Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la.
Bấy giờ có Tỳ-kheo thị giả tên là La-đà, bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, nói: ‘chúng sanh’. Vậy thế nào là chúng sanh?”
Phật bảo La-đà:
“Ở nơi sắc mà nhiễm đắm triền miên, do đó gọi là chúng sanh. Ở nơi thọ, tưởng, hành, thức mà nhiễm đắm triền miên, nên gọi là chúng sanh.”
Phật bảo La-đà:
“Ta nói, ở nơi cảnh giới của sắc, hãy phá sập, tiêu diệt. Ở nơi cảnh giới của thọ, tưởng, hành, thức phá sập, tiêu diệt; đoạn tận ái dục. Ái tận thì khổ tận. Khổ tận, Ta nói đó là tận cùng biên tế của khổ.
“Giống như trong làng xóm, những trẻ con trai gái chơi đùa, nhóm đất lại tạo thành nhà cửa, thành quách. Tâm chúng yêu thích, say đắm. Khi tâm yêu thích chưa hết, ước muốn chưa tan, nhớ nghĩ chưa dứt, thèm khát chưa tiêu, thì tâm chúng luôn luôn có sự yêu thích, giữ gìn và bảo là thành quách của ta, nhà cửa ta. Đối với những đống đất kia mà lòng yêu thích hết đi, ước muốn không còn, nhớ nghĩ đã dẹp, thèm khát đã tan, thì tay xô, chân đạp, khiến cho tiêu tán. Cũng vậy, này La-đà, đối với sắc mà phá sập, tiêu diệt; đoạn tận ái dục. Ái tận thì khổ tận. Khổ tận, Ta nói đó là tận cùng biên tế của khổ.”
Phật nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住摩拘羅山。
時,有
T 0040a05
侍者比丘名曰羅陀,白佛言:「世尊!所謂眾
T 0040a06
生者,云何名為眾生?」
佛告羅陀:「於色染著
T 0040a07
纏綿,名曰眾生;於受、想、行、識染著纏綿,名
T 0040a08
曰眾生。」
佛告羅陀:「我說於色境界當散壞
T 0040a09
消滅,於受、想、行、識境界當散壞消滅,斷除
T 0040a10
愛欲,愛盡則苦盡,苦盡者我說作苦邊。譬
T 0040a11
如聚落中諸小男小女嬉戲,聚土作城郭
T 0040a12
宅舍,心愛樂著,愛未盡、欲未盡、念未盡、渴
T 0040a13
未盡,心常愛樂、守護,言:『我城郭,我舍宅。』
T 0040a14
若於彼土聚愛盡、欲盡、念盡、渴盡,則以手
T 0040a15
撥足蹴,令其消散。如是,羅陀!於色散
T 0040a16
壞消滅愛盡,愛盡故苦盡,苦盡故我說作
T 0040a17
苦邊。」
佛說此經已,羅陀比丘聞佛所說,歡
T 0040a18
喜奉行。
T 0040a19