Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm Lâm Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Trưởng giả Cấp Cô Độc mang bệnh nguy kịch. Trưởng giả bảo người giúp việc rằng:
“Ngươi hãy đi đến chỗ Đức Phật, vì ta mà đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn hỏi thăm sức khỏe, xem Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Rồi nói như vầy: ‘Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, thăm hỏi Đức Thế Tôn Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không?’ Sau khi ngươi đã vì ta mà thăm hỏi Đức Thế Tôn rồi, hãy đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, hãy vì ta mà đảnh lễ dưới chân ngài rồi hỏi thăm Tôn giả xem Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Rồi nói như vầy: ‘Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Xá-lợi-phất, thăm hỏi Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, Trưởng giả Cấp Cô Độc đang mang bệnh tật rất ngặt, nay đã đến hồi nguy kịch. Trưởng giả Cấp Cô Độc với tâm chí thiết rất muốn được gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, nhưng cơ thể quá yếu đuối không còn chút khí lực để đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất được. Lành thay, Tôn giả Xá-lợi-phất, xin ngài hãy vì lòng từ, mong ngài đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc.’”
Bấy giờ, sau khi vâng lời dạy của Trưởng giả Cấp Cô Độc, người giúp việc liền đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật rồi đứng sang một bên thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, thăm hỏi Đức Thế Tôn Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không?”
Đức Thế Tôn bảo sứ giả rằng:
“Mong cho Trưởng giả Cấp Cô Độc an hưởng khoái lạc. Mong cho Chư Thiên, A-tu-la, Càn-thát-bà, La-sát và các chủng loại khác, thân thể được an ổn khoái lạc”.
Người giúp việc nghe Phật dạy như thế, ghi nhớ kỹ, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh ba vòng, rồi đi đến Tôn giả Xá-lợi-phất, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài, xin thăm hỏi Tôn giả Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, Trưởng giả Cấp Cô Độc đang mang bệnh tật rất hiểm nghèo, nay đã đến hồi nguy kịch. Trưởng giả Cấp Cô Độc với tâm chí thiết rất muốn được gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, nhưng cơ thể quá yếu đuối, không còn chút khí lực để đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất được. Lành thay, Tôn giả Xá-lợi-phất, xin ngài hãy vì lòng từ, mong ngài đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc”.
Tôn giả Xá-lợi-phất liền im lặng nhận lời. Bấy giờ sứ giả biết Tôn giả Xá-lợi-phất đã im lặng nhận lời, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh ba vòng rồi ra về.
Sau khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-phất khoác y, ôm bát đi đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc thấy Tôn giả Xá-lợi-phất từ đàng xa đi đến, muốn ngồi dậy lhỏi giường. Tôn giả Xá-lợi-phất thấy Trưởng giả Cấp Cô Độc muốn từ giường ngồi dậy, liền cản lại rằng:
“Này Trưởng giả, chớ ngồi dậy. Còn giường khác đây, tôi sẽ ngồi riêng”.
Tôn giả Xá-lợi-phất liền ngồi lên giường ấy, rồi hỏi rằng:
“Bệnh trạng của Trưởng giả hôm nay thế nào? Ăn uống được nhiều ít? Sự đau đớn giảm dần không đến nỗi tăng thêm chăng?”
Trưởng giả Cấp Cô Độc trả lời rằng:
“Bệnh tình của con rất nguy kịch, ăn uống chẳng được gì cả. Sự đau đớn chỉ tăng thêm chứ không thấy giảm bớt chút nào”.
Tôn giả Xá-lợi-phất bảo rằng:
“Này Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si, thành tựu bất tín, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả ngày nay không hề có sự bất tín, mà chỉ có sự thượng tín. Do thượng tín ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thượng tín ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm, vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si do ác giới, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có ác giới, mà Trưởng giả chỉ có thiện giới. Do thiện giới ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thiện giới ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si không có đa văn, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có sự không đa văn. Do đa văn ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do đa văn ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có sự xan tham, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có xan tham mà chỉ có huệ thí. Do huệ thí ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do huệ thí ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có ác tuệ, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có ác tuệ mà chỉ có thiện tuệ. Do thiện tuệ ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thiện tuệ ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Này Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà kiến, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà kiến mà chỉ có chánh kiến. Do chánh kiến ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do chánh kiến ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà tư duy, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà chí mà chỉ có chánh chí. Do chánh chí ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do chánh chí ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà giải, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà giải mà chỉ có chánh giải. Do chánh giải ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do chánh giải ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà thoát, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà thoát mà chỉ có chánh thoát. Do chánh thoát ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do chánh thoát ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà trí, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà trí mà chỉ có chánh trí. Do chánh trí ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do chánh trí ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn”.
Bấy giờ bệnh trạng của Trưởng giả Cấp Cô Độc liền được thuyên giảm, bình phục như cũ, rời chỗ nằm ngồi dậy, khen Tôn giả Xá-lợi-phất rằng:
“Lành thay! Lành thay! Ngài thuyết pháp cho bệnh nhân, thật kỳ diệu, thật hy hữu! Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, khi con nghe xong bài pháp giáo hóa cho bệnh nhân ấy liền chấm dứt thống khổ, lại sanh khoái lạc vô cùng. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bây giờ bệnh con đã thuyên giảm hẳn, bình phục như cũ. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, trước kia nhân có chút việc cần làm, con đi đến thành Vương xá, tạm trú trong nhà một Trưởng giả. Lúc ấy vị Trưởng giả kia buổi sáng hôm sau sẽ cúng dường cơm cho Đức Phật và Chúng Tỳ-kheo. Bấy giờ qua đêm ấy, lúc trời gần sáng, vị Trưởng giả kia sai con cháu, nô tỳ, sứ giả và quyến thuộc: ‘Các ngươi hãy dậy sớm, cùng nhau bày biện, trang hoàng. Những người kia đều vâng lời, cùng nhau xếp việc bếp núc, bày biện cỗ bàn với những loại ngon đẹp. Còn Trưởng giả đích thân trải bày một chỗ ngồi cao, trang nghiêm vô lượng.
“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, sau khi thấy vậy, con liền nghĩ thế này: ‘Hôm nay vị Trưởng giả này có việc hôn nhân hay lễ hội rước dâu, hay việc thỉnh Quốc vương hay việc mời Đại thần, mà lại sắm sửa tiệc cơm, mở cuộc đãi đằng lớn như vậy?’
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, suy nghĩ như vậy rồi, con liền hỏi vị Trưởng giả kia rằng:
“—Ông vì việc hôn nhân hay vì lễ hội rước dâu, việc thỉnh Quốc vương hay việc mời Đại thần, mà lại sắm sửa tiệc cơm, mở cuộc đãi đằng lớn như vậy?
“Lúc ấy vị Trưởng giả kia liền trả lời con rằng:
“—Tôi không phải vì việc hôn nhân, việc thỉnh Quốc vương hay việc mời Đại thần, nhưng tôi sắm sửa tiệc cơm, thi thiết cuộc đại thí, vì sáng nay tôi sẽ cúng cơm cho Đức Phật và chúng Tỳ-kheo.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, vì con chưa từng được nghe danh hiệu Đức Phật, nên khi nghe rồi toàn thân lông dựng ngược. Con lại hỏi rằng:
“—Trưởng giả nói Phật, vậy thế nào là Phật?
“Lúc ấy vị Trưởng giả kia trả lời con rằng:
“—Ông chưa được nghe sao? Có vị dòng dõi họ Thích, từ giã dòng họ Thích, cạo bỏ râu tóc, khoác y ca-sa, với lòng tin chí thiết, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, chứng quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Vị ấy được gọi là Phật.
“Con lại hỏi rằng:
“—Trưởng giả vừa nói Chúng. Vậy thế nào là đại chúng?
“Bấy giờ vị Trưởng giả kia trả lời con rằng:
“—Còn có rất nhiều vị, có dòng họ và tông tộc khác nhau, cạo bỏ râu tóc, khoác y ca-sa, với lòng tin chí thiết, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, để theo Phật đạo. Đó gọi là Chúng. Đức Phật và chúng ấy, tôi sắp thỉnh đến.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con lại hỏi vị Trưởng giả ấy rằng:
“—Đức Thế Tôn bây giờ đang ở nơi nào? Tôi muốn đi đến thăm.
“Bấy giờ vị Trưởng giả kia trả lời con rằng:
“—Đức Thế Tôn hiện đang ở thành Vương Xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Ông có muốn đến đó thì tùy ý.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, lúc ấy con nghĩ thế này: ‘Mong cho mau sáng để nhanh chóng đi đến thăm Phật.’ Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bấy giờ với tâm chí thành, con muốn đến thăm Phật, nên lúc đang đêm ấy mà tưởng đã sáng rồi, liền từ nhà vị Trưởng giả kia ra đi, đến trạm dừng nơi cổng thành. Bấy giờ tại trạm dừng nơi cổng thành có hai người lính gác, một người gác đầu hôm thì cho hành khách bên ngoài vào thành, không làm trở ngại gì, một người gác cuối đêm thì cho hành khách ở trong thành đi ra cũng không làm trở ngại gì. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con lại nghĩ thế này: ‘Đêm hãy còn chưa sáng lắm. Vì sao vậy? Vì ở tại cổng thành có hai người lính gác; một người gác đầu hôm thì cho hành khách bên ngoài vào thành, không làm trở ngại gì; một người gác cuối đêm thì cho hành khách ở trong thành đi ra cũng không làm trở ngại gì’. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con vượt qua trạm dừng chân ở cửa thành để đi ra bên ngoài không lâu, ánh sáng biến mất và trời tối hẳn lại. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, toàn thân lông dựng ngược, con liền sợ hãi, mong sao đừng có người nào hay loài phi nhân đến xúc nhiễu con. Bấy giờ, tại trại dừng chân ở cửa thành có một vị trời, từ thành Vương xá đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà, ánh sáng tỏa chiếu khắp nơi, đến bảo con rằng: ‘Này Trưởng giả, chớ sợ. Vì sao vậy? Tôi đời trước đây vốn là bằng hữu của ông, tên thật là Mật-khí, vào lúc còn trẻ tuổi chúng ta rất yêu mến nhau. Này Trưởng giả, thuở xưa ấy, tôi đi đến chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thuyết pháp cho tôi, khai thị, khích lệ, thành tựu hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện để thuyết pháp, khai thị, khích lệ, thành tựu hoan hỷ cho tôi rồi, ngài ban cho tôi pháp ba tự quy, và trao cho năm giới. Này Trưởng giả, tôi do ba tự quy y và thọ trì năm giới, nên khi thân hoại mạng chung sanh lên trời Tứ Vương thiên, sống ở trong trạm dừng tại cổng thành này. Trưởng giả hãy đi mau lên, Trưởng giả hãy đi vội lên, quả thật đi tốt hơn là đứng lại.
“Vị trời ấy nói lên bài kệ để khuyên con như sau:
Được trăm ngựa, nữ tỳ,
Trăm xe đầy châu báu;
Không bằng phần mười sáu
Một bước đi đến Phật.
Trăm voi trắng tối thượng,
Thắng Lâm yên cương vàng bạc;
Không bằng phần mười sáu
Một bước đi đến Phật.
Trăm nữ nhân đẹp đẽ,
Đeo chuỗi ngọc tràng hoa;
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi đến Phật.
Chuyển luân vương kính trọng
Báu ngọc nữ bậc nhất;
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi đến Phật.
“Vị trời nói tụng xong, rồi khuyên con rằng:
“—Này Trưởng giả, đi nhanh lên! Này Trưởng giả, đi nhanh lên! Quả thật đi tốt hơn đứng lại.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con lại nghĩ thế này: ‘Đức Phật có ân đức che chở bao trùm. Pháp và Chúng Tỳ-kheo cũng có ân đức bao trùm. Vì sao vậy? Cho đến bậc trời cũng muốn ta đến yết kiến’.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con do ánh sáng ấy mà đi đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ đêm còn chưa sáng tỏ, Đức Thế Tôn từ thiền thất đi ra, kinh hành ở khoảng đất trống để chờ con. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, từ xa con trông thấy Đức Thế Tôn đẹp đẽ trang nghiêm như mặt trăng giữa các vì tinh tú, ánh sáng chói lọi rực rỡ, sáng rực như tòa núi toàn vàng, đầy đủ tướng tốt, oai thần vời vợi, các căn tịch tĩnh, chẳng có gì che khuất, thành tựu điều ngự, tức tâm tĩnh mặc. Con thấy rồi, liền hoan hỷ đi đến trước Đức Phật, đảnh lễ sát dưới chân, rồi kinh hành theo Ngài, theo pháp của bậc Trưởng giả mà nói bài tụng thăm hỏi rằng:
Thế Tôn ngủ an ổn,
Đến trọn đêm khỏe chăng?
Bà-la-môn diệt độ,
Vì không nhiễm trước dục.
Xả ly tất cả nguyện,
Được an ổn vô cùng.
Tâm trừ không nóng bức
Ngủ an lạc vui vẻ.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn vừa đi đến cuối đường kinh hành, liền trải ni-sư-đàn, ngồi kiết già. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất. Lúc ấy, con đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho con, khai thị, giáo giới, làm cho lợi ích, khiến cho hoan hỷ, như pháp thông lệ của chư Phật, trước nói pháp đoan chánh, để người nghe hoan hỷ. Đó là nói thí, nói giới, nói pháp sanh thiên, chê dục vọng là tai họa, sanh tử là nhơ uế; ngợi khen vô dục là đạo phẩm vi diệu, bạch tịnh. Đức Thế Tôn nói những pháp như vậy cho con nghe rồi, Đức Phật biết con có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc, tâm nhu nhuyến, tâm kham nhẫn, tâm vươn lên, tâm chuyên nhất, tâm không nghi, tâm không che lấp, có khả năng kham thọ chánh pháp, nghĩa là những điều chánh yếu nào mà chư Phật nói ra; Thế Tôn liền nói: Khổ, Tập, Diệt, Đạo cho con. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, ngay khi con ngồi đấy đã thấy được bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng như tấm vải trắng dễ nhuộm thành màu sắc, con cũng như vậy, ngay trên chỗ đang ngồi đã thấy bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con đã thấy pháp, đắc pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn nghi, độ hoặc, không còn tôn sùng ai, cũng chẳng theo người khác, không còn do dự, đã trụ nơi quả chứng, được sự không sợ hãi đối với giáo pháp Đức Thế Tôn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Đức Thế Tôn bạch rằng:
“—Bạch Thế Tôn, con hôm nay tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Xin nguyện Thế Tôn chấp nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; bắt đầu từ hôm nay sẽ trọn đời tự quy y, cho đến lúc mạng chung.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con liền chắp tay thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, ngưỡng mong Thế Tôn nhận lời mời của con cùng Chúng Tỳ-kheo đến nước Xá-vệ để an cư mùa mưa.
“Lúc ấy Đức Thế Tôn hỏi con rằng:
“—Ông tên là gì, nhân dân nước Xá-vệ gọi ông là gì?
“Con liền trả lời rằng:
“—Con tên là Tu-đạt-đa. Vì con thường cung cấp cho những người cô độc, do đó nhân dân nước Xá-vệ gọi con là Cấp Cô Độc.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn lại hỏi con rằng:
“—Tại nước Xá-vệ, ông đã có phòng xá gì chưa?
“Con trả lời rằng:
“—Tại nước Xá-vệ con chưa có phòng xá gì cả.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo con rằng:
“—Nếu có phòng xá thì các Tỳ-kheo mới có thể vãng lai, mới có thể trú ngụ được.
“Con lại thưa rằng:
“—Thật vậy, bạch Thế Tôn. Vì thế con sẽ xây cất phòng xá để các thầy Tỳ-kheo có thể vãng lai, và có thể trú ngụ nước Xá-vệ. Mong Đức Thế Tôn cho một vị đến giúp con.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn liền sai Tôn giả Xá-lợi-phất; khiến Tôn giả Xá-lợi-phất đến giúp đỡ.
“Bấy giờ sau khi nghe Đức Phật dạy xong, con khéo léo ghi nhớ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Phật, đi quanh ba vòng rồi ra về.
“Khi công việc cần làm tại thành Vương xá đã hoàn tất, con cùng Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến nước Xá-vệ. Nhưng không vào nước Xá-vệ, cũng chẳng trở về nhà mà lập tức đi dạo khắp nơi bên ngoài thành để xem chỗ nào có thể đi lại tốt nhất, ban ngày không ồn ào, ban đêm thì tịch tĩnh, không có muỗi mòng, cũng không ruồi bọ, không lạnh, không nóng, có thể xây phòng xá để cúng dường Đức Phật và đại chúng.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bấy giờ con chỉ thấy vườn của Thắng Lâm Đồng tử là đi lại tốt nhất, ban ngày không ồn ào, ban đêm thì tịch tĩnh, không có muỗi mòng, cũng không ruồi bọ, không lạnh, không nóng. Con thấy rồi liền suy nghĩ thế này: ‘Chỉ có chỗ này là tốt nhất để xây cất phòng xá để cúng dường Phật và đại chúng’. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, lúc ấy con vào nước Xá-vệ, nhưng cũng chưa về nhà, liền đi đến chỗ Thắng Lâm Đồng tử thưa rằng:
“—Thưa Đồng tử, ngài có thể bán khu vườn kia lại cho tôi không?
“Bấy giờ Đồng tử bảo con rằng:
“—Trưởng giả nên biết, tôi không bán khu vườn đâu.
“Cứ như vậy lần hai rồi lần ba, con thưa rằng:
“—Thưa Đồng tử, ngài có thể bán khu vườn kia lại cho tôi không?
“Bấy giờ Đồng tử cũng lại lần thứ hai, lần thứ ba bảo rằng:
“—Tôi không bán khu vườn đâu. Chỉ khi nào ức ức trải đầy.
“Con liền thưa rằng:
“—Này Đồng tử, ngài đã quyết định giá cả, chỉ còn việc trao tiền nữa thôi.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, người thì nói đã quyết định giá cả, người thì nói chưa quyết định giá cả, cùng nhau tranh tụng lớn. Rồi dắt nhau đến pháp đình nước Xá-vệ để phán quyết về việc này. Bấy giờ vị pháp quan nước Xá-vệ bảo Thắng Lâm Đồng tử rằng:
“—Này Đồng tử, thế là ngươi đã quyết định giá cả rồi, chỉ còn việc nhận tiền nữa thôi.
“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con liền vào nước Xá-vệ, trở về nhà lấy tiền, dùng voi ngựa và xe cộ để chuyên chở các kho lẫm đem đến, đã xuất ra tới ức ức để trải khắp mặt đất, nhưng còn vài chỗ chưa khắp đến. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con nghĩ như vầy: Nên xuất ở kho nào nữa để đem đến trải khắp chỗ dư này, không thừa cũng không thiếu? Bấy giờ Thắng Lâm Đồng tử liền bảo con rằng:
“—Này Trưởng giả, nếu có ăn năn về số tiền này thì hãy tự mang trở về, khu vườn trả lại cho tôi.
“Con bảo với Đồng tử rằng:
“—Quả thật tôi không có ăn năn; mà tôi còn suy nghĩ xem nên lấy ở kho nào nữa để mang trải khắp chỗ dư này không thừa cũng không thiếu.
“Bấy giờ Thắng Lâm Đồng tử liền suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn hẳn là một bậc cao cả, có đức hựu lớn. Pháp và Đại chúng Tỳ-kheo hẳn cũng là rất cao cả, có đức hựu lớn. Vì sao thế? Vì có vậy mới làm cho Trưởng giả thi thiết sự cúng dường vĩ đại, coi rẻ của cải đến thế. Nay ta có lẽ xây cất nhà cổng ngay nơi này để cúng dường Đức Phật và Đại chúng Tỳ-kheo’. Rồi Thắng Lâm Đồng tử liền bảo vói con rằng:
“—Này Trưởng giả, hãy thôi đi, đừng xuất tiền để trả khoảng đất còn lại nữa. Vì ngay chỗ này tôi sẽ cất cất nhà cổng cúng dường Đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, vì lòng từ mẫn nên con đồng ý để lại chỗ ấy cho Thắng Lâm Đồng tử.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, rồi ngay trong mùa hạ ấy, con cho xây mười sáu dãy nhà lớn, sáu mươi câu-hi. Tôn giả Xá-lợi-phất giúp đỡ con việc ấy. Thế nhưng Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp để giáo hóa người bệnh, còn rất kỳ diệu, hy hữu hơn. Con nghe bài pháp giáo hóa người bệnh này rồi, bệnh khổ quá nặng nề ấy liền được giảm bớt, lại phát sanh ra sự an lạc vô cùng.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bây giờ con không còn bệnh nữa, và được an ổn. Mong Tôn giả Xá-lợi-phất ở lại đây thọ trai”.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng nhận lời. Lúc ấy Trưởng giả biết Tôn giả Xá-lợi-phất đã im lặng nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự mình lấy nước rửa, đem tất cả các thứ đồ ăn ngon, tinh khiết, dồi dào, các loại nhai và nuốt, tự tay dọn sớt, cho đến khi Tôn giả được no đủ. Ăn xong, dọn dẹp và lấy nước rửa tay xong, ông trải một chỗ ngồi nhỏ, ngồi riêng để nghe pháp.
Sau khi Trưởng giả ngồi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp cho ông khai thị, giáo giới, làm cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho Trưởng giả, khai thị, giáo giới, làm cho hoan hỷ rồi, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Bấy giờ Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô lượng đại chúng vây quanh trước sau. Từ đàng xa Đức Thế Tôn thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đi lại, liền bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là bậc thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tài tuệ, Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã thành tựu thật tuệ. Vì sao vậy? Vì về bốn hạng Tu-đà-hoàn mà Ta đã nói sơ lược, thì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất triển khai thành mười hạng để nói cho Trưởng giả Cấp Cô Độc.
Đức Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật nói xong hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
T 0458c01
我聞如是:
一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤
T 0458c02
獨園。
爾時,長者給孤獨疾病危篤,於是,長
T 0458c03
者給孤獨告一使人:「汝往詣佛,為我稽首
T 0458c04
禮世尊足,問訊世尊,聖體康強,安快無病,
T 0458c05
起居輕便,氣力如常耶?作如是語:『長者給
T 0458c06
孤獨稽首佛足,問訊世尊:「聖體康強,安快
T 0458c07
無病,起居輕便,氣力如常耶?」』汝既為我問
T 0458c08
訊佛已,往詣尊者舍梨子所,為我稽首
T 0458c09
禮彼足已,問訊尊者,聖體康強,安快無病,
T 0458c10
起居輕便,氣力如常不?作如是語:『長者給
T 0458c11
孤獨稽首尊者舍梨子足,問訊尊者:「聖體康
T 0458c12
強,安快無病,起居輕便,氣力如常不?」尊者
T 0458c13
舍梨子!長者給孤獨疾病極困,今至危篤,長
T 0458c14
者給孤獨至心欲見尊者舍梨子,然體至羸
T 0458c15
乏,無力可來詣尊者舍梨子所。善哉!尊者
T 0458c16
舍梨子!為慈愍故,願往至長者給孤獨家。』」
T 0458c17
於是,使人受長者給孤獨教已,往詣佛所,
T 0458c18
稽首禮足,却住一面,白曰:「世尊!長者給孤獨
T 0458c19
稽首佛足,問訊世尊:『聖體康強,安快無病,
T 0458c20
起居輕便,氣力如常耶?』」
爾時,世尊告使人
T 0458c21
曰:「令長者給孤獨安隱快樂,令天及人、阿
T 0458c22
修羅、揵塔惒、羅剎及餘種種身安隱快樂。」
於
T 0458c23
是,使人聞佛所說,善受善持,稽首佛足,繞
T 0458c24
三匝而去,往詣尊者舍梨子所,稽首禮足,却
T 0458c25
坐一面,白曰:「尊者舍梨子!長者給孤獨稽
T 0458c26
首尊者舍梨子足,問訊尊者:『聖體康強,安快
T 0458c27
無病,起居輕便,氣力如常不?』尊者舍梨子!
T 0458c28
長者給孤獨疾病極困,今至危篤,長者給孤
T 0458c29
獨至心欲見尊者舍梨子,然體至羸乏,無
T 0458c30
力可來詣尊者舍梨子所。善哉!尊者舍梨子!
T 0459a01
為慈愍故,往詣長者給孤獨家。」
尊者舍梨子
T 0459a02
即為彼故,默然而受。於是,使人知尊者舍梨
T 0459a03
子默然受已,即從坐起,稽首作禮,繞三匝
T 0459a04
而去。
尊者舍梨子過夜平旦,著衣持鉢,往
T 0459a05
詣長者給孤獨家。長者給孤獨遙見尊者舍
T 0459a06
梨子來,見已,便欲從床而起。
尊者舍梨子
T 0459a07
見彼長者欲從床起,便止彼曰:「長者莫
T 0459a08
起!長者莫起!更有餘床,我自別坐。」
尊者舍
T 0459a09
梨子即坐其床,坐已,問曰:「長者所患今復何
T 0459a10
似,飲食多少,疾苦轉損,不至增耶?」
長者答
T 0459a11
曰:「所患至困,飲食不進,疾苦但增而不覺
T 0459a12
損。」
尊者舍梨子告曰:「長者莫怖!長者莫怖!
T 0459a13
所以者何?若愚癡凡夫成就不信,身壞命終,
T 0459a14
趣至惡處,生地獄中。長者今日無有不
T 0459a15
信,唯有上信,長者因上信故,或滅苦痛,
T 0459a16
生極快樂,因上信故,或得斯陀含果,或阿
T 0459a17
那含果,長者本已得須陀洹。
「長者莫怖!長
T 0459a18
者莫怖!所以者何?若愚癡凡夫因惡戒故,
T 0459a19
身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無
T 0459a20
有惡戒,唯有善戒,長者因善戒故,或滅苦
T 0459a21
痛,生極快樂,因善戒故,或得斯陀含果,或
T 0459a22
阿那含果,長者本已得須陀洹。
「長者莫怖!
T 0459a23
長者莫怖!所以者何?若愚癡凡夫因不多
T 0459a24
聞,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無
T 0459a25
不多聞,唯有多聞,長者因多聞故,或滅苦
T 0459a26
痛,生極快樂,因多聞故,或得斯陀含果,或
T 0459a27
阿那含果,長者本已得須陀洹。
「長者莫怖!
T 0459a28
長者莫怖!所以者何?若愚癡凡夫因慳貪
T 0459a29
故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者
T 0459b01
無有慳貪,唯有惠施,長者因惠施故,或
T 0459b02
滅苦痛,生極快樂,因惠施故,或得斯陀含
T 0459b03
果,或阿那含果,長者本已得須陀洹。
「長者
T 0459b04
莫怖!長者莫怖!所以者何?若愚癡凡夫因
T 0459b05
惡慧故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。
T 0459b06
長者無有惡慧,唯有善慧,長者因善慧故,
T 0459b07
或滅苦痛,生極快樂,因善慧故,或得斯陀
T 0459b08
含果,或阿那含果,長者本已得須陀洹。
「長
T 0459b09
者莫怖!長者莫怖!所以者何?若愚癡凡
T 0459b10
夫因邪見故,身壞命終,趣至惡處,生地獄
T 0459b11
中。長者無有邪見,唯有正見,長者因正
T 0459b12
見故,或滅苦痛,生極快樂,因正見故,或得
T 0459b13
斯陀含果,或阿那含果,長者本已得須陀洹。
T 0459b14
「長者莫怖!長者莫怖!所以者何?若愚癡
T 0459b15
凡夫因邪志故,身壞命終,趣至惡處,生地
T 0459b16
獄中。長者無有邪志,唯有正志,長者因
T 0459b17
正志故,或滅苦痛,生極快樂,因正志故,
T 0459b18
或得斯陀含果,或阿那含果,長者本已得須
T 0459b19
陀洹。
「長者莫怖!長者莫怖!所以者何?若愚
T 0459b20
癡凡夫因邪解故,身壞命終,趣至惡處,生
T 0459b21
地獄中。長者無有邪解,唯有正解,長者
T 0459b22
因正解故,或滅苦痛,生極快樂,因正解故,
T 0459b23
或得斯陀含果,或阿那含果,長者本已得須
T 0459b24
陀洹。
「長者莫怖!長者莫怖!所以者何?若
T 0459b25
愚癡凡夫因邪脫故,身壞命終,趣至惡處,
T 0459b26
生地獄中。長者無有邪脫,唯有正脫,長
T 0459b27
者因正脫故,或滅苦痛,生極快樂,因正脫
T 0459b28
故,或得斯陀含果,或阿那含果,長者本已得
T 0459b29
須陀洹。
「長者莫怖!長者莫怖!所以者何?
T 0459c01
若愚癡凡夫因邪智故,身壞命終,趣至惡處,
T 0459c02
生地獄中。長者無有邪智,唯有正智,長者
T 0459c03
因正智故,或滅苦痛,生極快樂,因正智故,
T 0459c04
或得斯陀含果,或阿那含果,長者本已得須
T 0459c05
陀洹。」
於是,長者病即得差,平復如故,從臥
T 0459c06
起坐,歎尊者舍梨子曰:「善哉!善哉!為病說
T 0459c07
法。甚奇!甚特!尊者舍梨子!我聞教化病法,苦
T 0459c08
痛即滅,生極快樂。尊者舍梨子!我今病差,平
T 0459c09
復如故。尊者舍梨子!我往昔時,少有所為,
T 0459c10
至王舍城寄宿一長者家。時,彼長者明當
T 0459c11
飯佛及比丘眾。時,彼長者過夜向曉,教勅
T 0459c12
兒孫、奴使、眷屬:『汝等早起,當共嚴辦。』彼各受
T 0459c13
教,共設廚宰,供辦餚饌、種種腆美,長者躬自
T 0459c14
敷置高座,無量嚴飾。
「尊者舍梨子!我既見已,
T 0459c15
便作是念:『今此長者為婚姻事,為迎婦節
T 0459c16
會,為請國王,為呼大臣,為作齋會施設
T 0459c17
大施耶?』尊者舍梨子!我既念已,便問長者:『汝
T 0459c18
為婚姻事,為迎婦節會,為請國王,為呼
T 0459c19
大臣,為作齋會施設大施耶?』時,彼長者而
T 0459c20
答我曰:『吾無婚姻事,亦不迎婦,不為節會,
T 0459c21
不請國王及呼大臣,但為齋會施設大
T 0459c22
施,明當飯佛及比丘眾。』
「尊者舍梨子!我未
T 0459c23
曾聞佛名,聞已舉身毛竪,即復問曰:『長者說
T 0459c24
佛,何名為佛?』時,彼長者而答我曰:『君不聞
T 0459c25
乎?有釋種子捨釋宗族,剃除鬚髮,著袈
裟
T 0459c26
衣,至信、捨家、無家、學道,得無上等正覺,是名
T 0459c27
為佛。』我復問曰:『長者說眾,何名為眾?』時,彼
T 0459c28
長者復答我曰:『有若干姓異名
異
族,剃除鬚
T 0459c29
髮,著袈
裟
衣,至信、捨家、無家,從佛學道,是
T 0460a01
名為眾,此佛及眾,吾之所請。』尊者舍梨子!
T 0460a02
我即復問彼長者曰:『世尊於今為在何處?
T 0460a03
我欲往見。』時,彼長者復答我曰:『世尊今在
T 0460a04
此王舍城竹林加蘭哆園,欲往隨意。』
「尊者
T 0460a05
舍梨子!我作是念:『若速曉者,疾往見佛。』尊者
T 0460a06
舍梨子!我時至心欲往見佛,即於其夜生
T 0460a07
晝明想,便從長者家出,往至城息門。是
T 0460a08
時,城息門中有二直士,一直初夜,外客使入,
T 0460a09
不令有礙,一直後夜,若客使出,亦不作礙。
T 0460a10
尊者舍梨子!我復作是念:『夜尚未曉。』所以
T 0460a11
者何?城息門中有二直士,一直初夜,外客使
T 0460a12
入,不令有礙,一直後夜,若客使出,亦不作
T 0460a13
礙。尊者舍梨子!出城息門,出外不久,明滅
T 0460a14
還暗。尊者舍梨子!我便恐怖,舉身毛竪,莫
T 0460a15
令人、非人來觸嬈我。
「時,城息門而有一天,
T 0460a16
從王舍城至竹林加蘭哆園,光明普照,來
T 0460a17
語我言:『長者莫怖!長者莫怖!所以者何?
T 0460a18
我本前世是汝朋友,名密器,年少極相愛
T 0460a19
念。長者!我本昔時往詣尊者大目乾連所,
T 0460a20
稽首禮足,却坐一面,尊者大目乾連為我
T 0460a21
說法,勸發渴仰,成就歡喜,無量方便為我
T 0460a22
說法,勸發渴仰,成就歡喜已,賜三自歸,見
T 0460a23
授五戒。長者!我因三歸,受持五戒,身壞命
T 0460a24
終,生四天王天,住此城息門中。長者速去,
T 0460a25
長者速去,去實勝住。』彼天勸我而說頌曰:
T 0460a26
「『得馬百臣女, 車百滿珍寶,
T 0460a27
往詣佛一步, 不當十六分。
T 0460a28
白象百最上, 金銀鞍勒被,
T 0460a29
往詣佛一步, 不當十六分。
T 0460b01
女百色端正, 瓔珞花嚴身,
T 0460b02
往詣佛一步, 不當十六分。
T 0460b03
轉輪王所敬, 玉女寶第一,
T 0460b04
往詣佛一步, 不當十六分。』
T 0460b05
「天說頌已,而復勸曰:『長者速去!長者速去!去
T 0460b06
實勝住。』尊者舍梨子!我復作是念:『佛尊祐
T 0460b07
德,法及比丘眾亦尊祐德。所以者何?乃至於
T 0460b08
天,亦欲使見。』
「尊者舍梨子!我因此光明往
T 0460b09
至竹林加蘭哆園。爾時,世尊夜其向旦,從禪
T 0460b10
室出,露地經行而待於我。尊者舍梨子!我遙
T 0460b11
見佛端正姝好,猶星中月,光耀暐曄,晃若
T 0460b12
金山,相好具足,威神巍巍,諸根寂定,無有蔽
T 0460b13
礙,成就調御,息心靜默。見已歡喜,前詣佛所,
T 0460b14
接足作禮,隨佛經行,以長者法說頌問訊:
T 0460b15
「『世尊寐安隱, 至竟眠快耶?
T 0460b16
如梵志滅度, 以不染於欲。
T 0460b17
捨離一切願, 逮得至安隱,
T 0460b18
心除無煩熱, 自樂歡喜眠。』
T 0460b19
「於是,世尊即便往至經行道頭,敷尼師檀,
T 0460b20
結加趺坐。尊者舍梨子!我禮佛足,却坐一
T 0460b21
面,世尊為我說法,勸發渴仰,成就歡喜,無
T 0460b22
量方便為我說法,勸發渴仰,成就歡喜已。
T 0460b23
如諸佛法,先說端正法,聞者歡悅,謂,說施、
T 0460b24
說戒、說生天法,毀呰欲為災患,生死為
T 0460b25
穢,稱歎無欲為妙道品白淨。世尊為我說
T 0460b26
如是法已,佛知我有歡喜心、具足心、柔軟
T 0460b27
心、堪耐心、昇上心、一向心、無疑心、無蓋心,有
T 0460b28
能有力,堪受正法,謂如諸佛所說正要,世
T 0460b29
尊即為我說苦、習、滅、道。尊者舍梨子!我即
T 0460c01
於坐中見四聖諦苦、習、滅、道,猶如白素易
T 0460c02
染為色,我亦如是,即於坐中見四聖諦苦、
T 0460c03
習、滅、道。
「尊者舍梨子!我已見法得法,覺白
T 0460c04
淨法,斷疑度惑,更無餘尊,不復從他,無
T 0460c05
有猶豫,已住果證,於世尊法得無所畏,即
T 0460c06
從坐起,為佛作禮:『世尊!我今自歸於佛、法
T 0460c07
及比丘眾,唯願世尊受我為優婆塞,從今
T 0460c08
日始,終身自歸,乃至命盡。』尊者舍梨子!我即
T 0460c09
叉手白曰:『世尊!願受我請,於舍衛國而受
T 0460c10
夏坐及比丘眾。』時,佛問我:『汝名何等?舍衛
T 0460c11
國人呼汝云何?』我即答曰:『我名須達哆,以
T 0460c12
我供給諸孤獨者,是故舍衛國人呼我為給
T 0460c13
孤獨。』爾時,世尊復問我曰:『舍衛國中有房
T 0460c14
舍未?』我復答曰:『舍衛國中無有房舍。』爾時,
T 0460c15
世尊而告我曰:『長者當知!若有房舍,比丘
T 0460c16
可得往來,可得住止。』我復白曰:『唯然。世尊!
T 0460c17
我當如是為起房舍,比丘可得往來,於舍
T 0460c18
衛國可得住止,唯願世尊差一佐助。』爾
T 0460c19
時,世尊即差尊者舍梨子,遣尊者舍梨子
T 0460c20
令見佐助。
「我於爾時聞佛所說,善受善持,
T 0460c21
即從坐起,為佛作禮,繞三匝而去。於王舍
T 0460c22
城所作已訖,與尊者舍梨子俱往至舍衛
T 0460c23
國,不入舍衛城亦不歸家,便於城外周
T 0460c24
遍行地,為於何處往來極好,晝不喧閙,夜
T 0460c25
則寂靜,無有蚊虻,亦無蠅蚤,不寒不熱,
T 0460c26
可立房舍施佛及眾。尊者舍梨子!我時唯
T 0460c27
見童子勝園往來極好,晝不喧閙,夜則寂
T 0460c28
靜,無有蚊虻,亦無蠅蚤,不寒不熱。我見
T 0460c29
此已,便作是念:『唯此處好,可立房舍施佛
T 0461a01
及眾。』
「尊者舍梨子!我於爾時入舍衛國,竟
T 0461a02
不還家,便先往詣童子勝所,白曰:『童子!可
T 0461a03
賣此園持與我耶?』爾時,童子便語我曰:『長
T 0461a04
者當知,吾不賣園。』如是,再三白曰:『童子!可
T 0461a05
賣此園持與我耶?』爾時,童子亦復再三而
T 0461a06
語我曰:『吾不賣園,至億億布滿。』我即白曰:
T 0461a07
『童子今已決斷價數,但當取錢。』尊者舍梨
T 0461a08
子!我與童子或言斷價,或言不斷,大共
T 0461a09
訜訟,即便俱往至舍衛國大決斷處判論此
T 0461a10
事。時,舍衛國大決斷人語童子勝曰:『童子
T 0461a11
已自決斷價數,但當取錢。』
「尊者舍梨子!我
T 0461a12
即入舍衛國,還家取錢,以象馬車舉負輦
T 0461a13
載,出億億布地,少處未遍。尊者舍梨子!我
T 0461a14
作是念:『當取何藏,不大不小,可此餘處持
T 0461a15
來布滿?』時,童子勝便語我曰:『長者若悔,錢
T 0461a16
自相歸,園地還吾。』我語童子:『實不悔也。』但
T 0461a17
自思念:『當取何藏,不大不小,可此餘處持
T 0461a18
來滿耳?』時,童子勝便作是念:『佛必大尊,有
T 0461a19
大德祐,法及比丘眾亦必大尊,有大德祐。所
T 0461a20
以者何?乃令長者施設大施,輕財乃爾。吾
T 0461a21
今寧可即於此處造立門屋施佛及眾。』時,
T 0461a22
童子勝便語我曰:『長者且止!莫復出錢布
T 0461a23
此處也,吾於此處造立門屋施佛及眾。』尊
T 0461a24
者舍梨子!我為慈愍故,即以此處與童子
T 0461a25
勝。
「尊者舍梨子!我即於此夏起十六大屋、
T 0461a26
六十拘絺。尊者舍梨子時見佐助,然尊者舍
T 0461a27
梨子說教化病法,甚奇!甚特!我聞此教化病
T 0461a28
法已,極重疾苦即得除愈,生極快樂。尊者
T 0461a29
舍梨子!我今無病,極得安隱,願尊者舍梨
T 0461b01
子於此飯食。」時,尊者舍梨子默然受請。
於
T 0461b02
是長者知尊者舍梨子默然受已,即從坐
T 0461b03
起,自行澡水,以極美淨妙種種豐饒食噉含
T 0461b04
消,手自斟酌,令得充滿,食訖,舉器行澡水
T 0461b05
竟,敷一小床,別坐聽法。長者坐已,尊者舍
T 0461b06
梨子為彼說法,勸發渴仰,成就歡喜,無量
T 0461b07
方便為彼說法,勸發渴仰,成就歡喜已,從
T 0461b08
坐起去。
是時,世尊無量大眾前後圍繞而為
T 0461b09
說法,世尊遙見尊者舍梨子來,告諸比丘:
T 0461b10
「舍梨子比丘聰慧、速慧、捷慧、利慧、廣慧、深慧、出
T 0461b11
要慧、明達慧、辯才慧,舍梨子比丘成就實慧。
T 0461b12
所以者何?我所略說四種須陀洹,舍梨子比
T 0461b13
丘為長者給孤獨十種廣說來。」
佛說如是。
T 0461b14
彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0461b15
教化病經第八竟
(三千八百九十八字)
T 0461b16
中阿含經卷第六
(八千九百六十九字)
(初一日誦)