Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

27. Kinh phạm chí đà-nhiên (MA27)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật trú tại thành Vương Xá trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa, cùng chúng Đại Tỳ-kheo an cư mùa mưa.

Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đang ở nước Xá-vệ cũng an cư mùa mưa.

Lúc ấy, có một Tỳ-kheo ở thành Vương Xá, sau khi trải qua ba tháng an cư mùa mưa xong, vá sửa lại các y, rồi xếp y, ôm bát từ thành Vương Xá đi đến nước Xá-vệ, ở trong rừng Thắng Lâm Lâm Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên.

Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi:

“Này Hiền giả, Thế Tôn an cư tại thành Vương Xá. Thánh thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường không?”

Vị Tỳ-kheo đáp:

“Thật vậy, bạch Tôn giả Xá-lợi-phất. Thế Tôn an cư tại thành Vương Xá. Thánh thể được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái và khí lực bình thường”.

Lại hỏi:

“Này Hiền giả, đại chúng Tỳ-kheo và đại chúng Tỳ-kheo-ni an cư mùa mưa tại thành Vương xá; Thánh thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường không? Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp không”

Đáp:

“Thật vậy, bạch Tôn giả Xá-lợi-phất. Đại chúng Tỳ-kheo và đại chúng Tỳ-kheo-ni an cư mùa mưa tại thành Vương xá; Thánh thể an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường. Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp”.

Lại hỏi:

“Này Hiền giả, chúng Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di trú tại thành Vương Xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường không? Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp không?”

Đáp:

“Thật vậy, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất. Chúng Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di trú tại thành Vương Xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường. Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp”.

Lại hỏi:

“Này Hiền giả, tất cả các Sa-môn, Bà-la-môn, dị học an cư mùa mưa tại thành Vương xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường không? Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp không?”

Trả lời rằng:

“Thật vậy, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, tất cả các Sa-môn, Bà-la-môn, dị học an cư mùa mưa tại thành Vương xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường. Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp”.

Lại hỏi rằng:

“Này Hiền giả, tại thành Vương Xá có một Bà-la-môn tên là Đà-nhiên, vốn là bạn của tôi trước kia tôi chưa xuất gia; Hiền giả có biết vị ấy không?”

Trả lời rằng:

“Thưa có biết”.

Lại hỏi rằng:

“Hiền giả, Bà-la-môn Đà-nhiên ở thành Vương Xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường không? Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp không?”

Đáp:

“Tôn giả Xá-lợi-phất, Bà-la-môn Đà-nhiên ở thành Vương Xá, thân thể an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường. Nhưng ông ấy không muốn thăm viếng Đức Phật và không ưa nghe pháp”.

“Vì sao thế?”

“Tôn giả Xá-lợi-phất, Bà-la-môn Đà-nhiên không tinh tấn, phạm vào các cấm giới. Ông ấy dựa thế Vua để dối gạt các Bà-la-môn, Cư sĩ; dựa thế các Bà-la-môn, cư sĩ để dối gạt Vua”.

Tôn giả Xá-lợi-phất nghe rồi, và ba tháng an cư mùa mưa ở nước Xá-vệ đã qua, sau khi vá sửa các y, ngài xếp y, ôm bát từ nước Xá-vệ đi đến thành Vương Xá, ở trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.

Bấy giờ đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-phất, khoác y, ôm bát vào thành Xá-vệ, lần lượt đi khất thực. Sau khi khất thực xong, ngài đi đến nhà của Bà-la-môn Đà-nhiên.

Lúc ấy, Bà-la-môn Đà-nhiên từ nhà đi ra, đến bên bờ suối, đang hành hạ cư dân. Bà-la-môn Đà-nhiên từ xa trông thấy Tôn giả Xá-lợi-phất, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng đến Tôn giả giả Xá-lợi-phất mà tán thán rằng:

“Kính chào Xá-lợi-phất, đã lâu lắm rồi Xá-lợi-phất không đến đây”.

Rồi Bà-la-môn Đà-nhiên, với lòng cung kính, ôm Tôn giả Xá-lợi-phất dìu vào nhà, trải giường đẹp mà mời ngồi. Tôn giả Xá-lợi-phất liền ngồi trên giường đó. Bà-la-môn Đà-nhiên thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đã ngồi xuống, liền bưng một cái chậu sữa bằng vàng mời Tôn giả Xá-lợi-phất ăn. Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

“Thôi, thôi, Đà-nhiên, chỉ trong lòng vui là đủ!”

Bà-la-môn Đà-nhiên lặp lại ba lần mời ăn. Tôn giả Xá-lợi-phất cũng ba lần nói rằng:

“Thôi, thôi, Đà-nhiên, chỉ trong lòng vui là đủ!”

Lúc đó Bà-la-môn Đà-nhiên nói rằng:

“Xá-lợi-phất, cớ gì vào nhà như thế này mà chẳng chịu ăn?”

Đáp:

“Này Đà-nhiên, ông không tinh tấn lại phạm vào các giới cấm. Dựa thế vào Vua để dối gạt Bà-la-môn, Cư sĩ; dựa thế Bà-la-môn, Cư sĩ để dối gạt Vua”.

Bà-la-môn Đà-nhiên trả lời rằng:

“Xá-lợi-phất, nên biết, nay tôi còn sống tại gia, lấy gia nghiệp làm bổn phận. Tôi còn phải lo cho mình được an ổn, cung cấp cha mẹ, săn sóc vợ con, cung cấp nô tỳ, phải nộp thuế cho Vua, thờ tự thiên thần, cúng tế tổ tiên, và còn phải bố thí cho các Sa-môn, Bà-la-môn để sau này còn được sanh lên các cõi trời, mong được trường thọ, được quả báo an lạc. Xá-lợi-phất, các việc ấy không thể nào bỏ đi, một mực theo đúng pháp”.

Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất bảo rằng:

“Này Đà-nhiên, nay tôi hỏi ông, tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Bà-la-môn Đà-nhiên, ông nghĩ thế nào? Nếu có người vì cha mẹ mà tạo các việc ác. Vì tạo ác nên khi thân hoại mạng chung nó đi thẳng vào cõi ác, sanh vào địa ngục. Sanh vào địa ngục rồi, khi ngục tốt bắt trói hành hạ rất khổ sở, người ấy nói với ngục tốt thế này: ‘Ngục tốt, hãy biết cho, chớ hành hạ tôi. Vì sao? Tôi đã vì cha mẹ mà tạo các nghiệp ác’. Thế nào, Đà-nhiên, người ấy có thể thoát khỏi sự khổ sở ấy bởi ngục tốt không?”

Bà-la-môn Đà-nhiên trả lời rằng:

“Không thể”.

Lại hỏi:

“Này Đà-nhiên, ông nghĩ thế nào? Nếu có người vì vợ con mà tạo các việc ác. Vì tạo ác nên khi thân hoại mạng chung, nó đi thẳng vào cõi dữ, sanh vào địa ngục. Sanh vào địa ngục rồi, khi bị ngục tốt bắt trói, hành hạ rất khổ sở, người ấy nói vơi ngục tốt như thế này: ‘Ngục tốt, hãy biết cho, chớ hành hạ tôi. Vì sao? Tôi đã vì vợ con mà tạo các nghiệp ác’. Thế nào, Đà-nhiên, người ấy có thể nào thoát khỏi sự khổ sở ấy với ngục tốt không?”

Bà-la-môn Đà-nhiên trả lời rằng:

“Không thể”.

Lại hỏi:

“Này Đà-nhiên, ông nghĩ thế nào? Nếu có người vì nô tỳ mà tạo các việc ác, vì tạo ác nên khi thân hoại mạng chung, nó đi thẳng vào cõi ác, sanh vào địa ngục. Sanh vào địa ngục rồi, khi bị ngục tốt bắt trói hành hạ rất khổ sở, người ấy nói với ngục tốt như thế này: ‘Ngục tốt, hãy biết cho, chớ hành hạ tôi. Vì sao? Tôi đã vì nô tỳ mà tạo các nghiệp ác’. Thế nào, Đà-nhiên, người ấy có thể nào thoát khỏi sự khổ sở ấy với ngục tốt không?”

Bà-la-môn Đà-nhiên trả lời rằng:

“Không thể”.

Lại hỏi:

“Này Đà-nhiên, ông nghĩ thế nào? Nếâu có người vì quốc vương, vì thiên thần, vì tổ tiên, vì Sa-môn, Bà-la-môn mà tạo các việc ác. Vì tạo ác nên khi thân hoại mạng chung, nó đi thẳng vào cõi ác, sanh vào địa ngục. Sanh vào địa ngục rồi, khi bị ngục tốt bắt trói hành hạ rất khổ sở, người ấy nói với ngục tốt mà nói thế này: ‘Ngục tốt, hãy biết cho, chớ hành hạ tôi. Vì sao? Tôi đã vì quốc vương, vì thiên thần, vì tổ tiên, vì Sa-môn, Bà-la-môn mà tạo các nghiệp ác’. Thế nào, Đà-nhiên, người ấy có thể nào thoát khỏi sự khổ sở ấy với ngục không?”

Bà-la-môn Đà-nhiên trả lời rằng:

“Không thể”.

“Này Đà-nhiên, một thiện gia nam tử vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như công đức mà làm ra tiền của, để tôn trọng kính phụng, hiếu dưỡng cha mẹ, làm các việc phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác.

“Này Đà-nhiên, một thiện gia nam tử như pháp, như nghiệp, như công đức, mà làm ra tiền của, để tôn trọng, kính phụng, hiếu dưỡng cha mẹ, làm các việc phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác. Đà-nhiên, nếu một thiện gia nam tử như pháp, như nghiệp, như công đức mà làm ra tiền của, để tôn trọng kính phụng, hiếu dưỡng cha mẹ, làm các việc phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác, người ấy được cha mẹ thương yêu và nói thế này: ‘Mong cho con được mạnh khỏe, sống lâu vô cùng. Vì sao thế?Vì ta nhờ con nên được an ổn khoái lạc’. Này Đà-nhiên, nếu người nào được cha mẹ thương yêu rất mực, đức người đó ngày càng tăng thêm, không bao giờ suy giảm.

“Này Đà-nhiên, một thiện gia nam tử vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như công đức mà làm ra tiền của, yêu thương và săn sóc vợ con, làm các nghiệp phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác.

“Này Đà-nhiên, nếu một thiện gia nam tử như pháp, như nghiệp, như công đức, mà làm ra tiền của, yêu thương và săn sóc vợ con, làm các nghiệp phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác, người ấy được vợ con tôn trọng, và nói thế này: ‘Mong cho tôn trưởng được mạnh khỏe, sống lâu vô cùng. Vì sao thế? Vì chúng tôi nhờ tôn trưởng nên được an ổn khoái lạc’. Này Đà-nhiên, nếu người nào được vợ con tôn trọng rất mực, đức người đó ngày càng tăng thêm, không bao giờ suy giảm.

“Này Đà-nhiên, một thiện gia nam tử vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như công đức mà làm ra tiền của, yêu thương, chu cấp và săn sóc nô tỳ, làm các nghiệp phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác.

“Này Đà-nhiên, nếu một thiện gia nam tử như pháp, như nghiệp, như công đức, mà làm ra tiền của, yêu thương, chu cấp và săn sóc nô tỳ, làm các nghiệp phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác, người ấy được nô tỳ tôn trọng, và nói thế này: ‘Mong cho đại gia được mạnh khỏe, sống lâu vô cùng. Vì sao thế? Vì chúng tôi nhờ đại gia nên được an ổn’. Này Đà-nhiên, nếu người nào được nô tỳ tôn trọng rất mực, đức người đó ngày càng tăng thêm, không bao giờ suy giảm.

“Này Đà-nhiên, một thiện gia nam tử vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như công đức mà làm ra tiền của, tôn trọng cúng dường các vị Sa-môn, Bà-la-môn, làm các nghiệp phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác.

“Này Đà-nhiên, nếu một thiện gia nam tử như pháp, như nghiệp, như công đức, mà làm ra tiền của, tôn trọng cúng dường các vị Sa-môn, Bà-la-môn, làm các nghiệp phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác, người ấy được các Sa-môn, Bà-la-môn yêu mến rất mực, và nói thế này: ‘Mong cho thí chủ được mạnh khỏe, sống lâu vô cùng. Vì sao thế? Vì chúng tôi nhờ thí chủ nên được an hưởng khoái lạc’. Này Đà-nhiên, nếu người nào được các Sa-môn, Bà-la-môn yêu mến rất mực, đức người đó ngày càng tăng thêm, không bao giờ suy giảm”.

Bấy giờ Bà-la-môn Đà-nhiên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng về phía Xá-lợi-phất thưa rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, tôi có người vợ yêu tên là Đoan Chánh. Tôi vì say mê nó nên đã buông lung, tạo quá nhiều ác nghiệp tội lỗi. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phấtû, bắt đầu từ đây tôi bỏ người vợ Đoan Chánh kia, xin quy y với Tôn giả Xá-lợi-phất”.

Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời rằng:

“Này Đà-nhiên, ông chớ quy y tôi. Ông nên quy y nơi Phật là Đấng mà tôi quy y”.

Bà-la-môn Đà-nhiên thưa rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, từ hôm nay tôi xin quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Cúi mong Tôn giả Xá-lợi-phất nhận tôi làm Ưu-bà-tắc của Phật; trọn đời xin tự quy y cho đến mạng chung”.

Thế rồi Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp cho Bà-la-môn Đà-nhiên, khai thị, giáo giới, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện để thuyết pháp khai thị, giáo giới, khích lệ, làm cho hoan hỷ, Ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến thành Vương Xá.

Ở đây được vài ngày, ngài xếp y, ôm bát rời thành Vương xá ra đi, đến Nam sơn, trụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa, thuộc phía Bắc thôn Nam sơn.

Bấy giờ có một vị Tỳ-kheo đi đến thành Vương Xá. Ở đây được vài ngày, xếp y ôm bát từ thành Vương xá ra đi, đến Nam sơn cũng trụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa, thuộc phía Bắc thôn Nam sơn.

Rồi vị Tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên. Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi rằng:

“Hiền giả từ nơi nào tới đây và trú ở đâu?”

Tỳ-kheo ấy trả lời rằng:

“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, tôi từ thành Vương Xá đi đến đây và trú ở thành Vương Xá”.

Lại hỏi rằng:

“Hiền giả ngài có biết Bà-la-môn Đà-nhiên ở thành Vương Xá, vốn là bạn của tôi xưa kia lúc tôi chưa xuất gia không?”

“Thưa có biết”.

Lại hỏi rằng:

“Này hiền giả, Bà-la-môn Đà-nhiên ở thành Vương Xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường và có thường thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp không?”

Trả lời rằng:

“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, Bà-la-môn Đà-nhiên thường đến thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp; nhưng không được khỏe mạnh, khí lực dần dần suy yếu. Vì sao vậy? Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, hiện giờ Bà-la-môn Đà-nhiên mang tật bệnh rất khốn khổ, nguy hiểm khôn chừng, do đó có thể mạng chung”.

Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong lời ấy, liền xếp y ôm bát rời Nam sơn ra đi, đến thành Vương Xá, trú trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-phất khoác y, ôm bát đi đến nhà Bà-la-môn Đà-nhiên. Bà-la-môn Đà-nhiên từ đằng xa trông thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến, muốn rời giường đứng dậy. Tôn giả Xá-lợi-phất thấy Bà-la-môn Đà-nhiên muốn rời giường đứng dậy, liền ngăn ông ấy rằng:

“Này Bà-la-môn Đà-nhiên, ông cứ nằm, đừng đứng dậy. Đã có giường khác đây, rồi tôi sẽ ngồi riêng”.

Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất liền ngồi xuống giường ấy, rồi bảo rằng:

“Hôm nay bệnh tình ra sao? Ăn uống được nhiều ít? Sự đau đớn bớt dần, không đến nỗi tăng thêm chăng?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Bệnh tình con rất là khốn đốn, ăn uống chẳng được gì cả; đau đớn chỉ tăng thêm mà không thấy giảm bớt tí nào. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, giống như người lực sĩ đem con dao bén nhọn đâm vào đầu, chỉ sanh sự khốn khổ quá mức thôi. Đầu con hôm nay cũng nhức nhối giống như vậy. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng như lực sĩ lấy sợi dây thừng chắt đem quấn riết chung quanh đầu, chỉ sanh sự khốn khổ quá mức. Đầu con hôm nay cũng nhức nhối giống như vậy. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng như người mổ trâu, đem con dao bén mổ bụng trâu, chỉ sanh sự đau đớn quá mức. Bụng con hôm nay cũng quặn đau giống như vậy. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng như hai lực sĩ bắt một người ốm yếu đem nướng trên ngọn lửa, chỉ sanh ra sự đau khổ đến cùng cực. Thân thể con hôm nay đau đớn, cả mình sanh ra khổ sở, chỉ tăng thêm chớ không giảm bớt; cũng giống như vậy”.

Tôn giả Xá-lợi-phất bảo rằng:

“Này Đà-nhiên, bây giờ tôi hỏi ông, tùy sự hiểu biết mà ông trả lời. Này Bà-la-môn Đà-nhiên, địa ngục và súc sanh, nơi nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Súc sanh tốt đẹp hơn”.

Lại hỏi rằng:

“Này Đà-nhiên, súc sanh và ngạ quỉ, loài nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Ngạ quỉ tốt đẹp hơn”.

Lại hỏi rằng:

“Này Đà-nhiên, ngạ quỉ và loài người, loài nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Loài người tốt đẹp hơn”.

Lại hỏi rằng:

“Này Đà-nhiên, người và Tứ Vương thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Tứ thiên vương tốt đẹp hơn”.

Lại hỏi rằng:

Này Đà-nhiên, Tứ Vương thiên và Tam Thập Tam thiên, cõi nào tốt đẹp?

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Tam Thập Tam thiên tốt đẹp hơn”.

Lại hỏi rằng:

“Tam Thập Tam thiên với Diệm-ma thiên cõi nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Diệâm-ma thiên tốt đẹp hơn.”

Lại hỏi rằng:

“Này Đà-nhiên, Diệm-ma thiên với Đâu-suất-đà thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Đâu-suất-đà thiên tốt đẹp hơn”.

Lại hỏi rằng:

“Này Đà-nhiên, Đâu-suất-đà thiên với Hóa Lạc thiên cõi nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Hóa Lạc thiên tốt đẹp hơn”.

Lại hỏi rằng:

“Này Đà-nhiên, Hóa Lạc thiên với Tha Hóa lạc thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Tha Hóa Lạc thiên tố dẹp hơn.”

“Này Đà-nhiên, Tha Hóa lạc thiên với Phạm thiên cõi nào tốt đẹp hơn?”

Đà-nhiên trả lời rằng:

“Phạm thiên là tốt đẹp hơn cả. Phạm thiên là tối Thắng Lâm”.

Tôn giả Xá-lợi-phất bảo rằng:

“Đức Thế Tôn là bậc tri kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, có nói về bốn Phạm trụ. Nếu một thiện gia nam tử hay một thiện gia nữ tử nào tu tập nhiều, đoạn dục, xả niệm tưởng về dục, khi thân hoại mạng chung sẽ sanh lên cõi Phạm thiên. Những gì là bốn?

“Này Đà-nhiên, Thánh đệ tử đa văn có tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với hai, ba bốn phương, tứ duy và thượng hạ, thấu khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không oán, không sân hận, không não hại, bao la, quảng đại, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, tâm câu hữu với bi, hỷ; với xả, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với hai, ba bốn phương, tứ duy và thượng hạ, thấu khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không oán, không sân hận, không não hại, bao la, quảng đại, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Đà-nhiên, đó là Đức Thế Tôn, là bậc Tri Kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, có nói về bốn Phạm trụ. Nếu một thiện gia nam tử hay một thiện gia nữ nào tu tập nhiều, đoạn dục, xả niệm tưởng về dục, khi thân hoại mạng chung sẽ sanh lên cõi Phạm thiên”.

Bấy giờ, sau khi giáo hóa cho Đà-nhiên, nói về pháp Phạm thiên, Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Tôn giả Xá-lợi-phất từ thành Vương Xá đi, chưa đến Trúc lâm vườn Ca-lan-đa, đang nửa đường ấy, Bà-la-môn Đà-nhiên do tu tập bốn Phạm trụ, đoạn dục, xả dục niệm, thân hoại mạng chung sanh lên cõi Phạm thiên.

Bấy giờ Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô lượng đại chúng đang vây quanh trước sau. Đức Thế Tôn thấy Tôn giả Xá-lợi-phất từ đàng xa đi tới, nói với các thầy Tỳ-kheo rằng:

“Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là bậc thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tài tuệ; Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã thành tựu thật tuệ. Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã giáo hóa Bà-la-môn Đà-nhiên, nói về Phạm thiên rồi mới về đây. Nếu lại giáo hóa cao hơn nữa thì người kia nhanh chóng biết pháp tùy pháp”.

Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Này Xá-lợi-phất, vì sao ông không giáo hóa Bà-la-môn Đà-nhiên bằng một pháp cao hơn Phạm thiên? Nếu ông giáo hóa cao hơn thì người kia sẽ nhanh chóng biết pháp tùy pháp”.

Tôn giả Xá-lợi-phất thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn từ lâu đời ái trước Phạm thiên, ưa thích Phạm thiên, cho Phạm thiên là rốt ráo, Phạm thiên là tôn quý, thật có Phạm thiên là Phạm thiên của ta. Do đó, bạch Thế Tôn, nên con đã giáo hóa như vậy”.

Phật thuyết như vậy. Tôn giả Xá-lợi-phất và vô lượng trăm nghìn đại chúng, sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

T 0456a24

我聞如是:

一時,佛遊王舍城,在竹林加蘭

T 0456a25

哆園,與大比丘眾俱,共受夏坐。爾時,尊

T 0456a26

者舍梨子在舍衛國亦受夏坐。

是時,有一

T 0456a27

比丘於王舍城受夏坐訖,過三月已,補治

T 0456a28

衣竟,攝衣持鉢,從王舍城往舍衛國,住

T 0456a29

勝林給孤獨園。彼一比丘往詣尊者舍梨子

T 0456b01

所,稽首禮足,却坐一面。

尊者舍梨子問曰:

T 0456b02

「賢者!從何處來,於何夏坐?」

彼一比丘答曰:

T 0456b03

「尊者舍梨子!我從王舍城來,在王舍城受

T 0456b04

夏坐。」

復問:「賢者!世尊在王舍城受夏坐,聖

T 0456b05

體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?」

T 0456b06

曰:「如是。尊者舍梨子!世尊在王舍城受夏

T 0456b07

坐,聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常。」

T 0456b08

復問:「賢者!比丘眾、比丘尼眾在王舍城受

T 0456b09

夏坐,聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如

T 0456b10

常,欲數見佛,樂聞法耶?」

答曰:「如是。尊者舍

T 0456b11

梨子!比丘眾、比丘尼眾在王舍城受夏坐,

T 0456b12

聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常,欲

T 0456b13

數見佛,盡樂聞法。」

復問:「賢者!優婆塞眾、優婆

T 0456b14

夷眾住王舍城,身體康強,安快無病,起居輕

T 0456b15

便,氣力如常,欲數見佛,樂聞法耶?」

答曰:「如

T 0456b16

是。尊者舍梨子!優婆塞眾、優婆夷眾住王舍

T 0456b17

城,身體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常,

T 0456b18

欲數見佛,盡樂聞法。」

復問:「賢者!若干異學

T 0456b19

沙門、梵志在王舍城受夏坐,身體康強,安

T 0456b20

快無病,起居輕便,氣力如常,欲數見佛,樂

T 0456b21

聞法耶?」

答曰:「如是。尊者舍梨子!若干異

T 0456b22

學沙門、梵志在王舍城受夏坐,身體康強,

T 0456b23

安快無病,起居輕便,氣力如常,欲數見佛,

T 0456b24

盡樂聞法。」

復問:「賢者!在王舍城有一梵志,

T 0456b25

名曰陀然,是我昔日未出家友,賢者識

T 0456b26

耶?」

答曰:「識之。」

復問:「賢者!梵志陀然住王舍

T 0456b27

城,身體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常,

T 0456b28

欲數見佛,樂聞法耶?」

答曰:「尊者舍梨子!梵

T 0456b29

志陀然住王舍城,身體康強,安快無病,起居

T 0456c01

輕便,氣力如常,不欲見佛,不樂聞法,所以

T 0456c02

者何?尊者舍梨子!梵志陀然而不精進,犯

T 0456c03

於禁戒,彼依傍於王,欺誑梵志、居士,依恃

T 0456c04

梵志、居士,欺誑於王。」

尊者舍梨子聞已,於

T 0456c05

舍衛國受夏坐訖,過三月已,補治衣竟,

T 0456c06

攝衣持鉢,從舍衛國往詣王舍城,住竹林

T 0456c07

加蘭哆園。

於是,尊者舍梨子過夜平旦,著

T 0456c08

衣持鉢,入王舍城,次行乞食,乞食已,竟往

T 0456c09

至梵志陀然家。是時,梵志陀然從其家出,至

T 0456c10

泉水邊苦治居民。梵志陀然遙見尊者舍

T 0456c11

梨子來,從坐而起,偏袒著衣,叉手向尊者

T 0456c12

舍梨子讚曰:「善來,舍梨子!舍梨子久不來

T 0456c13

此。」於是,梵志陀然敬心扶抱尊者舍梨子,

T 0456c14

將入家中,為敷好床,請使令坐。尊者舍

T 0456c15

梨子即坐其床,梵志陀然見尊者舍梨子坐

T 0456c16

已,執金澡灌,請尊者舍梨子食。

尊者舍梨

T 0456c17

子曰:「止!止!陀然!但心喜足。」

梵志陀然復再三

T 0456c18

請食,尊者舍梨子亦再三語曰:「止!止!陀然,但

T 0456c19

心喜足。」

是時,梵志陀然問曰:「舍梨子!何故入

T 0456c20

如是家而不肯食?」

答曰:「陀然!汝不精進,

T 0456c21

犯於禁戒,依傍於王,欺誑梵志、居士,依傍

T 0456c22

梵志、居士,欺誑於王。」

梵志陀然答曰:「舍梨子!

T 0456c23

當知我今在家,以家業為事,我應自安隱,

T 0456c24

供養父母,瞻視妻子,供給奴婢,當輸王租,

T 0456c25

祠祀諸天,祭餟先祖及布施沙門、梵志,為

T 0456c26

後生天而得長壽,得樂果報故。舍梨子!是

T 0456c27

一切事不可得疑,一向從法。」

於是,尊者舍

T 0456c28

梨子告曰:「陀然!我今問汝,隨所解答。梵志

T 0456c29

陀然!於意云何?若使有人為父母故而行

T 0457a01

作惡,因行惡故,身壞命終趣至惡處,生地

T 0457a02

獄中。生地獄已,獄卒執捉,極苦治時,彼向

T 0457a03

獄卒而作是語:『獄卒!當知,莫苦治我。所以

T 0457a04

者何?我為父母故而行作惡。』云何?陀然!彼

T 0457a05

人可得從地獄卒脫此苦耶?」

答曰:「不也。」

T 0457a06

復問:「陀然!於意云何?若復有人為妻子故

T 0457a07

而行作惡,因行惡故,身壞命終趣至惡處

T 0457a08

生地獄中。生地獄已,獄卒執捉,極苦治時,

T 0457a09

彼向獄卒而作是語:『獄卒!當知,莫苦治我。

T 0457a10

所以者何?我為妻子故而行作惡。』云何?陀

T 0457a11

然!彼人可得從地獄卒脫此苦耶?」

答曰:

T 0457a12

「不也。」

復問:「陀然!於意云何?若復有人為奴

T 0457a13

婢故,而行作惡,因行惡故,身壞命終趣至

T 0457a14

惡處,生地獄中。生地獄已,獄卒執捉,極苦

T 0457a15

治時,彼向獄卒而作是語:『獄卒!當知,莫苦

T 0457a16

治我。所以者何?我為奴婢故而行作惡。』云

T 0457a17

何?陀然,彼人可得從地獄卒脫此苦耶?」

T 0457a18

曰:「不也。」

復問:「陀然!於意云何?若復有人為

T 0457a19

王、為天、為先祖,為沙門、梵志故,而行作惡,

T 0457a20

因行惡故,身壞命終趣至惡處,生地獄

T 0457a21

中。生地獄已,獄卒執捉,極苦治時,彼向獄

T 0457a22

卒而作是語:『獄卒!當知,莫苦治我。所以者

T 0457a23

何?我為王、為天、為先祖,為沙門、梵志故,而

T 0457a24

行作惡。』云何?陀然,彼人可得從地獄卒脫

T 0457a25

此苦耶?」

答曰:「不也。」

「陀然!族姓子可得如法、

T 0457a26

如業、如功德得錢財,尊重奉敬孝養父母,

T 0457a27

行福德業,不作惡業。陀然!若族姓子如法、

T 0457a28

如業、如功德得錢財,尊重奉敬孝養父母,

T 0457a29

行福德業,不作惡業者,彼便為父母之所

T 0457b01

愛念,而作是言:『令汝強健,壽考無窮。所以

T 0457b02

者何?我由汝故,安隱快樂。』陀然!若有人極

T 0457b03

為父母所愛念者,其德日進,終無衰退。

T 0457b04

「陀然!族姓子可得如法、如業、如功德得錢

T 0457b05

財,愛念妻子,供給瞻視,行福德業,不作

T 0457b06

惡業。陀然!若族姓子如法、如業、如功德得錢

T 0457b07

財,愛念妻子,供給瞻視,行福德業,不作惡

T 0457b08

業者,彼便為妻子之所尊重,而作是言:『願

T 0457b09

尊強健,壽考無窮。所以者何?我由尊故,安隱

T 0457b10

快樂。』陀然!若有人極為妻子所尊重者,其

T 0457b11

德日進,終無衰退。

「陀然!族姓子可得如法、

T 0457b12

如業、如功德得錢財,愍傷奴婢,給恤瞻視,

T 0457b13

行福德業,不作惡業。陀然!若族姓子如法、

T 0457b14

如業、如功德得錢財,愍傷奴婢,給恤瞻視,

T 0457b15

行福德業,不作惡業者,彼便為奴婢之所

T 0457b16

尊重,而作是言:『願令大家強健,壽考無窮。

T 0457b17

所以者何?由大家故,我得安隱。』陀然!若有

T 0457b18

人極為奴婢所尊重者,其德日進,終無衰

T 0457b19

退。

「陀然!族姓子可得如法、如業、如功德得

T 0457b20

錢財,尊重供養沙門、梵志,行福德業,不作

T 0457b21

惡業。陀然!若族姓子如法、如業、如功德得錢

T 0457b22

財,尊重供養沙門、梵志,行福德業,不作惡

T 0457b23

業者,彼便極為沙門、梵志之所愛念,而作

T 0457b24

是言:『令施主強健,壽考無窮。所以者何?我

T 0457b25

由施主故,得安隱快樂。』陀然!若有人極為

T 0457b26

沙門、梵志所愛念者,其德日進,終無衰退。」

T 0457b27

於是,梵志陀然即從坐起,偏袒著衣,叉手

T 0457b28

向尊者舍梨子白曰:「舍梨子!我有愛婦,名

T 0457b29

曰端正,我惑彼故,而為放逸,大作罪業。舍

T 0457c01

梨子!我從今日始,捨端正婦,自歸尊者舍

T 0457c02

梨子。」

尊者舍梨子答曰:「陀然!汝莫歸我,我

T 0457c03

所歸佛汝應自歸。」

梵志陀然白曰:「尊者舍

T 0457c04

梨子!我從今日自歸於佛、法及比丘眾,唯

T 0457c05

願尊者舍梨子受我為佛優婆塞,終身自歸,

T 0457c06

乃至命盡。」

於是,尊者舍梨子為梵志陀然說

T 0457c07

法,勸發渴仰,成就歡喜,無量方便為彼說

T 0457c08

法,勸發渴仰,成就歡喜已,從坐起去,遊

T 0457c09

王舍城,住經數日,攝衣持鉢,從王舍城出,

T 0457c10

往詣南山,住南山村北尸攝惒林中。

彼時,有

T 0457c11

一比丘遊王舍城,住經數日,攝衣持鉢,從

T 0457c12

王舍城出,亦至南山,住南山村北尸攝惒

T 0457c13

林中。

於是,彼一比丘往詣尊者舍梨子所,稽

T 0457c14

首禮足,却坐一面。

尊者舍梨子問曰:「賢者!從

T 0457c15

何處來?何處遊行?」

比丘答曰:「尊者舍梨子!我

T 0457c16

從王舍城來,遊行王舍城。」

復問:「賢者!知王

T 0457c17

舍城有一梵志,名曰陀然,是我昔日未出

T 0457c18

家友耶?」

答曰:「知也。」

復問:「賢者!梵志陀然住

T 0457c19

王舍城,身體康強,安快無病,起居輕便,氣力

T 0457c20

如常,欲數見佛,樂聞法耶?」

答曰:「尊者舍梨

T 0457c21

子!梵志陀然欲數見佛,欲數聞法,但不安

T 0457c22

快,氣力轉衰。所以者何?尊者舍梨子!梵志陀

T 0457c23

然今者疾病,極困危篤,或能因此而至命終。」

T 0457c24

尊者舍梨子聞是語已,即攝衣持鉢,從南

T 0457c25

山出,至王舍城,住竹林加蘭哆園。於是,尊

T 0457c26

者舍梨子過夜平旦,著衣持鉢,往詣梵志

T 0457c27

陀然家。梵志陀然遙見尊者舍梨子來,見已

T 0457c28

便欲從床而起,尊者舍梨子見梵志陀然

T 0457c29

欲從床起,便止彼曰:「梵志陀然!汝臥勿起,

T 0458a01

更有餘床,我自別坐。」

於是,尊者舍梨子即坐

T 0458a02

其床,坐已,問曰:「陀然!所患今者何似,飲食多

T 0458a03

少,疾苦轉損,不至增耶?」

陀然答曰:「所患至困,

T 0458a04

飲食不進,疾苦但增而不覺損。尊者舍梨

T 0458a05

子!猶如力士以利刀刺頭,但生極苦,我今

T 0458a06

頭痛亦復如是。尊者舍梨子!猶如力士以

T 0458a07

緊索繩而纏絡頭,但生極苦,我今頭痛亦

T 0458a08

復如是。尊者舍梨子!猶屠牛兒而以利刀

T 0458a09

破於牛腹,但生極苦,我今腹痛亦復如是。

T 0458a10

尊者舍梨子!猶兩力士捉一羸人在火上炙,

T 0458a11

但生極苦,我今身痛,舉體生苦,但增不減,

T 0458a12

亦復如是。」

尊者舍梨子告曰:「陀然!我今問

T 0458a13

汝,隨所解答。梵志陀然!於意云何?地獄、畜

T 0458a14

生,何者為勝?」

陀然答曰:「畜生勝也。」

復問:「陀然!

T 0458a15

畜生、餓鬼,何者為勝?」

陀然答曰:「餓鬼勝也。」

T 0458a16

問:「陀然!餓鬼比人,何者為勝?」

陀然答曰:「人

T 0458a17

為勝也。」

復問:「陀然!人、四王天,何者為勝?」

T 0458a18

然答曰:「四王天勝。」

復問:「陀然!四王天、三十三

T 0458a19

天,何者為勝?」

陀然答曰:「三十三天勝。」

復問:

T 0458a20

「陀然!三十三天、

[火*僉]

摩天,何者為勝?」

陀然答

T 0458a21

曰:「

[火*僉]

摩天勝。」

復問:「陀然!

[火*僉]

摩天、兜率陀

T 0458a22

天,何者為勝?」

陀然答曰:「兜率陀天勝。」

復問:

T 0458a23

「陀然!兜率陀天、化樂天,何者為勝?」

陀然答

T 0458a24

曰:「化樂天勝。」

復問:「陀然!化樂天、他化樂天、何

T 0458a25

者為勝?」

陀然答曰:「他化樂天勝。」

復問:「陀然!

T 0458a26

他化樂天、梵天,何者為勝?」

陀然答曰:「梵天最

T 0458a27

勝,梵天最勝。」

尊者舍梨子告曰:「陀然!世尊知

T 0458a28

見,如來、無所著、等正覺說四梵室,謂族姓男、

T 0458a29

族姓女修習多修習,斷欲、捨欲念,身壞命

T 0458b01

終,生梵天中。云何為四?陀然!多聞聖弟子

T 0458b02

心與慈俱,遍滿一方成就遊,如是二三四

T 0458b03

方、四維上下,普周一切,心與慈俱,無結無怨,

T 0458b04

無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世

T 0458b05

間成就遊,如是悲、喜心與捨俱,無結無怨,

T 0458b06

無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世

T 0458b07

間成就遊。是謂,陀然!世尊知見,如來、無所著、

T 0458b08

等正覺說四梵室,謂族姓男、族姓女修習多

T 0458b09

修習,斷欲、捨欲念,身壞命終,生梵天中。」

T 0458b10

是,尊者舍梨子教化陀然,為說梵天法已,

T 0458b11

從坐起去。尊者舍梨子從王舍城出,未

T 0458b12

至竹林加蘭哆園,於其中間,梵志陀然修

T 0458b13

習四梵室,斷欲、捨欲念,身壞命終,生梵天

T 0458b14

中。

是時,世尊無量大眾前後圍繞而為說法,

T 0458b15

世尊遙見尊者舍梨子來,告諸比丘:「舍梨子

T 0458b16

比丘聰慧、速慧、捷慧、利慧、廣慧、深慧、出要慧、

T 0458b17

明達慧、辯才慧,舍梨子比丘成就實慧。此舍

T 0458b18

梨子比丘教化梵志陀然,為說梵天法來,

T 0458b19

若復上化者,速知法如法。」

於是,尊者舍梨

T 0458b20

子往詣佛所,稽首禮足,却坐一面,世尊告

T 0458b21

曰:「舍梨子!汝何以不教梵志陀然過梵天

T 0458b22

法,若上化者,速知法如法。」

尊者舍梨子白

T 0458b23

曰:「世尊!彼諸梵志長夜愛著梵天,樂於梵

T 0458b24

天,究竟梵天,是尊梵天,實有梵天,為我

T 0458b25

梵天。是故,世尊!我如是應。」

佛說如是。尊者

T 0458b26

舍梨子及無量百千眾,聞佛所說,歡喜奉行。

T 0458b27

梵志陀然經第七竟

(三千三百三十一字)

T 0458b28

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc