Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la.
Bấy giờ có Tỳ-kheo thị giả tên là La-đà đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Lành thay, Thế Tôn! Vì con mà nói tóm lược pháp yếu. Sau khi nghe pháp rồi, con sẽ ở một mình nơi vắng vẻ, sống không buông lung, chuyên tâm suy nghĩ về mục đích mà người con trai của tông tộc cạo bỏ râu tóc, mình mặc nhiễm y, chánh tín xuất gia học đạo, sống không gia đình, nỗ lực siêng năng tu các phạm hạnh, ngay trong đời này, tự tri, tự tác chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy giờ, Phật bảo La-đà:
“Lành thay! La-đà có thể ở trước Phật hỏi ý nghĩa này! Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“La-đà, nên biết, hữu thân, sự tập khởi của hữu thân, về sự diệt tận của hữu thân, về con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân. Những gì là hữu thân? Đó là cho năm thọ ấm: sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm.
“Thế nào là sự tập khởi của hữu thân? Đó là đương lai hữu ái, câu hữu với tham và hỷ, ái lạc nơi này nơi kia. Đó gọi là sự tập khởi của hữu thân.
“Thế nào là sự diệt tận của hữu thân? Đương lai hữu ái, câu hữu với tham và hỷ, ái lạc nơi này nơi kia, hoàn toàn bị đoạn trừ, vất bỏ, nhổ sạch, ly dục, tịch diệt, tĩnh chỉ. Đó gọi là sự diệt tận của hữu thân.
“Thế nào là con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân? Là chỉ cho Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định. Đó gọi là con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân. Hữu thân, nên biết: sự tập khởi của hữu thân nên đoạn; sự diệt tận của hữu thân nên chứng; con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân nên tu.
“Này La-đà, nếu đa văn Thánh đệ tử, đối với hữu thân hoặc biết, hoặc đoạn; đối với sự tập khởi của hữu thân hoặc biết, hoặc đoạn; đối với sự diệt tận của hữu thân hoặc biết, hoặc chứng; đối với con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân hoặc biết, hoặc tu rồi, thì này La-đà, đó gọi là đoạn trừ ái, xả ly ái, chuyển đổi kết sử, đình chỉ mạn, chứng đắc vô gián đẳng, cứu cánh biên tế khổ.”
Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành, từ chỗ ngồi đứng dậy làm lễ rồi cáo lui.
Sau khi Đức Thế Tôn đã dạy như vậy rồi, thì Tỳ-kheo La-đà một mình ở chỗ vắng, chuyên tinh suy nghĩ về mục đích mà thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh tín, xuất gia, học đạo, sống không gia đình, nỗ lực siêng năng tu các phạm hạnh, ngay trong đời này, tự tri, tự tác chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Thành bậc A-la-hán, tâm khéo giải thoát.
Phật nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住摩拘羅山。
時,有
T 0040a20
侍者比丘名曰羅陀,往詣佛所,稽首禮
T 0040a21
足,退坐一面,白佛言:「善哉!世尊!為我
T 0040a22
略說法要,我聞法已,我當獨一靜處,專心
T 0040a23
思惟,不放逸住:『所以族姓子剃除鬚髮,身
T 0040a24
著染衣,正信非家,出家學道,增加精進,修
T 0040a25
諸梵行,見法自知作證:「我生已盡,梵行已立,
T 0040a26
所作已作,自知不受後有。」』」
爾時,世尊告羅
T 0040a27
陀曰:「善哉!羅陀!能於佛前問如是義。諦聽,
T 0040a28
善思,當為汝說。羅陀!當知有身、有身集、有
T 0040a29
身滅、有身滅道跡。何等為有身?謂五受陰——
T 0040b01
色受陰,受、想、行、識受陰。云何有身集?謂當來
T 0040b02
有愛,貪、喜俱,於彼彼愛樂,是名有身集。云
T 0040b03
何有身滅?謂當有愛,喜、貪俱,彼彼愛樂無餘
T 0040b04
斷、捨、吐、盡、離欲、寂、沒,是名有身盡。云何有身
T 0040b05
滅道跡?謂八正道——正見、正志、正語、正業、正命、
T 0040b06
正方便、正念、正定,是名有身滅道跡。有身當
T 0040b07
知,有身集當斷,有身滅當證,有身滅道
T 0040b08
跡當修。羅陀!若多聞聖弟子於有身若知、
T 0040b09
若斷,有身集若知、若斷,有身滅若知、若證,有
T 0040b10
身滅道跡若知、若修已,羅陀!名斷愛、離愛、轉
T 0040b11
結,止慢無間等,究竟苦邊。」
羅陀比丘聞佛
T 0040b12
所說,歡喜奉行。從坐起,作禮而去。世尊
T 0040b13
如是教授已,羅陀比丘獨一靜處,專精思
T 0040b14
惟。所以善男子剃除鬚髮,著染色衣,正信
T 0040b15
非家,出家學道,增益精進,修諸梵行,見法
T 0040b16
自知作證:「我生已盡,梵行已立,所作已作,自
T 0040b17
知不受後有。」成阿羅漢,心善解脫。
佛說此
T 0040b18
經已,羅陀比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0040b19