Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại Sa-kê-đế trong rừng Thanh.
Bấy giờ ở Sa-kê-đế có ba thiện gia nam tử là Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề và Tôn giả Kim-tì-la đều là thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng đến nhập Chánh pháp này không lâu.
Lúc ấy Đức Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
“Ba thiện gia nam tử này đều là thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng đến nhập Chánh pháp này không lâu; ba thiện nam tử ấy có vui thích sống phạm hạnh ở trong Chánh Pháp Luật này chăng?”
Khi đó các vị Tỳ-kheo im lặng, không trả lời.
Đức Thế Tôn ba lần hỏi các Tỳ-kheo rằng:
“Ba thiện gia nam tử này đều là thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng đến nhập Chánh pháp này không lâu; ba thiện nam tử ấy có vui thích sống phạm hạnh ở trong Chánh Pháp Luật này chăng?”
Khi ấy các Tỳ-kheo cũng ba lần im lặng, không đáp. Thế rồi Đức Thế Tôn hỏi thẳng ba thiện nam tử ấy, Ngài nói với Tôn giả A-na-luật-đà rằng:
“Các ngươi, ba thiện gia nam tử, đều ở tuổi thiếu niên, mới xuất gia học đạo, cùng đến nhập Chánh pháp không lâu. Này A-na-luật-đà, các ngươi có vui thích sống phạm hạnh ở trong Chánh Pháp Luật này chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, quả thật như vậy, chúng con vui thích sống phạm hạnh ở trong Chánh Pháp Luật này.
Đức Thế Tôn lại hỏi:
“Này A-na-luật-đà, các ngươi lúc còn nhỏ, là những đồng tử ấu thơ, trong trắng, tóc đen, thân thể thạnh trắng, vui thích trong du hý, vui thích trong tắm gội, săn sóc nâng niu thân thể. Về sau, bà con thân thích và cha mẹ đều cùng lưu luyến, thương yêu, khóc lóc thảm thiết, không muốn cho các ngươi xuất gia học đạo. Các ngươi đã quyết chí cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, không phải vì sợ giặc cướp, không phải vì sợ nợ nần, không phải vì sợ khủng bố, không phải vì sợ bần cùng, cũng không phải vì sợ không sống được mà phải xuất gia học đạo, mà chỉ vì nhờm tởm sự sanh, sự già, bệnh tật, sự chết, khóc lóc, sầu khổ, hoặc vì muốn đoạn tận khối khổ đau vĩ đại này nên xuất gia học đạo. Này A-na-luật-đà, các ngươi vì những tâm niệm này mà xuất gia học đạo chăng?”
Tôn giả A-na-luật-đà đáp rằng:
“Bạch Thế Tôn, quả thật như vậy”.
Phật liền nói:
“A-na-luật-đà, nếu thiện gia nam tử nào với tâm niệm như thế mà xuất gia học đạo, nhưng có biết do đâu mà chứng đắc vô lượng thiện pháp chăng?”
Tôn giả bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của Pháp, là chủ của Pháp, Pháp do Thế Tôn nói. Mong Thế Tôn giảng giải cho chúng con. Sau khi nghe, chúng con sẽ biết được nghĩa một cách rộng rãi”.
Đức Thế Tôn liền bảo:
“Này A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe, khéo tư duy và ghi nhớ! Ta sẽ phân biệt nghĩa ấy cho các ngươi”.
Các Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la vâng lời lắng nghe. Đức Thế Tôn bảo:
“A-na-luật-đà, nếu ai bị dục phủ kín, bị ác pháp quấn chặt, không được xả, lạc, vô thượng tịch tĩnh, thì với người ấy tâm sanh ra tham lam, sân hận, thụy miên, tâm sanh không an lạc, thân sanh ra dã dượi, ăn nhiều, tâm ưu sầu. Tỳ-kheo ấy không nhẫn nại được đói khát, nóng lạnh, muỗi mòng, ruồi nhặng, gió nắng bức bách, nghe tiếng thô ác hay bị đánh đập cũng không thể nhẫn nại được. Thân mắc phải các bệnh tật thống khổ đến mức muốn chết và gặp những cảnh ngộ không vừa lòng đều không thể nhẫn chịu được. Vì sao? Vì bị dục phủ kín, bị ác pháp quấn chặt, không được xả, lạc, vô thượng tịch tịnh. Trái lại, nếu ly dục, không bị ác pháp quấn chặt, chắc chắn sẽ đạt đến xả, lạc, vô thượng tịch tịnh. Tâm vị ấy không sanh ra tham lam, sân nhuế, thụy miên, tâm được an lạc. Thân không sanh ra dã dượi, cũng không ăn nhiều, tâm không sầu não. Tỳ-kheo ấy nhẫn nại được đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, ruồi nhặng, gió nắng bức bách, nghe tiếng thô ác hay bị đánh đập cũng đều nhẫn nại được. Thân dù mắc những chứng bệnh hiểm nghèo rất thống khổ đến mức chết được, hay gặp những cảnh ngộ không thể vừa lòng, đều nhẫn nại được. Vì sao? Vì không bị dục phủ kín, không bị ác pháp quấn chặt, lại đạt đến xả, lạc, vô thượng tịch tịnh.
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này A-na-luật-đà, Như Lai vì ý nghĩa gì mà có cái hoặc phải đoạn trừ, hoặc có cái phải thọ dụng, hoặc có cái phải kham nhẫn, hoặc có cái phải đình chỉ, hoặc có cái phải nhả bỏ?”
A-na-luật-đà bạch rằng:
“Thế Tôn là gốc của Pháp, là chủ của Pháp, Pháp do Thế Tôn nói. Mong Thế Tôn giảng giải cho chúng con. Sau khi nghe xong, chúng con sẽ biết được những nghĩa ấy một cách rộng rãi”.
Đức Thế Tôn lại bảo:
“Này A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe, khéo tư duy và ghi nhớ! Ta sẽ phân biệt những thiện lợi ấy cho các ngươi”.
Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la vâng lời lắng nghe.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này A-na-luật-đà, các lậu cấu uế là gốc của sự hữu trong tương lai, là sự phiền nhiệt, là nhân của khổ báo, của sanh, già, bệnh, chết; Như Lai không phải vì không diệt tận, không phải vì không biến tri mà có cái phải đoạn trừ, có cái phải thọ dụng, có cái phải kham nhẫn, có cái phải đình chỉ, có cái phải nhả bỏ. Này A-na-luật-đà, Như Lai chỉ vì nhân nơi thân này, nhân nơi sáu xứ, nhân nơi thọ mạng mà có cái phải đoạn trừ, có cái phải thọ dụng, có cái phải kham nhẫn, có cái phải đình chỉ, có cái phải nhả bỏ. Này A-na-luật-đà, Như Lai vì những nghĩa này mà có cái phải đoạn trừ, có cái phải thọ dụng, có cái phải kham nhẫn, có cái phải đình chỉ, có cái phải nhả bỏ”.
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này A-na-luật-đà, Như Lai vì những ý nghĩa nào mà sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, ưa sống nơi vách núi cao, vắng vẻ không tiếng động, viễn ly, không có sự ác, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa như thế?”
Tôn giả A-na-luật-đà thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của Pháp, Thế Tôn là Chủ của Pháp, Pháp do Thế Tôn nói. Mong Thế Tôn giảng giải cho chúng con. Sau khi nghe xong, chúng con sẽ được những thiện lợi ấy một cách rộng rãi”.
Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe và khéo tư duy, ghi nhớ! Ta sẽ phân biệt những thiện lợi ấy cho các ngươi”.
Các Tôn giả vâng lời lắng nghe.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này A-na-luật-đà, không phải vì muốn đạt được những gì chưa đạt đến, vì muốn thu hoạch những gì chưa thu hoạch, vì muốn chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà, Như Lai chỉ vì hai mục đích sau đây nên mới sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Một là, sống an lạc ngay trong đời hiện tại. Hai là, vì thương xót chúng sanh đời sau. Đời sau hoặc có chúng sanh học theo Như Lai, sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà, vì những mục đích ấy mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa”.
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này A-na-luật-đà, vì ý nghĩa gì mà khi đệ tử mạng chung Như lai ký thuyết nggờinày sanh chỗ này, người kia sanh chỗ kia?”
Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của Pháp, Thế Tôn là chủ của Pháp, Pháp do Thế Tôn nói. Mong Thế Tôn giảng giải cho chúng con. Sau khi nghe xong, chúng con sẽ được những thiện lợi ấy một cách rộng rãi”.
Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe và khéo tư duy, ghi nhớ! Ta sẽ phân biệt những ý nghĩa ấy cho các ngươi”.
Các Tôn giả vâng lời lắng nghe.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này A-na-luật-đà, không phải vì xu hướng của người mà nói, cũng chẳng phải vì lừa gạt người, cũng chẳng phải vì muốn vui lòng người mà khi đệ tử lâm chung, Như Lai ghi nhận vị này sẽ sanh chỗ này, vị kia sanh chỗ kia. Này A-na-luật-đà, chỉ vì những thanh tín thiện nam hay thanh tín thiện nữ với tín tâm nhiệt thành, với ái lạc cao độ, với hỷ duyệt cùng cực, sau khi đã nghe Chánh Pháp Luật, tâm nguyện noi theo theo như vậy, cho nên lúc lâm chung của các đệ tử, Như Lai đã ghi nhận vị này sanh chỗ này, vị kia sanh chỗ kia. Nếu Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả ấy lâm chung nơi ấy, được Phật ghi nhận đã đắc cứu cánh trí, biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Hoặc nhiều lần trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tôn giả ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Tỳ-kheo kia nghe xong nhớ rằng Tôn giả kia có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Chánh Pháp Luật này, Tỳ-kheo kia có thể tâm nguyện noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo ấy chắn chắc được phần nào sống trong sự an lạc thoải mái.
“Này A-na-luật-đà, nếu Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả ấy lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch năm hạ phần kiết, sanh vào nơi kia mà nhập Niết-bàn, chứng đắc pháp bất thối, không còn trở lại thế gian này nữa. Hoặc chính mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng ‘Tôn giả ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Tỳ-kheo kia nghe xong nhớ rằng Tôn giả kia có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Tỳ-kheo đó tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc thoải mái.
“Này A-na-luật-đà, lại nữa, Tỳ-kheo nào nghe rằng: ‘Tôn giả ấy lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận dứt sạch ba kiết sử, đã làm mỏng dâm, nộ, si, chỉ một lần qua lại thiên thượng, nhân gian; sau một lần qua lại thì đoạn tận khổ biên’. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tôn giả ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Sau khi nghe xong, Tỳ-kheo kia nhớ rằng: ‘Tôn giả kia có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, trí tuệ như vậy. Nghe Pháp Luật chân chánh này rồi, Tỳ-kheo đó có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy...’ Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại nữa, này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả ấy lâm chung ở nơi ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, đắc Tu-đà-hoàn, không còn đọa ác pháp, nhất định sẽ đạt đến chánh gác, nhiều lắm là bảy lần thọ sanh. Sau bảy lần qua lại nhân gian, thiên thượng thì đạt đến tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tôn giả ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Sau khi nghe xong, Tỳ-kheo kia nhớ rằng: ‘Tôn giả kia có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Tỳ-kheo đó có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy’. Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc thoải mái.
“Này A-na-luật-đà, nếu Tỳ-kheo-ni nào nghe rằng: “Tỳ-kheo-ni ấy được Phật ghi nhận đã đắc cứu cánh trí, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Hoặc tận mắt trông thấy Tỳ-kheo-ni ấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, có trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Sau khi nghe xong, nhớ rằng Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Tỳ-kheo-ni đó có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc thoải mái.
“Lại nữa, này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni nào nghe rằng: ‘Tỳ-kheo-ni ấy lâm chung nơi ấy, được Đức Thế Tôn ghi nhận đã dứt sạch năm hạ phần kiết, sanh vào nơi kia mà nhập Niết-bàn, đắc pháp bất thối, không còn trở lại cõi này nữa’. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác nói lại rằng: ‘Tỳ-kheo ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Tỳ-kheo-ni ấy có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, như vậy, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc thoải mái.
“Lại nữa, này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni nào nghe rằng: ‘Tỳ-kheo-ni ấy lâm chung nơi ấy, được Đức Phật ghi nhận rằng đã dứt sạch ba kiết sử, đã mỏng dâm, nộ, si; chỉ một lần qua lại thiên thượng, nhân gian. Sau khi một lần qua lại ấy thì đạt đến tận cùng sự khổ’. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, nhớ rằng: Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị ấy có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, như vậy, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại nữa, này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni nào nghe rằng ‘Tỳ-kheo-ni ấy lâm chung nơi ấy, được Đức Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, đắc Tu-đà-hoàn, không đọa vào ác pháp, nhất định đã đạt đến chánh giác, nhiều lắm là bảy lần thọ sanh. Sau bảy lần qua lại thiên thượng, nhân gian thì đạt đến tận cùng sự khổ’. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Tỳ-kheo-ni kia nhớ rằng: Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này rồi, Tỳ-kheo-ni kia có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn có sự sai giáng an lac trụ chỉ.
“Này A-na-luật-đà, nếu vị Ưu-bà-tắc nào nghe vị Ưu-bà-tắc ấy lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch năm hạ phần kiết, sanh vào chỗ kia mà nhập Niết-bàn, đắc pháp bất thối, không còn trở lại thế gian này nữa. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, vị Ưu-bà-tắc kia nhớ rằng: Vị Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị Ưu-bà-tắc kia có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, như vậy vị Ưu-bà-tắc kia chắc chắc được phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại nữa, này A-na-luật-đà, Ưu-bà-tắc nào nghe vị Ưu-bà-tắc ấy lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận dứt sạch ba kiết, đã làm mỏng dâm, nộ, si; chỉ một lần qua lại thiên thượng, nhân gian. Sau một lần qua lại ấy thì đạt đến tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng ‘Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-tắc kia nhớ rằng: Vị Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị Ưu-bà-tắc kia có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-tắc đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại nữa, này A-na-luật-đà, Ưu-bà-tắc nào nghe Ưu-bà-tắc kia lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, đắc Tu-đà-hoàn, đã đoạn ác pháp, nhất định sẽ đạt đến chánh giác, nhiều lắm là bảy lần thọ sanh nữa. Sau bảy lần qua lại thiên thượng, nhân gian thì đạt đến tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-tắc kia nhớ lại rằng: Vị Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị Ưu-bà-tắc kia có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy... Này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-tắc đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Này A-na-luật-đà, nếu Ưu-bà-di nào nghe vị Ưu-bà-di ấy lâm chung nơi ấy, được Phật ghi nhận dứt sạch năm hạ phần kiết, sanh vào nơi kia mà nhập Niết-bàn, đắc pháp bất thối, không còn trở lại thế gian này nữa. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-di ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-di đó nhớ lại rằng: Vị Ưu-bà-di ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị Ưu-bà-di đó có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy... Này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-di đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại nữa, này A-na-luật-đà, Ưu-bà-di nào nghe Ưu-bà-di đó lâm chung ở nơi ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba phần kiết, làm mỏng dâm, nộ, si; chỉ một lần qua lại thiên thượng, nhân gian. Sau một lần qua lại ấy thì đạt đến tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nghe người khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-di ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-di kia nhớ rằng: Ưu-bà-di ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Ưu-bà-di đó có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy... Này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-di đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại nữa, này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-di nào nghe vị Ưu-bà-di đó lâm chung ở nơi ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết, chứng Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào ác pháp, nhất định sẽ đến chánh giác, nhiều lắm là bảy lần thọ sanh. Sau bảy lần qua lại thiên thượng, nhân gian thì đạt đến tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-di ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-di ấy nhớ lại rằng: Ưu-bà-di ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Ưu-bà-di ấy có thể tâm nguyện noi theo theo như vậy, như vậy... Này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-di ấy chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Này A-na-luật-đà, Như Lai vì những thiện lợi ấy nên khi đệ tử lâm chung ghi nhận vị này sẽ sanh vào chỗ này, vị kia sẽ sanh vào chỗ kia”.
Phật thuyết như vậy Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo sau khi nghe lời Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
T 0544b23
我聞如是:
一時,佛遊娑雞帝,在青林中。
爾
T 0544b24
時,娑雞帝有三族姓子,尊者阿那律陀、尊者
T 0544b25
難提、尊者金毘羅,並皆年少新出家學,共來
T 0544b26
入此正法不久。爾時,世尊問諸比丘:「此三
T 0544b27
族姓子並皆年少新出家學,共來入此正法
T 0544b28
不久,此三族姓子頗樂於此正法、律中行
T 0544b29
梵行耶?」時,諸比丘嘿然不答。
世尊復再三
T 0544c01
問諸比丘:「此三族姓子並皆年少新出家學,
T 0544c02
共來入此正法不久,此三族姓子頗樂於
T 0544c03
此正法、律中行梵行耶?」時,諸比丘亦復再三
T 0544c04
嘿然不答。
於是,世尊自問三族姓子,告
T 0544c05
尊者阿那律陀:「汝等三族姓子並皆年少新
T 0544c06
出家學,共來入此正法不久,阿那律陀!汝
T 0544c07
等頗樂此正法、律中行梵行耶?」
尊者阿那
T 0544c08
律陀白曰:「世尊!如是。我等樂此正法,修行
T 0544c09
梵行。」
世尊問曰:「阿那律陀!汝等小時年幼童
T 0544c10
子,清淨黑髮,身體盛壯,樂於遊戲,樂數澡浴,
T 0544c11
嚴愛其身,於後親親及其父母皆相愛戀,
T 0544c12
悲泣啼哭,不欲令汝出家學道。汝等故能
T 0544c13
剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨家、無家、學道,
T 0544c14
阿那律陀!汝等不畏王而行學道,亦不畏
T 0544c15
賊,不畏負債,不畏恐怖,不畏貧窮不得
T 0544c16
活故而行學道,但厭生、老、病、死、啼哭、憂苦,或
T 0544c17
復欲得大苦聚邊。阿那律陀!汝等不以如
T 0544c18
是心故出家學道耶?」
答曰:「如是。」
「阿那律陀!
T 0544c19
若族姓子以如是心出家學道者,為知所
T 0544c20
由,得無量善法耶?」
尊者阿那律陀白世尊
T 0544c21
曰:「世尊為法本,世尊為法主,法由世尊,唯
T 0544c22
願說之,我等聞已,得廣知義。」
佛便告曰:「阿那
T 0544c23
律陀!汝等諦聽,善思念之,我當為汝分別其
T 0544c24
義。」阿那律陀等受教而聽。
世尊告曰:「阿那律
T 0544c25
陀!若為欲所覆、惡法所纏者,不得捨樂、無
T 0544c26
上止息,彼心生增伺、瞋恚、睡眠,心生不樂,
T 0544c27
身生頻伸,多食心憂;彼比丘便不能忍飢
T 0544c28
渴、寒熱、蚊虻、蠅蚤、風日所逼,惡聲、捶杖亦不
T 0544c29
能忍,身遇諸疾極為苦痛,至命欲絕,諸不
T 0545a01
可樂,皆不堪耐。所以者何?以為欲所覆、惡
T 0545a02
法所纏,不得捨樂、無上止息故。若有離欲,
T 0545a03
非為惡法之所纏者,必得捨樂及無上止
T 0545a04
息,彼心不生增伺、瞋恚、睡眠、心不生不樂,
T 0545a05
身不生頻伸,亦不多食,心不愁憂;彼比
T 0545a06
丘便能忍飢渴、寒熱、蚊虻、蠅蚤、風日所逼,
T 0545a07
惡聲、捶杖亦能忍之,身遇諸疾極為苦
T 0545a08
痛,至命欲絕,諸不可樂,皆能堪耐。所以者
T 0545a09
何?以非為欲所覆故,不為惡法之所纏
T 0545a10
故,又得捨樂、無上止息故。」
世尊問曰:「阿那
T 0545a11
律陀!如來以何義故?或有所除,或有所用,
T 0545a12
或有所堪,或有所止,或有所吐耶?」
阿那律
T 0545a13
陀白世尊曰:「世尊為法本,世尊為法主,法
T 0545a14
由世尊,唯願說之,我等聞已,得廣知義。」
佛
T 0545a15
便告曰:「阿那律陀!汝等諦聽,善思念之,我
T 0545a16
當為汝分別其義。」阿那律陀等受教而聽。
T 0545a17
世尊告曰:「阿那律陀!諸漏穢污為當來有本,
T 0545a18
煩熱苦報,生、老、病、死因,如來非不盡,非不
T 0545a19
知故,或有所除,或有所用,或有所堪,或有
T 0545a20
所止,或有所吐。阿那律陀!如來但因此身
T 0545a21
故,因六處故,因壽命故,或有所除,或有
T 0545a22
所用,或有所堪,或有所止,或有所吐。阿那
T 0545a23
律陀!如來以此義故,或有所除,或有所用,
T 0545a24
或有所堪,或有所止,或有所吐。」
世尊問曰:
T 0545a25
「阿那律陀!如來以何義故,住無事處、山林
T 0545a26
樹下,樂居高巖,寂無音聲,遠離,無惡,無有
T 0545a27
人民,隨順燕坐耶?」
尊者阿那律陀白世尊
T 0545a28
曰:「世尊為法本,世尊為法主,法由世尊,唯
T 0545a29
願說之,我等聞已,得廣知義。」
佛便告曰:「阿
T 0545b01
那律陀!汝等諦聽,善思念之,我當為汝分
T 0545b02
別其義。」阿那律陀等受教而聽。
世尊告曰:
T 0545b03
「阿那律陀!如來非為未得欲得、未獲欲獲、
T 0545b04
未證欲證故,住無事處、山林樹下,樂居高
T 0545b05
巖,寂無音聲,遠離,無惡,無有人民,隨順燕
T 0545b06
坐。阿那律陀!如來但以二義故,住無事處、
T 0545b07
山林樹下,樂居高巖,寂無音聲,遠離,無惡,
T 0545b08
無有人民,隨順燕坐:一者為自現法樂居
T 0545b09
故,二者為慈愍後生人故。或有後生人效
T 0545b10
如來住無事處、山林樹下,樂居高巖,寂無
T 0545b11
音聲,遠離,無惡,無有人民,隨順燕坐。阿那
T 0545b12
律陀!如來以此義故,住無事處、山林樹下,
T 0545b13
樂居高巖,寂無音聲,遠離,無惡,無有人民,
T 0545b14
隨順燕坐。」
世尊問曰:「阿那律陀!如來以何
T 0545b15
義故,弟子命終,記說某生某處、某生某處?」
T 0545b16
尊者阿那律陀白世尊曰:「世尊為法本,世
T 0545b17
尊為法主,法由世尊,唯願說之,我等聞已,
T 0545b18
得廣知義。」
佛便告曰:「阿那律陀!汝等諦聽,善
T 0545b19
思念之,我當為汝分別其義。」阿那律陀等
T 0545b20
受教而聽。
世尊告曰:「阿那律陀!如來非為
T 0545b21
趣為人說,亦不欺誑人,亦不欲得人歡
T 0545b22
樂故,弟子命終,記說某生某處、某生某處。
T 0545b23
阿那律陀!如來但為清信族姓男、族姓女,極
T 0545b24
信極愛,極生喜悅,聞此正法、律已,或心願
T 0545b25
效如是如是,故弟子命終,記說某生某處、某
T 0545b26
生某處。若比丘聞某尊者於某處命終,彼
T 0545b27
為佛所記,得究竟智,生已盡,梵行已立,所
T 0545b28
作已辦,不更受有,知如真。或自見彼尊者,
T 0545b29
或復從他數數聞之,彼尊者如是有信、如
T 0545c01
是持戒、如是博聞、如是惠施、如是智慧。其人
T 0545c02
聞已,憶彼尊者有信、持戒、博聞、惠施、智慧,聞
T 0545c03
此正法、律已,或心願效如是如是。阿那律
T 0545c04
陀!如是比丘必得差降安樂住止。
「阿那律
T 0545c05
陀!復次,比丘聞某尊者於某處命終,彼為
T 0545c06
佛所記,五下分結已盡,生於彼間而般涅
T 0545c07
槃,得不退法,不還此世。或自見彼尊者,或
T 0545c08
復從他數數聞之,彼尊者如是有信、如是
T 0545c09
持戒、如是博聞、如是慧施、如是智慧。其人
T 0545c10
聞已,憶彼尊者有信、持戒、博聞、惠施、智慧,
T 0545c11
聞此正法、律已,或心願效如是如是。阿那
T 0545c12
律陀!如是比丘必得差降安樂住止。
「阿那律
T 0545c13
陀!復次,比丘聞某尊者於某處命終,彼為
T 0545c14
佛所記,三結
已
盡,婬怒癡薄,得一往來天
T 0545c15
上人間,一往來已而得苦際。或自見彼尊
T 0545c16
者,或復從他數數聞之,彼尊者如是有信、
T 0545c17
如是持戒、如是博聞、如是惠施、如是智慧。
T 0545c18
其人聞已,憶彼尊者有信、持戒、博聞、惠施、智
T 0545c19
慧,聞此正法、律已,或心願效如是如是。阿
T 0545c20
那律陀!如是比丘必得差降安樂住止。
「阿那
T 0545c21
律陀!復次,比丘聞某尊者於某處命終,彼
T 0545c22
為佛所記,三結已盡,得須陀洹,不墮惡法,
T 0545c23
定趣正覺,極受七有,天上人間七往來已而
T 0545c24
得苦際。或自見彼尊者,或復從他數數聞
T 0545c25
之,彼尊者如是有信、如是持戒、如是博聞、
T 0545c26
如是惠施、如是智慧。其人聞已,憶彼尊者
T 0545c27
有信、持戒、博聞、惠施、智慧,聞此正法、律已,
T 0545c28
或心願效如是如是。阿那律陀!如是比丘
T 0545c29
必得差降安樂住止。
「阿那律陀!若比丘尼聞
T 0546a01
某比丘尼於某處命終,彼為佛所記,得究
T 0546a02
竟智,生已盡,梵行已立,所作已辦,不更受有,
T 0546a03
知如真。或自見彼比丘尼,或復從他數數
T 0546a04
聞之,彼比丘尼如是有信、如是持戒、如是
T 0546a05
博聞、如是惠施、如是智慧。其人聞已,憶彼比
T 0546a06
丘尼有信、持戒、博聞、惠施、智慧,聞此正法、律
T 0546a07
已,或心願效如是如是。阿那律陀!如是比
T 0546a08
丘尼必得差降安樂住止。
「阿那律陀!復次,比
T 0546a09
丘尼聞某比丘尼於某處命終,彼為佛所
T 0546a10
記,五下分結已盡,生於彼間而般涅槃,得
T 0546a11
不退法,不還此生。或自見彼比丘尼,或復
T 0546a12
從他數數聞之,彼比丘尼如是有信、如是
T 0546a13
持戒、如是博聞、如是惠施、如是智慧。其人聞
T 0546a14
已,憶彼比丘尼有信、持戒、博聞、惠施、智慧,聞
T 0546a15
此正法、律已,或心願效如是如是。阿那律陀!
T 0546a16
如是比丘尼必得差降安樂住止。
「阿那律陀!
T 0546a17
復次,比丘尼聞某比丘尼於某處命終,彼為
T 0546a18
佛所記,三結已盡,婬怒癡薄,得一往來天
T 0546a19
上人間,一往來已而得苦際。或自見彼比丘
T 0546a20
尼,或復從他數數聞之,彼比丘尼如是有
T 0546a21
信、如是持戒、如是博聞、如是惠施、如是智
T 0546a22
慧。其人聞已,憶彼比丘尼有信、持戒、博聞、
惠
T 0546a23
施、智慧,聞此正法、律已,或心願效如是如是。
T 0546a24
阿那律陀!如是比丘尼必得差降安樂住止。
T 0546a25
「阿那律陀!復次,比丘尼聞某比丘尼於某處
T 0546a26
命終,彼為佛所記,三結已盡,得須陀洹,不
T 0546a27
墮惡法,定趣正覺,極受七有,天上人間七
T 0546a28
往來已而得苦際。或自見彼比丘尼,或復
T 0546a29
從他數數聞之,彼比丘尼如是有信、如是
T 0546b01
持戒、如是博聞、如是惠施、如是智慧。其人聞
T 0546b02
已,憶彼比丘尼有信、持戒、博聞、惠施、智慧,聞
T 0546b03
此正法、律已,或心願效如是如是。阿那律
T 0546b04
陀!如是比丘尼必得差降安樂住止。
「阿那
T 0546b05
律陀!若優婆塞聞某優婆塞於某村命終,彼
T 0546b06
為佛所記,五下分結已盡,生於彼間而般
T 0546b07
涅槃,得不退法,不還此世。或自見彼優婆
T 0546b08
塞,或復從他數數聞之,彼優婆塞如是有
T 0546b09
信、如是持戒、如是博聞、如是惠施、如是智
T 0546b10
慧。其人聞已,憶彼優婆塞有信、持戒、博聞、惠
T 0546b11
施、智慧,聞此正法、律已,或心願效如是如
T 0546b12
是。阿那律陀!如是優婆塞必得差降安樂
T 0546b13
住止。
「阿那律陀!復次,優婆塞聞某優婆塞於
T 0546b14
某村命終,彼為佛所記,三結已盡,婬怒癡
T 0546b15
薄,得一往來天上人間,一往來已而得苦
T 0546b16
際。或自見彼優婆塞,或復從他數數聞之,
T 0546b17
彼優婆塞如是有信、如是持戒、如是博聞、
T 0546b18
如是惠施、如是智慧。其人聞已,憶彼優婆
T 0546b19
塞有信、持戒、博聞、惠施、智慧,聞此正法、律
T 0546b20
已,或心願效如是如是。阿那律陀!如是彼
T 0546b21
優婆塞必得差降安樂住止。
「阿那律陀!復次,
T 0546b22
優婆塞聞某優婆塞於某村命終,彼為佛
T 0546b23
所記,三結已盡,得須陀洹,不墮惡法,定趣
T 0546b24
正覺,極受七有,天上人間七往來已而得苦
T 0546b25
際。或自見彼優婆塞,或復從他數數聞之,
T 0546b26
彼優婆塞如是有信、如是持戒、如是博聞、
T 0546b27
如是惠施、如是智慧。其人聞已,憶彼優婆塞
T 0546b28
有信、持戒、博聞、惠施、智慧,聞此正法、律已,
T 0546b29
或心願效如是如是。阿那律陀!如是優婆
T 0546c01
塞必得差降安樂住止。
「阿那律陀!若優婆私
T 0546c02
聞某優婆私於某村命終,彼為佛所記,五
T 0546c03
下分結已盡,生於彼間而般涅槃,得不退
T 0546c04
法,不還此世。或自見彼優婆私,或復從他
T 0546c05
數數聞之,彼優婆私如是有信、如是持戒、
T 0546c06
如是博聞、如是惠施、如是智慧。其人聞已,
T 0546c07
憶彼優婆私有信、持戒、博聞、慧施、智慧,聞
T 0546c08
此正法、律已,或心願效如是如是。阿那律陀!
T 0546c09
如是優婆私必得差降安樂住止。
「阿那律陀!
T 0546c10
復次,優婆私聞某優婆私於某村命終,彼為
T 0546c11
佛所記,三結已盡,婬怒癡薄,得一往來天
T 0546c12
上人間,一往來已而得苦際。或自見彼優婆
T 0546c13
私,或復從他數數聞之,彼優婆私如是有
T 0546c14
信、如是持戒、如是博聞、如是惠施、如是智
T 0546c15
慧。其人聞已,憶彼優婆私有信、持戒、博聞、慧
T 0546c16
施、智慧,聞此正法、律已,或心願效如是如
T 0546c17
是。阿那律陀!如是優婆私必得差降安樂住
T 0546c18
止。
「阿那律陀!復次,優婆私聞某優婆私於某
T 0546c19
村命終,彼為佛所記,三結已盡,得須陀洹,
T 0546c20
不墮惡趣,定趣正覺,極受七有,天上人間
T 0546c21
七往來已而得苦際。或自見彼優婆私,或復
T 0546c22
從他數數聞之,彼優婆私如是有信、如是
T 0546c23
持戒、如是博聞、如是惠施、如是智慧。其人聞
T 0546c24
已,憶彼優婆私有信、持戒、博聞、惠施、智慧,
T 0546c25
聞此正法、律已,或心願效如是如是。阿那
T 0546c26
律陀!如是優婆私必得差降安樂住止。
「阿那
T 0546c27
律陀!如來以此義故,弟子命終,記說某生
T 0546c28
某處、某生某處。」
佛說如是。尊者阿那律陀
T 0546c29
及諸比丘,聞佛所說,歡喜奉行。
T 0547a01
娑雞帝三族姓子經第六竟
(三千四百六字)
T 0547a02
中阿含經卷第十八
(萬一百二十七字)
(第二小土
T 0547a03
城誦)