Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật trú tại thành Vương xá, trong rừng Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Người thợ săn khi bẫy mồi nai, không có tâm như vầy ‘Mong cho nai được béo mập, được tốt đẹp, được sức lực, được sung sướng, sống lâu.’ Nhưng người thợ săn bẫy mồi nai với tâm như vầy ‘Bẫy mồi là chỉ muốn chúng đến gần để ăn; đã đến gần để ăn thì sẽ kiêu loạn phóng dật, mà đã kiêu loạn phóng dật thì sẽ tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.’ Người thợ ăn bẫy mồi nai với tâm như vậy.
“Đàn nai thứ nhất đến gần đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần để ăn, bèn sanh kiêu loạn phóng dật rồi do kiêu loạn phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn nai thứ hai suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ nhất đã đến gần để ăn đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần để ăn, bèn sanh kiêu loạn phóng dật, rồi do kiêu loạn phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta đừng ăn đồ ăn của thợ săn, tránh xa chỗ đáng sợ, nương nơi rừng vắng an toàn, ăn cỏ uống nước được chăng?’ Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ hai liền bỏ mặc đồ mồi của thợ săn, tránh xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng vắng an toàn, ăn cỏ uống nước. Đến tháng cuối mùa Xuân, cỏ nước đều hết, thân thể chúng rất gầy ốm, khí lực hao mòn và rồi lại bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Như vậy là đàn nai thứ hai cũng không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn nai thứ ba lại suy nghĩ rằng, ‘Đàn nai thứ nhất và thứ hai, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta hãy tránh xa thợ săn và quyến thuộc thợ săn, nhưng ở một nơi không xa, sau đó hãy ăn đồ ăn của thợ săn mà đừng đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì không kiêu loạn phóng dật. Do không kiêu loạn phóng dật nên không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.’ Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ ba liền tránh xa thợ săn và quyến thuộc thợ săn, nhưng ở một nơi không xa. Sau đó ăn đồ mồi của thợ săn mà không đến gần. Ăn mà không đến gần nên không kiêu loạn phóng dật, rồi do không kiêu loạn phóng dật nên không tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Người thợ săn và quyến thuộc thợ săn nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ ba này khôn lanh kỳ lạ! Quả thật, rất khôn lanh! Vì sao? Vì chúng ăn đồ ăn của ta mà ta không thể bắt được. Nay ta hãy bủa vòng lưới chạy dài. Sau khi bủa lưới chạy dài chắc sẽ biết được chỗ ở, đường lui tới của đàn nai thứ ba này.’ Sau khi suy nghĩ, thợ săn và quyến thuộc thợ săn liền bủa vòng lưới chạy dài và sau đó biết được chỗ ở, đường lui tới của đàn nai thứ ba. Như vậy, đàn nai thứ ba cũng không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn nai thứ tư lại suy nghĩ, ‘Đàn nai thứ nhất, thứ hai và thứ ba, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta hãy nương ở một nơi mà thợ săn và quyến thuộc thợ săn không đến được. Sau đó hãy ăn đồ mồi của thợ săn mà đừng đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì không kiêu loạn phóng dật. Do không kiêu loạn phóng dật, sẽ không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.’ Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ tư liền nương ở một nơi mà thợ săn và quyến thuộc thợ săn không thể đến được, sau đó ăn đồ mồi của thợ săn mà không đến gần. Đã ăn mà không đến gần nên không kiêu sa phóng dật, rồi do không kiêu loạn phóng dật nên không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Người thợ săn và quyến thuộc thợ săn lại suy nghĩ rằng: “Đàn nai thứ tư này ranh mãnh xảo trá kỳ lạ! Quả thật ranh mãnh xảo trá, nếu ta xua đuổi chúng, chắc chắn không thể được, vì những nai con khác sẽ kinh sợ bỏ chạy tán loạn. Vậy ta hãy cứ bỏ mặc đàn nai thứ tư này.’ Sau khi suy nghĩ, thợ săn và quyến thuộc thợ săn liền bỏ mặc.
“Như vậy là đàn nai thứ tư thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Này Tỳ-kheo, Ta nói thí dụ này là muốn các giải rõ ý nghĩa. Nay Ta nói đây, các ngươi hãy quán sát nghĩa lý:
“Đồ mồi của thợ săn, nên biết, đó là năm công đức của dục: sắc được biết bởi, tiếng nghe bởi tai, hương được ngữi bởi mũi, vị được nếm bởi lưỡi, xúc được chạm bởi thân. Đồ mồi của thợ săn, nên biết, đó là năm niệm công đức của dục. Người thợ săn, nên biết, đó chính là Ác ma vương. Quyến thuộc của thợ săn, nên biết, đó chính là quyến thuộc của Ma vương. Đàn nai, nên biết đó chính là Sa-môn, Bà-la-môn vậy.
“Sa-môn, Bà-la-môn thứ nhất đến gần ăn đồ mồi của Ma vương, là ăn của tín thí thế gian. Những vị ấy sau khi đến gần đồ ăn bèn sanh kiêu loạn phóng dật. Rồi do kiêu loạn phóng dật nên bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Như vậy là Sa-môn, Bà-la-môn thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc của Ma vương.
“Ví như đàn nai thứ nhất đến gần để ăn đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần để ăn bèn sanh kiêu loạn phóng dật, rồi do kiêu sa phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Các ngươi hãy quán sát các Sa-môn, Bà-la-môn kia cũng giống như vậy.
“Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai lại suy nghĩ rằng, ‘Sa-môn, Bà-la-môn thứ nhất đến gần ăn đồ mồi của Ma vương, là ăn của tín thí thế gian. Những vị ấy sau khi đến gần đồ ăn bèn sanh kiêu loạn phóng dật. Rồi do kiêu sa phóng dật nên bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Như vậy là Sa-môn, Bà-la-môn thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc của Ma vương. Nay ta hãy từ bỏ đồ mồi của tín thí thế gian, tránh xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng vắng an toàn, chỉ ăn trái cây và rễ cây.’ Sau khi suy nghĩ, Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai liền từ bỏ đồ ăn của tín thí thế gian, tránh xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng vắng an toàn, chỉ ăn trái cây và rễ cây. Đến tháng cuối Xuân, trái cây và rễ cây đều hết, thân thể những vị ấy rất gầy ốm, khí lực hao mòn, nên tâm giải thoát, tuệ giải thoát cũng hao mòn. Và tâm giải thoát, tuệ giải thoát đã hao mòn nên trở lại bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc của Ma vương. Như vậy là Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai cũng không thoát khỏi cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc của Ma vương.
“Ví như đàn nai thứ hai suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ nhất đến gần để ăn đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần để ăn bèn sanh kiêu sa phóng dật, rồi do kiêu sa phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta hãy từ bỏ đồ mồi của thợ săn, tránh xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng vắng an toàn, ăn cỏ uống nước được chăng? Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ hai liền từ bỏ đồ mồi của thợ săn, tránh xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng vắng an toàn, ăn cỏ uống nước. Đến tháng cuối Xuân, cỏ nước đều hết, thân thể chúng rất gầy ốm, khí lực hao mòn, và rồi lại bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ hai không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Các ngươi hãy quán sát Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai kia cũng giống như vậy.
“Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba lại suy nghĩ rằng, ‘Sa-môn, Bà-la-môn thứ nhất và thứ hai, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Nay ta hãy tránh xa Ma vương và quyến thuộc Ma vương, nương ở một nơi không xa, sau đó hãy ăn đồ mồi của thế gian tín thí mà đừng đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì không bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương.’ Sau khi suy nghĩ, Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba liền tránh xa Ma vương và quyến thuộc Ma vương, nương ở một nơi không xa, sau đó ăn đồ mồi của thế gian tín thí mà không đến gần. Đã ăn mà không đến gần, nên không kiêu loạn phóng dật, rồi do không kiêu sa phóng dật nên không bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương, nhưng còn chấp thủ hai kiến chấp, hữu kiến và vô kiến. Những vị ấy do chấp thủ hai kiến chấp này nên rồi cũng bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Như vậy là Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba cũng không thoát khỏi cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc Ma vương.
“Ví như đàn nai thứ ba lại suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ nhất và đàn nai thứ hai, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta hãy tránh xa thợ săn và quyến thuộc thợ săn, nương ở một nơi không xa, sau đó hãy ăn đồ mồi của thợ săn mà không đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì không kiêu loạn phóng dật, không kiêu sa phóng dật thì không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.’ Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ ba liền tránh xa thợ săn và quyến thuộc thợ săn, nương ở một nơi không xa, sau đó ăn đồ mồi của thợ săn mà không đến gần. Đã ăn mà không đến gần nên không ỷ thị, phóng dật, rồi do không ỷ thị phóng dật nên không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Người thợ săn và quyến thuộc thợ săn suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ ba này khôn lanh kỳ lạ! Quả thật rất khôn lanh. Vì sao vậy? Vì chúng ăn đồ mồi của ta mà không thể bắt được. Nay ta hãy bủa vòng lưới chạy dài. Sau khi bủa vòng lưới chạy dài, chắc sẽ biết được chỗ ở, đường lui tới của đàn nai thứ ba này.’ Sau khi suy nghĩ, thợ săn và quyến thuộc thợ săn liền bủa vòng lưới chạy dài và sau đó biết được chỗ ở, đường lui tới của đàn nai thứ ba. Như vậy là đàn nai thứ ba cũng không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Chỗ ở, nên biết đó chính là hữu kiến. Đường lui tới, nên biết đó chính là vô kiến. Các ngươi hãy quán sát Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba cũng giống như vậy.
“Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư lại suy nghĩ rằng, ‘Sa-môn, Bà-la-môn thứ nhất, thứ hai và thứ ba, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Nay ta hãy nương ở một nơi mà Ma vương và quyến thuộc Ma vương không thể đến được, sau đó hãy ăn đồ mồi của thế gian tín thí mà đừng đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì không kiêu loạn phóng dật, không kiêu sa phóng dật thì không bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc của Ma vương.’ Sau khi suy nghĩ, Sa-môn Bà-la-môn thứ tư này liền nương ở một nơi mà Ma vương và quyến thuộc Ma vương không thể đến được, sau đó ăn đồ mồi của thế gian tín thí mà không đến gần. Đã ăn mà không đến gần nên không kiêu loạn phóng dật, rồi do không kiêu loạn phóng dật nên không bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Như vậy là Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư thoát khỏi cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc của Ma vương.
“Cũng như đàn nai thứ tư lại suy nghĩ rằng, ‘Đàn nai thứ nhất, thứ hai và thứ ba, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc của thợ săn. Nay ta hãy nương ở một nơi mà thợ săn và quyến thuộc thợ săn không đến được, sau đó hãy ăn đồ mồi của thợ săn mà đừng đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì không kiêu loạn phóng dật, không kiêu sa phóng dật thì không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.’ Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ tư liền nương ở một nơi mà thợ săn và quyến thuộc thợ săn không thể đến được, sau đó ăn đồ mồi của thợ săn mà không đến gần. Đã ăn mà không đến gần nên không kiêu loạn phóng dật, rồi do không kiêu loạn phóng dật nên không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Người thợ săn và quyến thuộc thợ săn lại suy nghĩ rằng, ‘Đàn nai thứ tư này khôn lanh xảo quyệt kỳ lạ! Quả thật rất khôn lanh xảo quyệt. Nếu ta xua đuổi chúng, chắc chắn không thể được vì những con nai khác sẽ kinh sợ bỏ chạy tán loạn. Vậy ta hãy bỏ mặc đàn nai thứ tư này.’ Sau khi suy nghĩ, thợ săn và quyến thuộc thợ săn liền bỏ mặc. Như vậy là đàn nai thứ tư thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Các ngươi hãy quán rằng Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư cũng giống như vậy.
“Này Tỳ-kheo, phải nên học chỗ ở, đường lui tới như vậy để khiến Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được.
“Chỗ nào mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được? Đó là Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Đó là chỗ Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được.
“Lại nữa, chỗ nào mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được? Đó là Tỳ-kheo tâm câu hữu với từ, biến mãn cả một phương, thành tựu và an trụ. Như vậy cho đến hai, ba, bốn phương, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới, phổ biến khắp cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không oán, không nhuế, không hại, rộng lớn bao la, vô lượng, khéo tu tập biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng như vậy, đối với bi và hỷ. Tâm câu hữu với xả, biến mãn cả một phương, thành tựu và an trụ. Như vậy cho đến hai, ba, bốn phương, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới, phổ biến khắp cả, tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không sân, không nhuế, không hại, rộng lớn bao la, vô lượng, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Đó gọi là chỗ Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được.
“Lại nữa, chỗ nào mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương của Ma vương không thể đến được? Đó là Tỳ-kheo vượt qua tất cả các sắc tưởng, cho đến thành tựu và an trụ Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó gọi là chỗ Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được.
“Lại nữa, chỗ nào mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được? Đó là Tỳ-kheo vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhập tưởng thọ diệt, tự thân tác chứng, thành tựu an trụ, do tuệ kiến mà vĩnh viễn diệt tận các lậu. Đó gọi là chỗ Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được.
“Này Tỳ-kheo, chỗ ở và đường lui tới như vậy khiến Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được. Các ngươi hãy nên học như vậy.”
Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
中阿含經卷第四十七
T 0718b21
T 0718b22
東晉罽賓三藏瞿曇僧伽提婆譯
T 0718b23
T 0718b24
我聞如是:
一時,佛遊王舍城,在竹林迦蘭
T 0718b25
哆園。
爾時,世尊告諸比丘:「獵師飼鹿,不如
T 0718b26
是心,令鹿得肥、得色、得力、得樂、長壽。獵師
T 0718b27
飼鹿,如是心飼,唯欲近食,近食已,令憍
T 0718b28
恣放逸,放逸已,隨獵師、獵師眷屬,獵師飼
T 0718b29
鹿,如是心也。
「第一群鹿近食獵師食,彼近食
T 0718c01
已,便憍恣放逸,放逸已,便隨獵師、獵師眷
T 0718c02
屬。如是彼第一群鹿不脫獵師、獵師眷屬
T 0718c03
境界。
「第二群鹿而作是念:『第一群鹿近食獵
T 0718c04
師食,彼近食已,便憍恣放逸,放逸已,便隨
T 0718c05
獵師、獵師眷屬,如是第一群鹿不脫獵師、
T 0718c06
獵師眷屬境界。我今寧可不食獵師食,離
T 0718c07
於恐怖,依無事處,食草飲水耶?』第二群鹿
T 0718c08
作是念已,便捨獵師食,離於恐怖,依無事
T 0718c09
處,食草飲水。彼春後月諸草水盡,身體極
T 0718c10
羸,氣力衰退,便隨獵師、獵師眷屬。如是彼第
T 0718c11
二群鹿亦復不脫獵師、獵師眷屬境界。
「第三
T 0718c12
群鹿亦作是念:『第一、第二群鹿一切不脫
T 0718c13
獵師、獵師眷屬境界,我今寧可離獵師、獵師
T 0718c14
眷屬,依住不遠,住不遠已,不近食獵師食,
T 0718c15
不近食已,便不憍恣放逸,不放逸已,便
T 0718c16
不隨獵師、獵師眷屬。』第三群鹿作是念已,
T 0718c17
便離獵師、獵師眷屬,依住不遠,住不遠已,
T 0718c18
不近食獵師食,不近食已,便不憍恣放逸,
T 0718c19
不放逸已,便不隨獵師、獵師眷屬。彼獵師、
T 0718c20
獵師眷屬便作是念:『第三群鹿甚奇諂
黠
,極
T 0718c21
諂
黠
。所以者何?食我食已,而不可得,我
T 0718c22
今寧可作長圍罝,作長圍罝已,便得第三
T 0718c23
群鹿所依住止。』獵師、獵師眷屬作是念已,
T 0718c24
便作長圍罝,作長圍罝已,便得第三群鹿
T 0718c25
所依住止,如是第三群鹿亦復不脫獵師、
T 0718c26
獵師眷屬境界。
「第四群鹿亦作是念:『第一、第
T 0718c27
二、第三群鹿一切不脫獵師、獵師眷屬境
T 0718c28
界,我今寧可依住獵師、獵師眷屬所不至處,
T 0718c29
依住彼已,不近食獵師食,不近食已,便
T 0719a01
不憍恣放逸,不放逸已,便不隨獵師、獵師
T 0719a02
眷屬。』第四群鹿作是念已,便依住獵師、獵
T 0719a03
師眷屬所不至處,依住彼已,便不近食獵
T 0719a04
師食,不近食已,便不憍恣放逸,不放逸
T 0719a05
已,便不隨獵師、獵師眷屬。彼獵師、獵師眷屬
T 0719a06
復作是念:『第四群鹿甚奇猛
俊
,第一猛
俊
,若
T 0719a07
我逐彼,必不能得,餘鹿則當恐怖驚散,我
T 0719a08
今寧可捨罝第四群鹿。』獵師、獵師眷屬作
T 0719a09
是念已,則便捨罝。如是第四群鹿便得脫
T 0719a10
獵師、獵師眷屬境界。
「比丘!我說此喻,欲令
T 0719a11
解義,我今說此,當觀其義。獵師食者,當
T 0719a12
知五欲功德,眼知色、耳知聲、鼻知香、舌知
T 0719a13
味、身知觸。獵師食者,當知是五欲功德也。
T 0719a14
獵師者,當知是惡魔王也。獵師眷屬者,當
T 0719a15
知是魔王眷屬也。群鹿者,當知是沙門、梵志
T 0719a16
也。第一沙門、梵志近食魔王食,世間信施食,
T 0719a17
彼近食已,便憍恣放逸,放逸已,便隨魔王、
T 0719a18
魔王眷屬,如是第一沙門、梵志不脫魔王
T 0719a19
境界。猶如第一群鹿近食獵師食,彼近食
T 0719a20
已,便憍恣放逸,放逸已,便隨獵師、獵師眷
T 0719a21
屬,如是第一群鹿不脫獵師、獵師眷屬境界。
T 0719a22
當觀彼第一沙門、梵志亦復如是。
「第二沙門、
T 0719a23
梵志亦作是念:『第一沙門、梵志近食魔王食,
T 0719a24
世間信施食,彼近食已,便憍恣放逸,放逸
T 0719a25
已,便隨魔王、魔王眷屬,如是彼第一沙門、梵
T 0719a26
志不脫魔王、魔王眷屬境界。我今寧可捨
T 0719a27
世間信施食,離於恐怖,依無事處,食果
T 0719a28
及根。』第二沙門、梵志作是念已,便捨世間
T 0719a29
信施食,離於恐怖,依無事處,食果及根。
T 0719b01
彼春後月諸果根盡,身體極羸,氣力衰退,
T 0719b02
衰退已,便心解脫、慧解脫衰退,心解脫、慧解
T 0719b03
脫衰退已,便隨魔王、魔王眷屬,如是第二沙
T 0719b04
門、梵志亦不脫魔王、魔王眷屬境界。猶如
T 0719b05
第二群鹿而作是念:『第一群鹿近食獵師
T 0719b06
食,彼近食已,便憍恣放逸,放逸已,便隨獵
T 0719b07
師、獵師眷屬,如是第一群鹿不脫獵師、獵
T 0719b08
師眷屬境界。我今寧可捨獵師食,離於恐
T 0719b09
怖,依無事處,食草飲水耶?』第二群鹿作是
T 0719b10
念已,便捨獵師食,離於恐怖,依無事處,
T 0719b11
食草飲水。彼春後月諸草水盡,身體極羸,
T 0719b12
氣力衰退,便隨獵師、獵師眷屬,如是第二群
T 0719b13
鹿亦不脫獵師、獵師眷屬境界。當觀彼第
T 0719b14
二沙門、梵志亦復如是。
「第三沙門、梵志亦作
T 0719b15
是念:『第一、第二沙門、梵志一切不脫魔王、魔
T 0719b16
王眷屬境界,我今寧可離魔王、魔王眷屬,依
T 0719b17
住不遠,住不遠已,不近食世間信施食,
T 0719b18
不近食已,便不憍恣放逸,不放逸已,便不
T 0719b19
隨魔王、魔王眷屬。』第三沙門、梵志作是念
T 0719b20
已,便離魔王、魔王眷屬,依住不遠,住不遠
T 0719b21
已,便不近食世間信施食,不近食已,便
T 0719b22
不憍恣放逸,不放逸已,便不隨魔王、魔王
T 0719b23
眷屬。然受持二見,有見及無見。彼受此二
T 0719b24
見故,便隨魔王、魔王眷屬。如是第三沙門、
T 0719b25
梵志亦不脫魔王、魔王眷屬境界。
「猶如第
T 0719b26
三群鹿亦作是念:『第一、第二群鹿一切不
T 0719b27
脫獵師、獵師眷屬境界,我今寧可離獵師、獵
T 0719b28
師眷屬,依住不遠,住不遠已,不近食獵師
T 0719b29
食,不近食已,便不憍恣放逸,不放逸已,便
T 0719c01
不隨獵師、獵師眷屬。』第三群鹿作是念已,
T 0719c02
便離獵師、獵師眷屬,依住不遠,住不遠已,
T 0719c03
不近食獵師食,不近食已,便不憍恣放逸,
T 0719c04
不放逸已,便不隨獵師、獵師眷屬。彼獵師、
T 0719c05
獵師眷屬便作是念:『第三群鹿甚奇諂
黠
,極
T 0719c06
諂
黠
。所以者何?食我食已,而不可得,我今
T 0719c07
寧可作長圍罝,作長圍罝已,便得第三群
T 0719c08
鹿所依住止。』獵師、獵師眷屬作是念已,便作
T 0719c09
長圍罝,作長圍罝已,便得第三群鹿所依
T 0719c10
住止。如是第三群鹿亦不脫獵師、獵師眷
T 0719c11
屬境界。所依者當知有見也。住止者當知無
T 0719c12
見也。當觀彼第三沙門、梵志亦復如是。
「第
T 0719c13
四沙門、梵志亦作是念:『第一、第二、第三沙門、梵
T 0719c14
志一切不脫魔王、魔王眷屬境界,我今寧可
T 0719c15
依住魔王、魔王眷屬所不至處,依住彼已,
T 0719c16
不近食世間信施食,不近食已,便不憍
T 0719c17
恣放逸,不放逸已,便不隨魔王、魔王眷屬。』
T 0719c18
第四沙門、梵志作是念已,便依住魔王、魔王
T 0719c19
眷屬所不至處,依住彼已,不近食世間信
T 0719c20
施食,不近食已,便不憍恣放逸,不放逸
T 0719c21
已,便不隨魔王、魔王眷屬。如是第四沙門、
T 0719c22
梵志便脫魔王、魔王眷屬境界。
「猶如第四群
T 0719c23
鹿亦作是念:『第一、第二、第三群鹿一切不
T 0719c24
脫獵師、獵師眷屬境界,我今寧可依住獵
T 0719c25
師、獵師眷屬所不至處,依住彼已,不近食
T 0719c26
獵師食,不近食已,便不憍恣放逸,不放逸
T 0719c27
已,便不隨獵師、獵師眷屬。』第四群鹿作是
T 0719c28
念已,便依住獵師、獵師眷屬所不至處,依
T 0719c29
住彼已,不近食獵師食,不近食已,便不
T 0720a01
憍恣放逸,不放逸已,便不隨獵師、獵師眷
T 0720a02
屬。彼獵師、獵師眷屬復作是念:『第四群鹿甚
T 0720a03
奇
俊
猛,第一
俊
猛,若我逐彼,必不能得,
T 0720a04
餘鹿則當恐怖驚散,我今寧可捨罝第四群
T 0720a05
鹿。』彼獵師、獵師眷屬作是念已,則便捨罝。
T 0720a06
如是第四群鹿便脫獵師、獵師眷屬境界。當
T 0720a07
觀彼第四沙門、梵志亦復如是。
「比丘!當學
T 0720a08
如是所依住止,令魔王、魔王眷屬所不至處。
T 0720a09
何者魔王、魔王眷屬所不至處?謂比丘離欲、
T 0720a10
離惡不善之法,至得第四禪成就遊,是謂
T 0720a11
魔王、魔王眷屬所不至處。復次,何者魔王、魔
T 0720a12
王眷屬所不至處?謂比丘心與慈俱,遍滿一
T 0720a13
方成就遊,如是二三四方、四維上下,普周一
T 0720a14
切,心與慈俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚
T 0720a15
大,無量善修,遍滿一切世間成就遊。如是悲、
T 0720a16
喜心與捨俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,
T 0720a17
無量善修,遍滿一切世間成就遊。是謂魔王、
T 0720a18
魔王眷屬所不至處。
「復次,何者魔王、魔王眷
T 0720a19
屬所不至處?謂比丘度一切色想,至非有想
T 0720a20
非無想處成就遊,是謂魔王、魔王眷屬所不
T 0720a21
至處。復次,何者魔王、魔王眷屬所不至處?謂
T 0720a22
比丘度一切非有想非無想處,想知滅身觸
T 0720a23
成就遊,慧見諸漏盡斷知,是謂魔王、魔王眷
T 0720a24
屬所不至處。比丘!如是所依住正,命魔王、
T 0720a25
魔王眷屬所不至處,當學如是。」
佛說如
T 0720a26
是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0720a27
獵師經第七竟
(二千三百九十六字)
T 0720a28