Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

62. Kinh tần-tì-sa-la vương nghinh phật (MA62)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật trú tại nước Ma-kiệt-đà, cùng với đại chúng Tỳ-kheo gồm một nghìn vị, đều là những Bậc Vô Trước Chí Chơn, trước vốn là những đạo sĩ bện tóc. Ngài đi đến ấp Ma-kiệt-đà ở thành Vương xá.

Bấy giờ Vua xứ Ma-kiệt-đà là Tần-tì-sa-la nghe Đức Thế Tôn trú tại nước Ma-kiệt-đà cùng với chúng đại Tỳ-kheo, gồm một nghìn vị, đều là những bậc Vô Trước Chí Chơn, trước vốn là những đạo sĩ bện tóc, đến ấp Ma-kiệt-đà ở thành Vương xá này. Sau khi nghe vậy, Vua Tần-tì-sa-la nước Ma-kiệt-đà liền cho sắp đặt bốn loại quân, là quân voi, quân ngựa, quân xe, và bộ quân. Chuẩn bị bốn loại quân xong, Vua với đông đủ vô số thuộc hạ, kéo dài trên một do-tuần, cùng đi đến chỗ Phật.

Bấy giờ từ xa, Đức Phật thấy Vua Tần-tì-sa-la nước Ma-kiệt-đà đi đến, bèn theo đường tắt đến dưới gốc cây chúa Thiện trụ ni-câu-loại, trải ni-sư-đàn ngồi kiết già cùng với chúng Tỳ-kheo.

Từ xa, Vua Tần-tì-sa-la nước Ma-kiệt-đà thấy Thế Tôn ở giữa cây rừng, trang nghiêm đẹp đẽ như vầng trăng ở giữa vòm sao, chói lọi, sáng ngời như núi vàng, tướng tốt vẹn toàn, oai thần lồng lộng, các căn vắng lặng, không bị ngăn che, thành tựu tự chế ngự, tâm tư yên tĩnh. Sau khi thấy Phật, Vua cùng tùy tùng xuống xe.

Nếu các vua Sát-lị được rưới nước lên đỉnh đầu để làm bậc Nhân chủ, chỉnh trị cõi đất, có năm loại nghi trượng, một là kiếm, hai là lọng, ba là mũ thiên quan, bốn là phất trần cán ngọc, năm là giầy thêu. Nhưng đến đây Vua cởi bỏ tất cả, cùng với bốn loại quân. Vua đi bộ đến trước Phật, đảnh lễ rồi tự xưng danh tánh ba lần rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn, tôi là Tẩy-ni Tần-tì-sa-la, Vua nước Ma-kiệt-đà.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo:

“Này Đại vương, đúng vậy, đúng vậy. Đại vương là Tẩy-ni Tần-tì-sa-la, Vua nước Ma-kiệt-đà.”

Sau khi Vua Tẩy-ni Tần-tì-sa-la nước Ma-kiệt-đà ba lần tự xưng danh tánh rồi, đảnh lễ Phật và ngồi qua một bên. Có người chào hỏi Phật rồi ngồi qua một bên. Có người chắp tay hướng về Phật rồi ngồi qua một bên. Có người ở xa thấy Phật rồi lặng lẽ ngồi xuống.

Bấy giờ Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp cùng ngồi trong chúng. Tôn giả là vị mà những người nước Ma-kiệt-đà đều chú ý đến và cho rằng, đó là bậc Đại tôn sư, bậc Chân nhân Vô trước. Bấy giờ những người xứ Ma-kiệt-đà đều nghĩ rằng: “Sa-môn Cù-đàm theo Uất-tỳ-la Ca-diếp học phạm hạnh chăng? Hay là Uất-tỳ-la Ca-diếp theo Sa-môn Cù-đàm học phạm hạnh?”

Bấy giờ Đức Thế Tôn biết ý nghĩ trong tâm người xứ Ma-kiệt-đà, liền hướng về Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp mà nói bài tụng:

“Ca-diếp, thấy những gì,

Bỏ lửa mà đến đây?

Ca-diếp, nói Ta biết,

Lý do không thờ lửa?”

“Ăn uống, các vị ngọt:

Vì dục nên thờ lửa;

Trong sanh, thấy như vậy,

Cho nên không ưa thờ.”

“Ý Ca-diếp không ưa,

Ăn uống, các vị mhọt.

Sao không ưa Trời, Người?

Ca-diếp, nói Ta rõ.”

“Thấy tịch tĩnh, diệt tận,

Vô vi, không dục hữu;

Không thấy Trời cao quý,

Cho nên không thờ lửa.

Thế Tôn là tối Thắng Lâm;

Thế Tôn không tà tư;

Thấy các pháp rõ ràng,

Con nhận pháp tối Thắng Lâm.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo:

“Này Ca-diếp, ông hãy hiển hiện như ý túc cho chúng hội này được vui lòng và tin tưởng.”

Lúc đó Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp, bằng như ý túc như thế, biến mất khỏi chỗ đang ngồi, từ phương Đông xuất hiện, bay lên hư không, hiện bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Tôn giả lại nhập hỏa định. Sau khi Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp nhập hỏa định, trong thân liền phát ra vô số tia lửa đủ màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, màu hòa hợp, màu thủy tinh. Phần thân dưới phóng ra lửa thì phần thân trên phóng ra nước; phần thân trên phóng ra lửa thì phần thân dưới phun ra nước. Cũng vậy, từ các phương Nam, Tây, Bắc bay lên hư không, hiện ra bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Tôn giả lại nhập hỏa định. Sau khi Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp nhập hỏa định, trong thân liền phát ra vô số tia lửa đủ màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, màu hòa hợp, màu thủy tinh. Phần thân dưới phóng ra lửa thì phần thân trên phóng ra nước; phần thân trên phóng ra lửa thì phần thân dưới phun ra nước. Sau khi hiển hiện như ý túc, Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp đảnh lễ dưới chân Phật và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Phật là Thầy của con. Con là đệ tử của Phật. Phật thành tựu Nhất thiết trí. Con không có Nhất thiết trí.”

Đức Thế Tôn bảo:

“Thật vậy, Ca-diếp, thật vậy, Ca-diếp! Ta có Nhất thiết trí. Ông không có Nhất thiết trí.”

Bấy giờ Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp vì chính mình mà nói bài tụng:

Ngày xưa, không biết gì,

Thờ lửa: cầu giải thoát,

Tuy già vẫn mù tối,

Tà, không thấy chân tế.

Nay con thấy Thượng Tích,

Rồng Vô Thượng đã dạy:

Vô vi, thoát hết khổ,

Thấy rồi, sanh tử dứt.

Những người xứ Ma-kiệt-đà, sau khi thấy như vậy, liền nghĩ: “Không phải Sa-môn Cù-đàm theo Uất-tỳ-la Ca-diếp học phạm hạnh mà chính Uất-tỳ-la Ca-diếp theo Sa-môn Cù-đàm để học phạm hạnh.” Đức Thế Tôn biết ý nghĩ trong tâm của người xứ Ma-kiệt-đà, liền thuyết pháp cho Tẩy-ni Tần-tì-sa-la, Vua nước Ma-kiệt-đà nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi ngài đã dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho vua nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Ngài theo đúng pháp của chư Phật, trước tiên nói pháp thuận tự, khiến người nghe vui mừng, ấy là thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về pháp sanh thiên, chỉ trích dục là tai họa, sanh tử là cấu uế, khen ngợi vô dục là diệu đạo phẩm, bạch tịnh.

Sau khi Đức Thế Tôn đã nói cho vị Đại vương ấy nghe những pháp như vậy, Ngài biết Vua đã có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc, tâm nhu nhuyến, tâm kham nhẫn, tâm tăng thượng, tâm chuyên nhất, tâm vô nghi, tâm vô tận, có khả năng, có sức lực thọ nhận Chánh pháp, như các pháp yếu mà chư Phật đã giảng thuyết, Đức Thế Tôn nói cho vua nghe về Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ngài dạy:

“Này Đại vương, sắc là pháp sanh diệt. Đại vương nên biết, sắc là pháp sanh diệt. Này Đại vương, thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt. Đại vương nên biết, thức là pháp sanh diệt.

“Này Đại vương, giống như khi mưa lớn, trên mặt nước nổi bọt hoặc sanh hoặc diệt. Này Đại vương, sắc sanh diệt cũng như vậy. Đại vương nên biết sắc là pháp sanh diệt. Này Đại vương, thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt. Đại vương nên biết, thức là pháp sanh diệt.

“Này Đại vương, nếu một thiện nam tử biết sanh diệt của sắc, sẽ biết rằng sắc đương lai không sanh trở lại. Này Đại vương, nếu một thiện nam tử nào biết sanh diệt thọ, tưởng, hành, thức sanh diệt, sẽ biết rằng thức đương lai không sanh trở lại. Này Đại vương, nếu một thiện nam tử biết như thật về sắc sẽ không đắm trước sắc, không chấp thủ sắc, không nhiễm sắc, không trụ nơi sắc, không hoan lạc rằng ‘sắc là ta’. Này Đại vương, nếu một thiện nam tử biết như thật thọ, tưởng, hành, thức, sẽ không đắm trước thức, không chấp thủ thức, không nhiễm thức, không trụ nơi thức, không hoan lạc rằng ‘thức là ta’. Này Đại vương, nếu một thiện nam tử không trước sắc, không chấp thủ sắc, không nhiễm sắc, không an trụ nơi sắc, không hoan lạc cho rằng ‘sắc là ta’, người ấy không thọ nhận sắc tương lai. Này Đại vương, nếu một thiện nam tử không đắm trước thọ, tưởng, hành, thức, không chấp thủ thức, không nhiễm thức, không trụ thức, không hoan lạc rằng ‘thức là ta’, người ấy không thọ nhận thức tương lai. Này Đại vương, thiện nam tử ấy vô lượng, không thể kể xiết, vô hạn, chứng đắc tịch tịnh; nếu xả bỏ thân ngũ uẩn này, không còn thọ nhận uẩn thân khác nữa.”

Bấy giờ, những người xứ Ma-kiệt-đà nghĩ rằng: “Nếu như sắc là vô thường; thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, thì ai làm, ai thọ nhận khổ, lạc?”

Đức Thế Tôn biết ý nghĩ của những người xứ Ma-kiệt-đà, liền bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Hàng phàm phu ngu si không học, thấy ngã là ngã mà đắm trước nơi ngã, nhưng thực ra không có ngã, không có ngã sở. Ngã vốn không, ngã sở vốn không; pháp khi sanh thì sanh, pháp khi diệt thì diệt; thảy đều do nhân duyên hội tụ mà sanh khổ. Nếu không có nhân duyên thì các khổ liền diệt. Chúng sanh do duyên tụ hội liên tục mà sanh các pháp. Như Lai sau khi thấy chúng sanh liên tục sanh ra nên nói ‘có sanh có tử’. Ta bằng thiên nhãn thanh tịnh hơn hẳn người thường, thấy như thật về chúng sanh này, lúc tử lúc sanh, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc diệu hoặc bất diệu, qua lại thiện xứ, hoặc bất thiện xứ, đều tùy theo nghiệp mà chúng sanh ấy đã tạo, và thấy đúng như thật.

“Nếu chúng sanh nào thành tựu ác hạnh nơi thân, ác hạnh nơi khẩu, ý, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến và thành tựu nghiệp tà kiến, thì do nhân duyên kia, khi thân này hoại diệt, mạng chung, chúng sanh ấy chắc chắn đi đến chỗ ác, sanh vào địa ngục. Nếu chúng sanh nào thành tựu thiện hành nơi thân, thiện hành nơi khẩu, ý, không phỉ báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến; thì do nhân duyên đó, khi thân này hoại diệt, mạng chung, chúng sanh ấy chắc chắn đi lên chỗ thiện, cho đến cõi trời. Ta biết chúng sanh kia như vậy nhưng không nói rằng: Đó là ngã, ngã ấy có cảm giác, có nói năng, làm và sai làm, đứng dậy và khiến đứng dậy, ở nơi này hay nơi kia thọ nhận nghiệp báo thiện ác. Ở đây, hoặc có suy nghĩ như vầy: Điều đó không hợp lý, điều đó không đứng vững. Hành ấy là đúng như pháp là, nhân cái này mà cái kia sanh, nếu không nhân cái này thì cái kia không sanh; cái này có thì cái kia có, cái này diệt thì cái kia diệt. Tức là duyên vô minh có hành cho đến duyên sanh mà có già, chết. Nếu vô minh diệt thì hành diệt, cho đến sanh diệt thì già, chết diệt.

“Này Đại vương, Đại vương nghĩ sao, sắc là vô thường hay thường?”

Vua đáp:

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

Lại hỏi:

“Nếu vô thường, nó là khổ hay không khổ?”

“Bạch Thế Tôn, là khổ, là biến dịch.”

“Nếu pháp là vô thường, khổ, biến dịch, thì Đa văn Thánh đệ tử có nên cho rằng: ‘Cái này là ta, cái này là sở hữu của ta; ta là sở hữu của cái kia’?”

“Bạch Thế Tôn, không nên.”

Lại hỏi:

“Nếu vô thường, nó là khổ hay không khổ?

“Bạch Thế Tôn, là khổ, là biến dịch.”

“Nếu pháp là vô thường, khổ, biến dịch, Đa văn Thánh đệ tử có nên cho rằng: Cái này là ta, cái này là sở hữu của ta; ta là sở hữu của cái kia?”

“Bạch Thế Tôn, không nên.”

“Này Đại vương, Đại vương nên học như vầy: Những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc thô hoặc tế, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa; tất cả đều chẳng phải là ta, chẳng phải là sở hữu của ta; ta chẳng phải là sở hữu của kia. Nên dùng trí tuệ quán biết như thật.

“Này Đại vương, những gì là thọ, tưởng, hành, thức, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc thô hoặc tế, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa; tất cả đều chẳng phải là ta, chẳng phải là sở hữu của ta; ta chẳng phải là sở hữu của kia. Nên dùng trí tuệ quán biết như thật. Ngã của ta, chẳng phải là của ta. Nên dùng trí tuệ quán biết đúng như thật.

“Này Đại vương, Đa văn Thánh đệ tử quán đúng như vậy, liền nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, tưởng, hành, thức. Nhàm chán rồi liền vô dục, vô dục rồi, liền được giải thoát, đã giải thoát liền có tri kiến giải thoát, biết như thật rằng: Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa".

Lúc Đức Phật nói pháp này xong, Tẩy-ni Tần-tì-sa-la, vua nước Ma-kiệt-đà xa lìa trần cấu, pháp nhãn về các pháp sanh khởi và tám vạn chư thiên, một vạn hai ngàn người xứ Ma-kiệt-đà xa lìa trần cấu, pháp nhãn về các pháp sanh khởi. Bấy giờ Tẩy-ni Tần-tì-sa-la, Vua nước Ma-kiệt-đà thấy pháp, đắc pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn nghi, vượt khỏi mê hoặc, không còn tôn thờ ai, không theo ai nữa, không còn do dự, đã an trụ nơi quả chứng, đối với pháp của Thế Tôn mà chứng đắc vô sở úy; liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật và bạch:

“Bạch Thế Tôn, hôm nay con xin tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, bắt đầu từ hôm nay, trọn đời con xin tự quy y cho đến lúc mạng chung.”

Đức Phật thuyết như vậy. Tẩy-ni Tần-tì-sa-la, Vua nước Ma-kiệt-đà và tám vạn Chư Thiên, và một vạn hai ngàn người xứ Ma-kiệt-đà cùng một ngàn Tỳ-kheo, sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

T 0497b04

我聞如是:

一時,佛遊摩竭陀國,與大比丘眾

T 0497b05

俱,比丘一千悉無著、至真,本皆編髮,往詣王

T 0497b06

舍城摩竭陀邑。於是,摩竭陀王頻鞞娑邏

T 0497b07

聞世尊遊摩竭陀國,與大比丘眾俱,比

T 0497b08

丘一千悉無著、至真,本皆編髮,來此王舍城

T 0497b09

摩竭陀邑。摩竭陀王頻鞞娑邏聞已,即集四

T 0497b10

種軍,象軍、馬軍、車軍,步軍,集四種軍已,與

T 0497b11

無數眾俱,長一由延,往詣佛所。於是,世尊遙

T 0497b12

見摩竭陀王頻鞞娑邏來,則便避道,往至

T 0497b13

善住尼拘類樹王下,敷尼師檀,結跏趺坐,

T 0497b14

及比丘眾。

摩竭陀王頻鞞娑邏遙見世尊

T 0497b15

在林樹間,端正姝好,猶星中月,光耀煒曄,晃

T 0497b16

若金山,相好具足,威神巍巍,諸根寂定,無

T 0497b17

有蔽礙,成就調御,息心靜默,見已下車。若

T 0497b18

諸王剎利以水灑頂,得為人主,整御大地,

T 0497b19

有五儀式:一者劍,二者蓋,三者天冠,四

T 0497b20

者珠柄拂,五者嚴飾屣,一切除却,及四

T 0497b21

種軍,步進詣佛。到已作禮,三自稱名姓:「世

T 0497b22

尊!我是摩竭陀王洗尼頻鞞娑邏。」如是至

T 0497b23

三。

於是,世尊告曰:「大王!如是,如是。汝是摩

T 0497b24

竭陀王洗尼頻鞞娑邏。」

於是,摩竭陀王洗尼

T 0497b25

頻鞞娑邏再三自稱名姓已,為佛作禮,却

T 0497b26

坐一面。諸摩竭陀人或禮佛足,却坐一面,

T 0497b27

或問訊佛,却坐一面,或叉手向佛,却坐一

T 0497b28

面,或遙見佛已,默然而坐。

爾時,尊者欝毘

T 0497b29

邏迦葉亦在眾坐。尊者欝毘羅迦葉是摩竭

T 0497c01

陀人意之所係,謂大尊師,是無著真人。於

T 0497c02

是,摩竭陀人悉作是念:「沙門瞿曇從欝毘羅

T 0497c03

迦葉學梵行耶?為欝毘羅迦葉從沙門瞿

T 0497c04

曇學梵行耶?」

爾時,世尊即知摩竭陀人心

T 0497c05

之所念,便向尊者欝毘羅迦葉而說頌曰:

T 0497c06

「欝毘見何等,  斷火來就此?

T 0497c07

迦葉為我說,  所由不事火。

T 0497c08

飲食種種味,  為欲故事火,

T 0497c09

生中見如此,  是故不樂事。

T 0497c10

迦葉意不樂,  飲食種種味,

T 0497c11

何不樂天人?  迦葉為我說。」

T 0497c12

「見寂靜滅盡,  無為不欲有,

T 0497c13

更無有尊天,  是故不事火。

T 0497c14

世尊為最勝,  世尊不邪思,

T 0497c15

了解覺諸法,  我受最勝法。」

T 0497c16

於是,世尊告曰:「迦葉!汝今當為現如意足,

T 0497c17

令此眾會咸得信樂。」

於是,尊者欝毘羅迦

T 0497c18

葉即如其像作如意足,便在坐沒,從東方

T 0497c19

出,飛騰虛空,現四種威儀,一行、二住、三坐、

T 0497c20

四臥。復次,入於火定,尊者欝毘羅迦葉入火

T 0497c21

定已,身中便出種種火焰,青、黃、赤、白中水

T 0497c22

精色,下身出火,上身出水,上身出火,下身

T 0497c23

出水,如是南、西、北方,飛騰虛空,現四種威

T 0497c24

儀,一行,二住,三坐,四臥。復次,入於火定,尊者

T 0497c25

欝毘羅迦葉入火定已,身中便出種種火

T 0497c26

焰,青、黃、赤、白中水精色,下身出火,上身出

T 0497c27

水,上身出火,下身出水。

於是,尊者欝毘羅

T 0497c28

迦葉止如意足已,為佛作禮,白曰:「世尊!

T 0497c29

佛是我師,我是佛弟子,佛一切智,我無一切

T 0498a01

智。」

世尊告曰:「如是。迦葉!如是。迦葉!我有一

T 0498a02

切智,汝無一切智。」

爾時,尊者欝毘羅迦葉因

T 0498a03

自己故,而說頌曰:

T 0498a04

「昔無所知時,  為解脫事火,

T 0498a05

雖老猶生盲,  邪不見真際。

T 0498a06

我今見上跡,  無上龍所說,

T 0498a07

無為盡脫苦,  見已生死盡。」

T 0498a08

諸摩竭陀人見如此已,便作是念:「沙門瞿

T 0498a09

曇不從欝毘羅迦葉學梵行,欝毘羅迦葉

T 0498a10

從沙門瞿曇學梵行也。」

世尊知諸摩竭

T 0498a11

陀人心之所念,便為摩竭陀王洗尼頻鞞娑

T 0498a12

邏說法,勸發渴仰,成就歡喜,無量方便

T 0498a13

為彼說法,勸發渴仰,成就歡喜已。如諸

T 0498a14

佛法,先說端正法,聞者歡悅,謂說施、說戒、

T 0498a15

說生天法,毀呰欲為災患,生死為穢,稱歎

T 0498a16

無欲為妙道品白淨,世尊為彼大王說之。

T 0498a17

佛已知彼有歡喜心、具足心、柔軟心、堪耐心、

T 0498a18

昇上心、一向心、無疑心、無盡心,有能、有力

T 0498a19

堪受正法,謂如諸佛所說正要,世尊即為

T 0498a20

彼說苦、習、滅、道。「大王!色生滅,汝當知色生

T 0498a21

滅。大王!覺、想、行、識生滅,汝當知識生滅。大

T 0498a22

王!猶如大雨時,水上之泡或生或滅。大王!

T 0498a23

色生滅亦如是,汝當知色生滅。大王!覺、想、

T 0498a24

行、識生滅,汝當知識生滅。

「大王!若族姓子

T 0498a25

知色生滅,便知不復生當來色。大王!若族

T 0498a26

姓子知覺、想、行、識生滅,便知不復生當來

T 0498a27

識。大王!若族姓子知色如真,便不著色,不

T 0498a28

計色,不染色,不住色,不樂色是我。大王!若

T 0498a29

族姓子知覺、想、行、識如真,便不著識,不計

T 0498b01

識,不染識,不住識,不樂識是我。大王!若族

T 0498b02

姓子不著色,不計色,不染色,不住色,不

T 0498b03

樂色是我者,便不復更受當來色。大王!若

T 0498b04

族姓子不著覺、想、行、識,不計識,不染識,不

T 0498b05

住識,不樂識是我者,便不復更受當來識。

T 0498b06

大王!此族姓子無量、不可計、無限,得息寂,若

T 0498b07

捨此五陰已,則不更受陰也。」

於是,諸摩竭

T 0498b08

陀人而作是念:「若使色無常,覺、想、行、識無常

T 0498b09

者,誰活?誰受苦樂?」

世尊即知摩竭陀人心之

T 0498b10

所念,便告比丘:「愚癡凡夫不有所聞,見我

T 0498b11

是我而著於我,但無我、無我所,空我、空我

T 0498b12

所。法生則生,法滅則滅,皆由因緣合會生

T 0498b13

苦,若無因緣,諸苦便滅。眾生因緣會相連續

T 0498b14

則生諸法,如來見眾生相連續生已,便作

T 0498b15

是說:『有生有死,我以清淨天眼出過於人,

T 0498b16

見此眾生死時、生時,好色、惡色,或妙、不妙,往

T 0498b17

來善處及不善處,隨此眾生之所作業,見其

T 0498b18

如真。若此眾生成就身惡行,口、意惡行,誹謗

T 0498b19

聖人,邪見成就邪見業,彼因緣此,身壞命終,

T 0498b20

必至惡處,生地獄中。若此眾生成就身善行,

T 0498b21

口、意善行,不誹謗聖人,正見成就正見業,

T 0498b22

彼因緣此,身壞命終,必昇善處,乃至天上。』

T 0498b23

我知彼如是,然不語彼,此是我為能覺、能

T 0498b24

語、作教、作起、教起,謂彼彼處受善惡業報,於

T 0498b25

中或有作是念:『此不相應,此不得住,其行

T 0498b26

如法,因此生彼,若無此因便不生彼,因

T 0498b27

此有彼,若此滅者,彼便滅也。』所謂緣無明

T 0498b28

有行,乃至緣生有老死,若無明滅,則行便

T 0498b29

滅,乃至生滅則老死滅。大王!於意云何?色

T 0498c01

為有常,為無常耶?」

答曰:「無常也。世尊!」

復問

T 0498c02

曰:「若無常者,是苦,非苦耶?」

答曰:「苦、變易也。世

T 0498c03

尊!」

復問曰:「若無常、苦、變易法者,是多聞聖弟

T 0498c04

子頗受是我,是我所,我是彼所耶?」

答曰:「不

T 0498c05

也。世尊!」

「大王!於意云何?覺、想、行、識為有常,

T 0498c06

為無常耶?」

答曰:「無常也。世尊!」

復問曰:「若無

T 0498c07

常者,是苦,非苦耶?」

答曰:「苦、變易也。世尊!」

復問

T 0498c08

曰:「若無常、苦、變易法者,是多聞聖弟子頗受

T 0498c09

是我,是我所,我是彼所耶?」

答曰:「不也。世尊!」

「大

T 0498c10

王。是故汝當如是學。若有色,或過去、或未

T 0498c11

來、或現在,或內、或外,或麤、或細,或好、或惡,或

T 0498c12

近、或遠,彼一切非我,非我所,我非彼所,當

T 0498c13

以慧觀知如真,大王。若有覺、想、行、識,或過

T 0498c14

去、或未來、或現在,或內、或外,或麤、或細,或好、

T 0498c15

或惡,或近、或遠,彼一切非我,非我所,我非彼

T 0498c16

所,當以慧觀知如真。大王!若多聞聖弟子

T 0498c17

如是觀者,彼便厭色,厭覺、想、行、識,厭已便

T 0498c18

無欲,無欲已便得解脫,解脫已便知解脫,

T 0498c19

生已盡,梵行已立,所作已辦,不更受有,知

T 0498c20

如真。」

佛說此法時,摩竭陀王洗尼頻鞞娑

T 0498c21

邏遠塵離垢,諸法法眼生,及八萬天、摩竭

T 0498c22

陀諸人萬二千,遠塵離垢,諸法法眼生。於

T 0498c23

是,摩竭陀王洗尼頻鞞娑邏見法得法,覺白

T 0498c24

淨法,斷疑度惑,更無餘尊,不復從他,無

T 0498c25

有猶豫,已住果證,於世尊法得無所畏,

T 0498c26

即從坐起,稽首佛足,白曰:「世尊!我今自歸

T 0498c27

於佛、法及比丘眾,唯願世尊受我為優婆

T 0498c28

塞,從今日始,終身自歸,乃至命盡。」

佛說如

T 0498c29

是。摩竭陀王洗尼頻鞞娑邏及八萬天,摩竭

T 0499a01

諸人萬二千,及千比丘,聞佛所說,歡喜奉行。

T 0499a02

頻鞞娑邏王迎佛經第五竟

(二千二百二十字)

T 0499a03

中阿含經卷第十一

(七千九百九十六字)

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc