Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

186. Kinh cầu giải (MA186)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật trú Câu-lâu-sấu, tại đô ấp Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Duyên nơi ý của mình mà không biết như thật về tâm trí của người khác thì không thể biết được sự Giác ngộ Chánh đẳng của Thế Tôn. Vậy làm thế nào để tìm hiểu Như Lai?”

Khi ấy các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:

“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của pháp, Thế Tôn là chủ của pháp, pháp do nơi Thế Tôn mà có. Ngưỡng mong Ngài thuyết cho, chúng con nghe được rồi sẽ thấu rõ nghĩa lý.”

Phật liền bảo rằng:

“Này các Tỳ-kheo, hãy lắng nghe rõ và khéo suy nghĩ! Ta sẽ phân biệt đầy đủ cho các ông nghe.”

Bấy giờ các Tỳ-kheo vâng lời mà lắng nghe.

Thế Tôn bảo rằng:

“Duyên nơi ý của mình mà không biết như thật về tâm trí của người khác, phải do hai sự kiện để tìm hiểu Như Lai, một là sắc được biết bởi mắt và hai là tiếng được nghe bởi tai.

“Pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai, có hay không có nơi Tôn giả ấy? Sau khi tìm hiểu, biết rằng pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai không có nơi Tôn giả ấy. Nếu ở đây không có, lại phải tìm hiểu nữa.

“Pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, có hay không có nơi Tôn giả ấy? Sau khi tìm hiểu, biết rằng những pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai không có nơi Tôn giả ấy. Nếu ở đây không có, phải tìm hiểu thêm nữa.

“Pháp bạch tịnh được biết bởi mắt và tai, có hay không có nơi Tôn giả ấy? Sau khi tìm hiểu, biết rằng pháp bạch tịnh được biết bởi mắt và tai có nói Tôn giả ấy. Nếu ở đây có, lại phải tìm nữa.

“Tôn giả ấy đã thực hành pháp ấy lâu dài hay chỉ thực hành tạm thời? Nếu khi tìm hiểu, biết rằng Tôn giả ấy thực hành pháp ấy lâu dài chứ không phải tạm thời. Nếu là thường thực hành, lại phải tìm hiểu thêm nữa.

“Tôn giả ấy nhập vào thiền này vì danh dự, vì lợi nghĩa, hay không vì danh dự và lợi nghĩa? Nếu khi tìm hiểu, biết rằng Tôn giả ấy nhập vào thiền này không phải vì tai hoạn.

“Nếu có người nói như vầy, ‘Tôn giả ấy hành an lạc không phải vì sợ hãi; ly dục, không hành dục, vì dục đã diệt tận ’, thì nên hỏi người ấy rằng, ‘Này Hiền giả, với hành vi nào, với năng lực nào, với trí tuệ nào để Hiền giả có thể tự mình nhận xét chân chánh rằng, Tôn giả ấy hành an lạc không phải vì sợ hãi; ly dục, không hành dục, vì dục đã diệt tận?’ Nếu người ấy trả lời như vầy, ‘Tôi không biết tâm trí của vị ấy, cũng không phải do sự kiện nào khác mà biết. Nhưng vị Tôn giả ấy, hoặc khi sống một mình, hoặc khi ở giữa đại chúng, hoặc ở giữa chỗ tập họp, nơi đó hoặc có Thiện thệ hay những người thọ hóa bởi Thiện thệ, hoặc là bậc Tông chủ, hoặc là người được thấy bởi vật dục, này Hiền giả, tôi cũng không tự mình hiểu biết vị ấy. Tôi nghe từ chính Tôn giả ấy mà trực tiếp ghi nhận như vầy, ‘Ta hành an lạc không phải vì sợ hãi; ly dục, không hành dục, vì dục đã diệt tận’ Này Hiền giả, với hành vi như vậy, với năng lực như vậy, với trí tuệ như vậy, khiến tôi tự mình nhận xét chân chánh mà nói rằng, ‘Tôn giả ấy hành an lạc không phải vì sợ hãi; ly dục, không hành dục, vì dục đã diệt tận.’

“Trong đây lại cần phải hỏi thêm nữa về Như Lai, ‘Nếu có pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp ấy bị diệt tận vô dư chăng? Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp ấy bị diệt tận vô dư chăng? Nếu có pháp bạch tịnh, có trường hợp pháp ấy bị diệt tận vô dư chăng?’ Như Lai bèn trả lời người ấy rằng, ‘Nếu có pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp này bị diệt tận vô dư. Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp này bị diệt tận vô dư.’

“Nếu có pháp ô nhiễm được nhận biết bởi mắt và tai, Như Lai diệt tận, đoạn trừ, nhổ tuyệt gốc rễ, không bao giờ sanh khởi trở lại nữa. Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, Như Lai diệt tận, đoạn trừ, nhổ tuyệt gốc rễ, không bao giờ sanh trở lại nữa. Nếu có pháp bạch tịnh, thì Ta với pháp bạch tịnh như vậy, cảnh giới như vậy, đạo Sa-môn như vậy, Ta như vậy mà thành tựu Chánh pháp luật này.

“Có đệ tử tịnh tín đến thăm viếng Như Lai, phụng sự Như Lai, nghe pháp từ Như Lai, và được Như Lai nói pháp cho, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch. Sau khi được Như Lai nói pháp cho nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch; nghe như vậy như vậy rồi, vị ấy biết tường tận pháp một, đối với các pháp mà chứng đắc cứu cánh, tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh Đẳng Giác’ vậy.

“Ở đây, lại cần hỏi thêm vị ấy rằng, ‘Này Hiền giả, do hành vi nào, do năng lực nào, do trí tuệ nào để Hiền giả có thể biết tường tận pháp một, đối với các pháp mà chứng đắc cứu cánh, tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh Đẳng Giác?’ Vị ấy sẽ trả lời như vầy, ‘Này Hiền giả, tôi không biết tâm của Thế Tôn, cũng không do sự kiện nào khác mà biết. Tôi do nơi Thế Tôn mà có tịnh tín như vậy. Thế Tôn nói pháp cho tôi nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch. Này Hiền giả, như Thế Tôn nói pháp cho tôi nghe, và tôi nghe như vậy như vậy, Như Lai nói pháp cho tôi nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch, và tôi nghe như vậy như vậy rồi, biết tường tận pháp một, đối với các pháp mà chứng đắc cứu cánh, tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh Đẳng Giác.’ Này Hiền giả, tôi do hành vi như vậy, năng lực như vậy, trí tuệ như vậy, khiến tôi biết tường tận pháp một, đối với các pháp mà chứng đắc cứu cánh, tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh Đẳng Giác.’’

“Nếu ai có hành này, lực này, trồng sâu gốc rễ tịnh tín nơi Như Lai, tín căn đã vững, thì được gọi là tín tương ưng với trí bất hoại, do thấy được gốc rễ. Sa-môn, Bà-la-môn, Chư thiên, Ma, Phạm và các hàng thế gian khác không thể tước đoạt được. Hãy như vậy mà tìm hiểu Như Lai. Hãy như vậy mà nhận biết chính đáng về Như Lai.”

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

T 0731b02

我聞如是:

一時,佛遊拘樓瘦劒摩瑟曇拘樓

T 0731b03

都邑。

爾時,世尊告諸比丘:「緣於彼意,不知

T 0731b04

他心如真者,彼世尊正盡覺不可知,云何

T 0731b05

求解於如來乎?」

時,諸比丘白世尊曰:「世尊

T 0731b06

為法本,世尊為法主,法由世尊,唯願說

T 0731b07

之,我等聞已,得廣知義。」

佛便告曰:「比丘!諦

T 0731b08

聽,善思念之,我當為汝具分別說。」時,諸比

T 0731b09

丘受教而聽。

世尊告曰:「緣於彼意,不知他

T 0731b10

心如真者,當以二事求解如來,一者眼

T 0731b11

知色,二者耳聞聲。若有穢污眼、耳知法,是

T 0731b12

彼尊者為有、為無耶?若求時,則知所有穢污

T 0731b13

眼、耳知法,彼尊者無。若無此者,當復更求,

T 0731b14

若有雜眼、耳知法,是彼尊者為有、為無耶?

T 0731b15

若求時,則知所有雜眼、耳知法,彼尊者無。若

T 0731b16

無此者,當復更求,若有白淨眼、耳知法,是

T 0731b17

彼尊者為有、為無耶?若求時,則知所有白

T 0731b18

淨眼、耳知法,彼尊者有。若有此者,當復更

T 0731b19

求,彼尊者為長夜行此法、為暫行耶?若求

T 0731b20

時,則知彼尊者長夜行此法,不暫行也。若

T 0731b21

常行者,當復更求,彼尊者為為名譽,為為

T 0731b22

利義入此禪耶?不為名譽,不為利義入

T 0731b23

此禪耶?若求時,則知彼尊者非為災患故

T 0731b24

入此禪也。

「若有作是說:『彼尊者樂行非

T 0731b25

恐怖,離欲不行欲,欲已盡也。』便應問彼:

T 0731b26

『賢者!有何行、有何力、有何智,令賢者自正

T 0731b27

觀如是說,彼尊者樂行非恐怖,離欲不行

T 0731b28

欲,欲已盡耶?』彼若作是答:『賢者!我不知彼

T 0731b29

心,亦非餘事知,然彼尊者或獨住,或在眾,

T 0731c01

或在集會。若有善逝,若為善逝所化為宗

T 0731c02

主,因食可見彼賢者,我不自知,我從彼尊

T 0731c03

者聞,面前諮受,我樂行非恐怖,離欲不行

T 0731c04

欲,欲已盡也。賢者!我有是行、有是力、有是

T 0731c05

智,令我自正觀如是說,彼尊者樂行不恐

T 0731c06

怖,離欲不行欲,欲已盡也。』

「於中當復問

T 0731c07

彼如來法。若有穢污眼、耳知法,有彼處此

T 0731c08

法滅盡無餘。若有雜眼、耳知法,有彼處此

T 0731c09

法滅盡無餘。若有白淨法,有彼處此法滅

T 0731c10

盡無餘,如來為彼答。若有穢污眼、耳知法,

T 0731c11

有彼處此法滅盡無餘。若有雜眼、耳知法,

T 0731c12

有彼處此法滅盡無餘。若有穢污眼、耳知

T 0731c13

法,如來滅斷拔絕根本,終不復生。若有雜

T 0731c14

眼、耳知法,如來滅斷拔絕根本,終不復生。

T 0731c15

若有白淨法,如是我白淨,如是境界,如是

T 0731c16

沙門,我如是成就此正法、律。有信弟子往

T 0731c17

見如來,奉侍如來,從如來聞法,如來為

T 0731c18

說法,上復上,妙復妙,善除黑白。如來為說

T 0731c19

法,上復上,妙復妙,善除黑白者,如是如是

T 0731c20

聞已,知斷一法,於諸法得究竟,靖信世

T 0731c21

尊,彼世尊正盡覺也。

「復應問彼:『賢者!有何

T 0731c22

行、有何力、有何智,令賢者知斷一法,於

T 0731c23

諸法得究竟?靖信世尊,彼世尊正盡覺耶?』

T 0731c24

彼如是答:『賢者!我不知世尊心,亦非餘

T 0731c25

事知,我因世尊有如是靖信,世尊為我

T 0731c26

說法,上復上,妙復妙,善除黑白。賢者!如如

T 0731c27

世尊為我說法者,如是如是我聞,如來為

T 0731c28

我說法,上復上,妙復妙,善除黑白。如是如

T 0731c29

是我聞已,知斷一法,於諸法得究竟,靖

T 0732a01

信世尊,彼世尊正盡覺也。賢者!我有是行、

T 0732a02

有是力、有是智,令我知斷一法,於諸法

T 0732a03

得究竟,靖信世尊,彼世尊正盡覺也。若有

T 0732a04

此行、有此力,深著如來信根已立者,是謂

T 0732a05

信見本不壞智相應,沙門、梵志、天及魔、梵及

T 0732a06

餘世間無有能奪,如是求解如來,如是正

T 0732a07

知如來。』」

佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,歡

T 0732a08

喜奉行。

T 0732a09

求解經第五竟

(千一十八字)

T 0732a10

中阿含經卷第四十八

(九千九百一十九字)

T 0732a11

中阿含雙品第四竟

(九千九百一十九字)

(第四分別誦

T 0732a12

竟)

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc