城,在饒蝦蟆林。

T 0638c09

爾時,善生居士子,父臨終時,因六方故,遺勅

T 0638c10

其子,善教善訶曰:「善生!我命終後,汝當叉手

T 0638c11

向六方禮:『東方若有眾生者,我盡恭敬、供

T 0638c12

養、禮事彼。我盡恭敬、供養、禮事彼已,彼亦

T 0638c13

當恭敬、供養、禮事我。如是南方、西方、北方、下

T 0638c14

方、上方,若有眾生者,我盡恭敬、供養、禮事

T 0638c15

彼。我盡恭敬、供養、禮事彼已,彼亦當恭敬、

T 0638c16

供養、禮事我。』」

善生居士子聞父教已,白父

T 0638c17

曰:「唯。當如尊勅。」

於是,善生居士子,父命終

T 0638c18

後,平旦沐浴,著新蒭磨衣,手執生拘舍葉,

T 0638c19

往至水邊,叉手向六方禮:「東方若有眾生

T 0638c20

者,我盡恭敬、供養、禮事彼。我盡恭敬、供養、禮

T 0638c21

事彼已,彼亦當恭敬、供養、禮事我。如是

T 0638c22

南方、西方、北方、下方、上方,若有眾生者,我盡

T 0638c23

恭敬、供養、禮事彼。我盡恭敬、供養、禮事彼

T 0638c24

已,彼亦當恭敬、供養、禮事我。」

彼時,世尊過夜

T 0638c25

平旦,著衣持鉢,入王舍城而行乞食。世尊

T 0638c26

入王舍城乞食時,遙見善生居士子平旦沐

T 0638c27

浴,著新蒭磨衣,手執生拘舍葉,往至水邊,

T 0638c28

叉手向六方禮:「東方若有眾生者,我盡恭敬、

T 0638c29

供養、禮事彼。我盡恭敬、供養、禮事彼已,彼

T 0639a01

亦當恭敬、供養、禮事我。如是南方、西方、北方、

T 0639a02

下方、上方,若有眾生者,我盡恭敬、供養、禮事

T 0639a03

彼。我盡恭敬、供養、禮事彼已,彼亦當恭敬、

T 0639a04

供養、禮事我。」

世尊見已,往至善生居士子

T 0639a05

所,問曰:「居士子!受何沙門、梵志教,教汝

T 0639a06

恭敬、供養、禮事,平旦沐浴,著新芻磨衣,手

T 0639a07

執生拘舍葉,往至水邊,叉手向六方禮:『東

T 0639a08

方若有眾生者,我盡恭敬、供養、禮事彼。我

T 0639a09

盡恭敬、供養、禮事彼已,彼亦當恭敬、供養、

T 0639a10

禮事我。如是南方、西方、北方、下方、上方,若

T 0639a11

有眾生者,我盡恭敬、供養、禮事彼。我盡恭敬、

T 0639a12

供養、禮事彼已,彼亦當恭敬、供養、禮事我

T 0639a13

耶?』」

善生居士子答曰:「世尊!我不受餘沙門、

T 0639a14

梵志教也。世尊!我父臨命終時,因六方故,

T 0639a15

遺勅於我,善教善訶曰:『善生!我命終後,汝

T 0639a16

當叉手向六方禮:「東方若有眾生者,我盡

T 0639a17

恭敬、供養、禮事彼。我盡恭敬、供養、禮事彼

T 0639a18

已,彼亦當恭敬、供養、禮事我。如是南方、西

T 0639a19

方、北方、下方、上方,若有眾生者,我盡恭敬、供

T 0639a20

養、禮事彼。我盡恭敬、供養、禮事彼已,彼亦

T 0639a21

當恭敬、供養、禮事我。」』世尊!我受父遺教,恭

T 0639a22

敬、供養、禮事故,平旦沐浴,著新芻磨衣,手

T 0639a23

執生拘舍葉,往至水邊,叉手向六方禮:『東

T 0639a24

方若有眾生者,我盡恭敬、供養、禮事彼。我盡

T 0639a25

恭敬,供養、禮事彼已,彼亦當恭敬、供養、禮

T 0639a26

事我。如是南方、西方、北方、下方、上方,若有眾

T 0639a27

生者,我盡恭敬、供養、禮事彼。我盡恭敬、供

T 0639a28

養、禮事彼已,彼亦當恭敬、供養、禮事我。』」

T 0639a29

尊聞已,告曰:「居士子!我說有六方,不說無

T 0639b01

也。居士子!若有人善別六方,離四方惡不

T 0639b02

善業垢,彼於現法可敬可重,身壞命終,必

T 0639b03

至善處,上生天中。居士子!眾生有四種業、

T 0639b04

四種穢。云何為四?居士子!殺生者,是眾生業

T 0639b05

種、穢種,不與取、邪婬、妄言者,是眾生業種、穢

T 0639b06

種。」於是,世尊說此頌曰:

T 0639b07

「殺生不與取,  邪婬犯他妻,

T 0639b08

所言不真實,  慧者不稱譽。

T 0639b09

「居士子!人因四事故,便得多罪。云何為四?

T 0639b10

行欲、行恚、行怖、行癡。」於是,世尊說此頌曰:

T 0639b11

「欲恚怖及癡,  行惡非法行,

T 0639b12

彼必滅名稱,  如月向盡沒。

T 0639b13

「居士子!人因四事故,便得多福。云何為四?

T 0639b14

不行欲、不行恚、不行怖、不行癡。」於是,世

T 0639b15

尊說此頌曰:

T 0639b16

「斷欲無恚怖,  無癡行法行,

T 0639b17

彼名稱普聞,  如月漸盛滿。

T 0639b18

「居士子!求財物者,當知有六非道。云何為

T 0639b19

六?一曰種種戲求財物者為非道。二曰非時

T 0639b20

行求財物者為非道。三曰飲酒放逸求財

T 0639b21

物者為非道。四曰親近惡知識求財物者

T 0639b22

為非道。五曰常喜妓樂求財物者為非

T 0639b23

道。六曰懶惰求財物者為非道。

「居士子!若

T 0639b24

人種種戲者,當知有六災患。云何為六?一

T 0639b25

者負則生怨。二者失則生恥。三者負則眠

T 0639b26

不安。四者令怨家懷喜。五者使宗親懷憂。

T 0639b27

六者在眾所說人不信用。居士子!人博戲

T 0639b28

者,不經營作事,作事不營,則功業不成,未

T 0639b29

得財物,則不能得,本有財物,便轉消耗。

「居士

T 0639c01

子,人非時行者,當知有六災患。云何為六?

T 0639c02

一者不自護。二者不護財物。三者不護妻

T 0639c03

子。四者為人所疑。五者多生苦患。六者為

T 0639c04

人所謗。居士子!人非時行者,不經營作事,

T 0639c05

作事不營,則功業不成,未得財物,則不能

T 0639c06

得,本有財物,便轉消耗。

「居士子!若人飲酒放

T 0639c07

逸者,當知有六災患。一者現財物失。二者

T 0639c08

多有疾患。三者增諸鬪諍。四者隱藏發露。五

T 0639c09

者不稱不護。六者滅慧生癡。居士子!人飲

T 0639c10

酒放逸者,不經營作事,作事不營,則功業不

T 0639c11

成,未得財物,則不能得,本有財物,便轉消

T 0639c12

耗。

「居士子!若人親近惡知識者,當知有六

T 0639c13

災患。云何為六?一者親近賊。二者親近欺

T 0639c14

誑。三者親近狂醉。四者親近放恣。五者逐

T 0639c15

會嬉戲。六者以此為親友,以此為伴侶。居

T 0639c16

士子!若人親近惡知識者,不經營作事,作

T 0639c17

事不營,則功業不成,未得財物,則不能得,

T 0639c18

本有財物,便轉消耗。

「居士子!若人憙伎樂

T 0639c19

者,當知有六災患。云何為六?一者憙聞

T 0639c20

歌。二者憙見舞。三者憙往作樂。四者

T 0639c21

憙見弄鈴。五者憙拍兩手。六者憙大聚會。

T 0639c22

居士子!若人憙伎樂者,不經營作事,作

T 0639c23

事不營,則功業不成,未得財物,則不能得,

T 0639c24

本有財物,便轉消耗。

「居士子!若有懶惰者,

T 0639c25

當知有六災患。云何為六?一者大早不作

T 0639c26

業。二者大晚不作業。三者大寒不作業。四者

T 0639c27

大熱不作業。五者大飽不作業。六者大飢不

T 0639c28

作業。居士子!若人懶惰者不經營作事,作事

T 0639c29

不營則功業不成,未得財物則不能得,本

T 0640a01

有財物便轉消耗。」於是世尊說此頌曰:

T 0640a02

「種種戲逐色,  嗜酒憙作樂,

T 0640a03

親近惡知識,  懶惰不作業,

T 0640a04

放恣不自護,  此處壞敗人。

T 0640a05

行來不防護,  邪婬犯他妻,

T 0640a06

心中常結怨,  求願無有利,

T 0640a07

飲酒念女色,  此處壞敗人。

T 0640a08

重作不善行,  佷戾不受教,

T 0640a09

罵沙門梵志,  顛倒有邪見,

T 0640a10

凶暴行黑業,  此處壞敗人。

T 0640a11

自乏無財物,  飲酒失衣被,

T 0640a12

負債如涌泉,  彼必壞門族。

T 0640a13

數往至酒鑪,  親近惡朋友,

T 0640a14

應得財不得,  是伴黨為樂。

T 0640a15

多有惡朋友,  常隨不善伴,

T 0640a16

今世及後世,  二俱得敗壞。

T 0640a17

人習惡轉減,  習善轉興盛,

T 0640a18

習勝者轉增,  是故當習勝。

T 0640a19

習昇則得昇,  常逮智慧昇,

T 0640a20

轉獲清淨戒,  及與微妙上,

T 0640a21

晝則喜眠臥,  夜則好遊行。

T 0640a22

放逸常飲酒,  居家不得成,

T 0640a23

大寒及大熱,  謂有懶惰人。

T 0640a24

至竟不成業,  終不獲財利,

T 0640a25

若寒及大熱,  不計猶如草。

T 0640a26

若人作是業,  彼終不失樂。

T 0640a27

「居士子!有四不親而似親。云何為四?一者

T 0640a28

知事非親似如親。二者面前愛言非親似如

T 0640a29

親。三者言語非親似如親。四者惡趣伴非親

T 0640b01

似如親。

士子!因四事故,知事非親似如

T 0640b02

親。云何為四?一者以知事奪財。二者以少

T 0640b03

取多。三者或以恐怖。四者或為利狎習。」於

T 0640b04

是世尊說此頌曰:

T 0640b05

「人以知為事,  言語至柔軟,

T 0640b06

怖為利狎習,  知非親如親,

T 0640b07

常當遠離彼,  如道有恐怖。

T 0640b08

「居士子!因四事故,面前愛言非親似如親。

T 0640b09

云何為四?一者制妙事。二者教作惡。三者

T 0640b10

面前稱譽。四者背說其惡。」於是世尊說此

T 0640b11

頌曰:

T 0640b12

「若制妙善法,  教作惡不善,

T 0640b13

對面前稱譽,  背後說其惡。

T 0640b14

若知妙及惡,  亦復覺二說,

T 0640b15

是親不可親,  知彼人如是。

T 0640b16

常當遠離彼,  如道有恐怖。

T 0640b17

「居士子!因四事故言語非親似如親。云何

T 0640b18

為四?一者認過去事。二者必辯當來事。三

T 0640b19

者虛不真說。四者現事必滅,我當作不作

T 0640b20

認說。」於是世尊說此頌曰:

T 0640b21

「認過及未來,  虛論現滅事,

T 0640b22

當作不作說,  知非親如親,

T 0640b23

常當遠離彼,  如道有恐怖。

T 0640b24

「居士子!因四事故,惡趣伴非親似如親。云

T 0640b25

何為四?一者教種種戲。二者教非時行。三

T 0640b26

者教令飲酒。四者教親近惡知識。」於是世

T 0640b27

尊說此頌曰:

T 0640b28

「教若干種戲,  飲酒犯他妻,

T 0640b29

習下不習勝,  彼滅如月盡,

T 0640c01

常當遠離彼,  如道有恐怖。

T 0640c02

「居士子!善親當知有四種。云何為四?一者

T 0640c03

同苦樂,當知是善親。二者愍念,當知是善

T 0640c04

親。三者求利,當知是善親。四者饒益,當知

T 0640c05

是善親。居士子!因四事故同苦樂,當知是

T 0640c06

善親。云何為四?一者為彼捨己。二者為彼

T 0640c07

捨財。三者為彼捨妻子。四者所說堪忍。」於

T 0640c08

是世尊說此頌曰:

T 0640c09

「捨欲財妻子,  所說能堪忍,

T 0640c10

知親同苦樂,  慧者當狎習。

T 0640c11

「居士子!因四事故愍念,當知是善親。云何

T 0640c12

為四?一者教妙法。二者制惡法。三者面前

T 0640c13

稱說。四者却怨家。」於是世尊說此頌曰:

T 0640c14

「教妙善制惡,  面稱却怨家,

T 0640c15

知善親愍念,  慧者當狎習。

T 0640c16

「居士子!因四事故求利,當知是善親。云何

T 0640c17

為四?一者密事發露。二者密不覆藏。三者

T 0640c18

得利為喜。四者不得利不憂。」於是世尊

T 0640c19

說此頌曰:

T 0640c20

「密事露不藏,  利喜無不憂,

T 0640c21

知善親求利,  慧者當狎習。

T 0640c22

「居士子!因四事故饒益,當知是善親。云何

T 0640c23

為四?一者知財物盡。二者知財物盡已便

T 0640c24

給與物。三者見放逸教訶。四者常以愍念。」

T 0640c25

於是世尊說此頌曰:

T 0640c26

「知財盡與物,  放逸教愍念,

T 0640c27

知善親饒益,  慧者當狎習。

T 0640c28

「居士子!聖法律中有六方,東方、南方、西方、北

T 0640c29

方、下方、上方。居士子!如東方者,如是子觀

T 0641a01

父母,子當以五事奉敬供養父母。云何

T 0641a02

為五?一者增益財物。二者備辦眾事。三者

T 0641a03

所欲則奉。四者自恣不違。五者所有私物盡

T 0641a04

以奉上。子以此五事奉敬供養父母,父母

T 0641a05

亦以五事善念其子,云何為五?一者愛念

T 0641a06

兒子。二者供給無乏。三者令子不負債。四

T 0641a07

者婚娶稱可。五者父母可意所有財物盡以

T 0641a08

付子。父母以此五事善念其子。居士子!如

T 0641a09

是東方二俱分別。居士子!聖法律中東方者,

T 0641a10

謂子、父母也。居士子!若慈孝父母者,必有

T 0641a11

增益則無衰耗。

「居士子!如南方者,如是弟

T 0641a12

子觀師,弟子當以五事恭敬供養於師。

T 0641a13

云何為五?一者善恭順。二者善承事。三者速

T 0641a14

起。四者所作業善。五者能奉敬師。弟子以

T 0641a15

此五事恭敬供養於師,師亦以五事善念

T 0641a16

弟子。云何為五?一者教技術。二者速教。三

T 0641a17

者盡教所知。四者安處善方。五者付囑善

T 0641a18

知識。師以此五事善念弟子。居士子!如是

T 0641a19

南方二俱分別。居士子!聖法律中南方者,謂

T 0641a20

弟子、師也。居士子!若人慈順於師者,必有

T 0641a21

增益則無衰耗。

「居士子!如西方者,如是夫

T 0641a22

觀妻子,夫當以五事愛敬供給妻子。云

T 0641a23

何為五?一者憐念妻子。二者不輕慢。三者

T 0641a24

為作瓔珞嚴具。四者於家中得自在。五者

T 0641a25

念妻親親。夫以此五事愛敬供給妻子,妻

T 0641a26

子當以十三事善敬順夫,云何十三?一者

T 0641a27

重愛敬夫。二者重供養夫。三者善念其夫。

T 0641a28

四者攝持作業。五者善攝眷屬。六者前以

T 0641a29

瞻侍。七者後以愛行。八者言以誠實。九者

T 0641b01

不禁制門。十者見來讚善。十一者敷設床

T 0641b02

待。十二者施設淨美豐饒飲食。十三者供養

T 0641b03

沙門梵志。妻子以此十三事善敬順夫。居

T 0641b04

士子!如是西方二俱分別。居士子!聖法律中

T 0641b05

西方者,謂夫、妻子也。居士子!若人慈愍妻

T 0641b06

子者,必有增益則無衰耗。

「居士子!如北

T 0641b07

方者,如是大家觀奴婢使人,大家當以五

T 0641b08

事愍念給恤奴婢使人。云何為五?一者隨

T 0641b09

其力而作業。二者隨時食之。三者隨時飲

T 0641b10

之。四者及日休息。五者病給湯藥。大家以此

T 0641b11

五事愍念給恤奴婢使人,奴婢使人當以

T 0641b12

九事善奉大家。云何為九?一者隨時作業。

T 0641b13

二者專心作業。三者一切作業。四者前以瞻

T 0641b14

侍。五者後以愛行。六者言以誠實。七者急時

T 0641b15

不遠離。八者行他方時則便讚歎。九者稱

T 0641b16

大家庶幾。奴婢使人以此九事善奉大家。

T 0641b17

居士子!如是北方二俱分別。居士子!聖法

T 0641b18

律中北方者,謂大家、奴婢使人也。居士子!若

T 0641b19

有人慈愍奴婢使人者,必有增益則無衰

T 0641b20

耗。

「居士子!如下方者,如是親友觀親友臣,

T 0641b21

親友當以五事愛敬供給親友臣。云何為

T 0641b22

五?一者愛敬。二者不輕慢。三者不欺誑。四者

T 0641b23

施與珍寶。五者拯念親友臣。親友以此五

T 0641b24

事愛敬供給親友臣,親友臣亦以五事善

T 0641b25

念親友,云何為五?一者知財物盡。二者知

T 0641b26

財物盡已供給財物。三者見放逸教訶。四

T 0641b27

者愛念。五者急時可歸依。親友臣以此五

T 0641b28

事善念親友。居士子!如是下方二俱分別。

T 0641b29

居士子!聖法律中下方者,謂親友、親友臣也。

T 0641c01

居士子!若人慈愍親友臣者,必有增益則

T 0641c02

無衰耗。

「居士子!如上方者,如是施主觀沙

T 0641c03

門梵志,施主當以五事尊敬供養沙門梵

T 0641c04

志。云何為五?一者不禁制門。二者見來讚

T 0641c05

善。三者敷設床待。四者施設淨美豐饒飲

T 0641c06

食。五者擁護如法。施主以此五事尊敬供養

T 0641c07

沙門梵志,沙門梵志亦以五事善念施主。

T 0641c08

云何為五?一者教信行信念信。二者教禁

T 0641c09

戒。三者教博聞。四者教布施。五者教慧行

T 0641c10

慧立慧。沙門梵志以此五事善念施主。居

T 0641c11

士子!如是上方二俱分別。居士子!聖法律中

T 0641c12

上方者,謂施主、沙門梵志也。居士子!若人尊

T 0641c13

奉沙門梵志者,必有增益則無衰耗。

「居士

T 0641c14

子,有四攝事,云何為四?一者惠施。二者愛

T 0641c15

言。三者行利。四者等利。」於是世尊說此頌

T 0641c16

曰:

T 0641c17

「惠施及愛言,  常為他行利,

T 0641c18

眾生等同利,  名稱普遠至,

T 0641c19

此則攝持世,  猶如御車人。

T 0641c20

若無攝持者,  母不因其子,

T 0641c21

得供養恭敬,  父因子亦然,

T 0641c22

若有此法攝,  故得大福祐。

T 0641c23

照遠猶日光,  速利翻捷疾,

T 0641c24

不麤說聰明,  如是得名稱。

T 0641c25

定獲無功高,  速利翻捷疾,

T 0641c26

成就信尸賴,  如是得名稱。

T 0641c27

常起不

惰,  憙施人飲食,

T 0641c28

將去調御正,  如是得名稱。

T 0641c29

親友臣同恤,  愛樂有齊限,

T 0642a01

謂攝在親中,  殊妙如師子。

T 0642a02

初當學技術,  於後求財物,

T 0642a03

後求財物已,  分別作四分。

T 0642a04

一分作飲食,  一分作田業,

T 0642a05

一分舉藏置,  急時赴所須,

T 0642a06

耕作商人給,  一分出息利,

T 0642a07

第五為取婦,  第六作屋宅。

T 0642a08

家若具六事,  不增快得樂,

T 0642a09

彼必饒錢財,  如海中水流。

T 0642a10

彼如是求財,  猶如蜂採花,

T 0642a11

長夜求錢財,  當自受快樂。

T 0642a12

出財莫令遠,  亦勿令普漫,

T 0642a13

不可以財與,  兇暴及豪強。

T 0642a14

東方為父母,  南方為師尊,

T 0642a15

西方為妻子,  北方為奴婢,

T 0642a16

下方親友臣,  上沙門梵志。

T 0642a17

願禮此諸方,  二俱得大稱,

T 0642a18

禮此諸方已,  施主得生天。」

T 0642a19

佛說如是。善生居士子聞佛所說,歡喜奉

T 0642a20

行。

T 0642a21

善生經第十九竟

(四千二百五十五字)

T 0642a22

中阿含經卷第三十三

(萬一千六百二十三字)

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc