Nội dung bài kinh
Kệ tóm tắt:
Tâm, Phù, hai Pháp thọ,
Hành thiền, Thuyết, Lạp sư,
Ngũ chi tài vật chủ,
Cù-đàm-di, Đa giới.
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo sống cô độc tại một nơi an tĩnh, thiền tọa tư duy, tâm khởi ý niệm: “Cái gì dẫn thế gian đi? Bởi cái gì bị nhiễm trước? Cái gì sanh khởi mà tự tại?”
Khi ấy, vào lúc xế chiều, Tỳ-kheo ấy từ thiền tọa dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi ngồi xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm nay con một mình ở một nơi yên tĩnh, thiền tọa tư duy, tâm khởi ý niệm ‘Cái gì dẫn thế gian đi? Bởi cái gì bị nhiễm trước? Cái gì sanh khởi mà tự tại?’”
Đức Thế Tôn nghe xong, khen ngợi:
“Lành thay, lành thay, Tỳ-kheo, là con đường hiền thiện lại được quán sát hiền thiện, là biện tài tinh diệu với tư duy khéo léo rằng ‘Cái gì dẫn thế gian đi? Bởi cái gì bị nhiễm trước? Cái gì sanh khởi mà tự tại?’ Này Tỳ-kheo, câu hỏi của ngươi là như vậy chăng?”
Thầy Tỳ-kheo ấy đáp:
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Tỳ-kheo, tâm dẫn thế gian đi, tâm làm nhiễm trước, tâm sanh khởi tự tại. Này Tỳ-kheo, chính nó dẫn thế gian đi, chính nó làm nhiễm trước và cũng chính nó khởi tự tại. Này Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử không để tâm dẫn đi, không để tâm nhiễm trước, không để tâm tự tại. Này Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử không vâng theo sự tự tại của tâm, mà tâm tùy theo tự tại của đa văn Thánh đệ tử.”
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Lành thay! Lành thay! Kính vâng, Bạch Thế Tôn!”
Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành rồi lại hỏi tiếp:
“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn; được nói là Tỳ-kheo đa văn. Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Tỳ-kheo đa văn? Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo đa văn?”
Đức Thế Tôn nghe xong, khen ngợi:
“Lành thay, lành thay, Tỳ-kheo, là con đuờng hiền thiện lại được quán sát hiền thiện, là biện tài tinh diệu với tư duy khéo léo rằng ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn; được nói là Tỳ-kheo đa văn, bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Tỳ-kheo đa văn? Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo đa văn?’ Này Tỳ-kheo, câu hỏi của ngươi là như vậy chăng?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Tỳ-kheo, những gì được Ta thuyết giảng rất nhiều, là chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ-tha, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu pháp và thuyết nghĩa. Này Tỳ-kheo, nếu có thiện nam tử chỉ nghe Ta nói bốn câu kệ mà biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp tùy pháp, thuận theo phạm hạnh, thì này Tỳ-kheo, nói Tỳ-kheo đa văn là chỉ nói như vậy chứ không hơn nữa. Này Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo đa văn. Như Lai tuyên bố như vậy là Tỳ-kheo đa văn.”
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Lành thay! Lành thay! Kính vâng, Bạch Thế Tôn!”
Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành rồi lại hỏi tiếp:
“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt, nói là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt. Bạch Thế Tôn, thế nào Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt? Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt?”
Đức Thế Tôn nghe xong khen ngợi:
“Lành thay, lành thay, Tỳ-kheo, là con đuờng hiền thiện lại được quán sát hiền thiện, là biện tài tinh diệu với tư duy khéo léo rằng ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt, nói là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt. Bạch Thế Tôn, thế nào Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt? Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt?’ Này Tỳ-kheo, câu hỏi của ngươi là như vậy chăng?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nghe rằng ‘Đây là Khổ’, tức thì với trí tuệ mà chân chánh thấy khổ như thật; nghe Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo, tức thì với trí tuệ mà chân chánh thấy Khổ diệt đạo như thật. Này Tỳ-kheo, như vậy là đa văn Tỳ-kheo có trí tuệ minh đạt. Như Lai tuyên bố như vậy là đa văn Tỳ-kheo có trí tuệ minh đạt.”
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Lành thay! Lành thay! Kính vâng, Bạch Thế Tôn!”
Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành rồi lại hỏi tiếp:
“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ, nói là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ. Bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ? Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ?”
Đức Thế Tôn nghe xong, khen ngợi:
“Lành thay, lành thay, Tỳ-kheo, là con đuờng hiền thiện lại được quán sát hiền thiện, là biện tài tinh diệu với tư duy khéo léo rằng ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ, nói là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ. Bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ? Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ?’ Này Tỳ-kheo, câu hỏi của ngươi là như vậy chăng?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Thế Tôn nói:
“Nếu Tỳ-kheo không có tâm niệm gây tự hại, không có tâm niệm gây hại người, cũng không có tâm niệm gây hại cả hai. Tỳ-kheo chỉ có tâm niệm làm lợi ích cho tự thân và lợi ích cho người, lợi ích cho mọi người, thương xót thế gian, mong muốn cho trời, người được lợi ích và phước lành, được an ổn khoái lạc. Này Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ, Như Lai tuyên bố như vậy là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ.”
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Lành thay! Lành thay! Kính vâng, Bạch Thế Tôn!”
Khi ấy, Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, khéo thọ lãnh, khéo ghi nhớ, khéo tụng tập, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui ra.
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo ấy lãnh thọ lời dạy của Đức Thế Tôn, sống cô độc nơi yên tĩnh xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần. Tỳ-kheo ấy khi sống cô độc ở nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần để đạt đến mục đích mà một thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo, là duy chỉ mong thành tựu phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời hiện tại này tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Vị Tôn giả ấy đã biết pháp rồi, liền chứng quả A-la-hán.
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
心品第三
(有十經)
(第四分別誦)
中阿含經卷第四十五
T 0709a07
T 0709a08
東晉罽賓三藏瞿曇僧伽提婆譯
T 0709a09
T 0709a10
心、浮、受法二 行禪、說、獵師
T 0709a11
五枝財物主 瞿曇彌、多界
T 0709a12
T 0709a13
我聞如是:
一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤
T 0709a14
獨園。
爾時,有一比丘獨安靖處宴坐思惟,心
T 0709a15
作是念:「誰將世間去?誰為染著?誰起自
T 0709a16
在?」彼時,比丘則於晡時從宴坐起,往詣佛
T 0709a17
所,稽首禮足,却坐一面,白曰:「世尊!我今獨安
T 0709a18
靖處宴坐思惟,心作是念:『誰將世間去?誰
T 0709a19
為染著?誰起自在?』」
世尊聞已,歎曰:「善哉!善
T 0709a20
哉!比丘!謂有賢道而有賢觀,極妙辯才,有
T 0709a21
善思惟。『誰將世間去?誰為染著?誰起自在?』
T 0709a22
比丘!所問為如是耶?」
比丘答曰:「如是。世
T 0709a23
尊!」
世尊告曰:「比丘!心將世間去,心為染
T 0709a24
著,心起自在。比丘!彼將世間去,彼為染
T 0709a25
著,彼起自在。比丘!多聞聖弟子非心將去,
T 0709a26
非心染著,非心自在。比丘!多聞聖弟子不
T 0709a27
隨心自在,而心隨多聞聖弟子。」
比丘白曰:
T 0709a28
「善哉!善哉!唯然。世尊!」彼時,比丘聞佛所說,歡
T 0709a29
喜奉行。
問曰:「世尊!多聞比丘,說多聞比丘。
T 0709b01
世尊!云何多聞比丘?云何施設多聞比丘?」
世
T 0709b02
尊聞已,歎曰:「善哉!善哉!比丘!謂有賢道而
T 0709b03
有賢觀,極妙辯才,有善思惟。『世尊!多聞比
T 0709b04
丘,說多聞比丘。世尊!云何多聞比丘?云何
T 0709b05
施設多聞比丘?』比丘!所問為如是耶?」
比丘
T 0709b06
答曰:「如是。世尊!」
世尊告曰:「比丘!我所說甚
T 0709b07
多,謂正經、歌詠、記說、偈他、因緣、撰錄、本起、此
T 0709b08
說、生處、廣解、未曾有法及說義。比丘!若有族
T 0709b09
姓子,我所說四句偈,知義知法,趣法向
T 0709b10
法,趣順梵行。比丘!說多聞比丘無復過是。
T 0709b11
比丘!如是多聞比丘,如來如是施設多聞
T 0709b12
比丘。」
比丘白曰:「善哉!善哉!唯然。世尊!」彼時,比
T 0709b13
丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0709b14
問曰:「世尊!多聞比丘明達智慧,說多聞比
T 0709b15
丘明達智慧。世尊!云何多聞比丘明達智慧?
T 0709b16
云何施設多聞比丘明達智慧?」
世尊聞已,歎
T 0709b17
曰:「善哉!善哉!比丘!謂有賢道而有賢觀,極
T 0709b18
妙辯才,有善思惟。『世尊!多聞比丘明達智慧,
T 0709b19
說多聞比丘明達智慧。世尊!云何多聞比丘
T 0709b20
明達智慧?云何施設多聞比丘明達智慧?』比
T 0709b21
丘!所問為如是耶?」
比丘答曰:「如是。世尊!」
世
T 0709b22
尊告曰:「比丘!若比丘聞此苦,復以慧正見
T 0709b23
苦如真者,聞苦習、苦滅、苦滅道,復以慧正
T 0709b24
見苦滅道如真者,比丘!如是多聞比丘明
T 0709b25
達智慧,如來如是施設多聞比丘明達智慧。」
T 0709b26
比丘白曰:「善哉!善哉!唯然。世尊!」彼時,比丘聞
T 0709b27
佛所說,歡喜奉行。
問曰:「世尊!聰明比丘
黠
T 0709b28
慧廣慧,說聰明比丘
黠
慧廣慧。世尊!云何聰
T 0709b29
明比丘
黠
慧廣慧?云何施設聰明比丘
黠
慧
T 0709c01
廣慧?」
世尊聞已,歎曰:「善哉!善哉!比丘,謂有
T 0709c02
賢道而有賢觀,極妙辯才,有善思惟。『世尊!
T 0709c03
云何聰明比丘
黠
慧廣慧?云何施設聰明比
T 0709c04
丘
黠
慧廣慧?』比丘!所問為如是耶?」
比丘答
T 0709c05
曰:「如是。世尊!」
世尊告曰:「若比丘不念自害,
T 0709c06
不念害他,亦不念俱害,比丘但念自饒
T 0709c07
益及饒益他,饒益多人,愍傷世間,為天、為
T 0709c08
人求義及饒益,求安隱快樂。比丘!如是聰
T 0709c09
明比丘
黠
慧廣慧,如是如來施設聰明比
T 0709c10
丘
黠
慧廣慧。」
比丘白曰:「善哉!善哉!唯然。世尊!」
T 0709c11
彼時,比丘聞佛所說,善受善持,善誦習已,即
T 0709c12
從坐起,稽首佛足,繞三匝而還。
彼時,比丘
T 0709c13
聞世尊教,在遠離獨住,心無放逸,修行精
T 0709c14
勤。彼在遠離獨住,心無放逸,修行精勤已,
T 0709c15
族姓子所為,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨
T 0709c16
家、無家、學道者,唯無上梵行訖,於現法中自
T 0709c17
知自覺,自作證成就遊,生已盡,梵行已立,所
T 0709c18
作已
辦
,不更受有,知如真。彼尊者知法已,
T 0709c19
乃至得阿羅訶。
佛說如是。彼諸比丘聞佛
T 0709c20
所說,歡喜奉行。
T 0709c21
心經第一竟
(千五十四字)
T 0709c22