Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có chúng Đại Thanh văn ni ở trong vườn vua nước Xá-vệ. Tên các Tỳ-kheo-ni này là Thuần-đà Tỳ-kheo-ni, Dân-đà Tỳ-kheo-ni, Ma-la-bà Tỳ-kheo-ni, Ba-la-giá-la Tỳ-kheo-ni, Đà-la-tỳ-ca Tỳ-kheo-ni, Sai-ma Tỳ-kheo-ni, Nan-ma Tỳ-kheo-ni, Cáo-nan-xá Cù-đàm-di Tỳ-kheo-ni, Ưu-bát-la-sắc Tỳ-kheo-ni, Ma-ha Ba-xà-ba-đề Tỳ-kheo-ni. Những vị này cùng một số Tỳ-kheo-ni khác đều ở trong vườn vua.
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng với năm trăm Tỳ-kheo-ni lần lượt trước sau đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên. Lúc ấy, Thế Tôn vì Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề mà thuyết pháp, khai mở, chỉ dạy, soi sáng, làm cho hoan hỷ . Sau khi bằng nhiều cách thuyết pháp, khai mở, chỉ dạy, soi sáng, làm cho hoan hỷ, Ngài khiến họ lui về, bảo rằng:
“Tỳ-kheo-ni, thời gian thích hợp, nên đi!”
Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề nghe những điều Phật dạy, vui vẻ làm lễ mà lui.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã về rồi, mới bảo các Tỳ-kheo:
“Ta nay tuổi đã già yếu, không còn có thể vì các Tỳ-kheo-ni thuyết pháp được. Tỳ-kheo Tăng các người, từ nay các Thượng tọa tôn đức giáo thọ các Tỳ-kheo-ni.”
Các Tỳ-kheo vâng lời Đức Thế Tôn, tuần tự theo thứ lớp giáo thọ các Tỳ-kheo-ni. Theo thứ tự, đến phiên Nan-đà.
Bấy giờ, theo thứ tự, Nan-đà nên đi nhưng không muốn đi giáo thọ.
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni trước sau lần lượt đến chỗ Đức Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, cho đến… xin được nghe pháp. Nghe xong họ vui vẻ, đảnh lễ rồi ra về.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã về rồi, liền hỏi Tôn giả A-nan:
“Hôm nay đến phiên ai giáo thọ các Tỳ-kheo-ni?”
Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, các Thượng tọa đã lần lượt giáo thọ Tỳ-kheo-ni rồi, nay tới phiên Nan-đà, nhưng Nan-đà không muốn giáo thọ.”
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Nan-đà:
“Ngươi hãy giáo thọ các Tỳ-kheo-ni, vì các Tỳ-kheo-ni mà nói pháp. Vì sao? Vì Ta đã đích thân dạy dỗ các Tỳ-kheo-ni, nên ngươi cũng phải như vậy. Ta đã vì các Tỳ-kheo-ni mà nói pháp, thì ngươi cũng nên như vậy.”
Bấy giờ, Nan-đà im lặng vâng lời.
Sáng sớm hôm sau, Nan-đà đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong, trở về tinh xá, thu cất y bát, rửa chân xong vào thất tọa thiền. Rồi tỉnh giác thiền tịnh, Nan-đà đắp y Tăng-già-lê và dẫn theo một Tỳ-kheo đi đến vườn vua. Các Tỳ-kheo-ni từ xa trông thấy Tôn giả Nan-đà đến, vội vàng trải chỗ ngồi và mời ngồi. Tôn giả Nan-đà an tọa xong, các Tỳ-kheo-ni cúi đầu đảnh lễ, rồi ngồi lui qua một bên. Tôn giả Nan-đà nói với các Tỳ-kheo-ni:
“Này các cô! Các cô có điều gì xin hỏi tôi, tôi sẽ vì các cô mà nói pháp. Các cô nếu hiểu rồi, thì nói là đã hiểu; nếu chưa hiểu thì nên nói là chưa hiểu. Đối với những nghĩa lý mà tôi đã nói ra, nếu đã hiểu thì hãy khéo thực hành, nếu không hiểu thì phải hỏi lại, tôi sẽ sẵn sàng nói lại.”
Các Tỳ-kheo-ni bạch Tôn giả Nan-đà:
“Ngày nay chúng con nghe Tôn giả dạy, cho phép chúng con hỏi, bảo chúng con rằng: ‘Các cô nếu hiểu rồi, thì nói là đã hiểu; nếu chưa hiểu, thì nên nói là chưa hiểu. Đối với những nghĩa lý mà tôi đã nói ra, nếu đã hiểu thì hãy khéo thực hành, nếu không hiểu thì phải hỏi lại.’ Chúng con nghe được điều này, lòng rất vui mừng. Bây giờ, chúng con xin hỏi về những nghĩa lý chưa được hiểu.”
Lúc đó Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Thế nào các cô, khi quán sát về nội nhập xứ của mắt có thấy là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Hỏi tiếp:
“Khi quán sát về nội nhập xứ của tai mũi, lưỡi, thân, ý có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Bạch Tôn giả Nan-đà, vì đối với pháp này chúng con đã từng thấy biết như thật. Đối với sáu nội nhập xứ quán sát là vô ngã, chúng con từng hiểu ý như vầy: sáu nội nhập xứ là vô ngã.”
Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Lành thay! Lành thay! Các cô nên hiểu như vậy. Sáu nội nhập xứ nên quán sát là vô ngã.
“Này các Tỳ-kheo-ni, ngoại nhập xứ của sắc có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Hỏi tiếp:
“Ngoại nhập xứ của thanh, hương, vị, xúc, pháp, có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau chăng?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì đối với sáu ngoại nhập xứ này, chúng con đã từng quán sát như thật là vô ngã. Chúng con thường hiểu ý này: Sáu ngoại nhập xứ như thật là vô ngã.”
Tôn giả Nan-đà khen ngợi các Tỳ-kheo-ni:
“Tốt lắm! Các cô đối với nghĩa này nên quán sát như vầy: ‘Sáu ngoại nhập xứ là vô ngã. Nếu duyên mắt và sắc sanh ra nhãn thức, vậy thì nhãn thức này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?’”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Hỏi tiếp:
“Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý,… pháp làm duyên sanh ra ý thức, vậy thì ý thức này có phải là ngã, là khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì đối với sáu thức thân này chúng con đã từng quán sát như thật là vô ngã. Chúng con cũng thường hiểu ý này: Sáu thức thân như thật là vô ngã.”
Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Lành thay! Lành thay! Đối với nghĩa này các cô nên quán sát như vầy: ‘Sáu thức thân như thật là vô ngã; duyên mắt và sắc sanh nhãn thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, vậy thì xúc này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?’”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Hỏi tiếp:
“Tai, mũi, lưỡi, thân, ý,… pháp làm duyên sanh ý thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, vậy thì xúc này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì đối với sáu xúc này chúng con đã từng quán sát như thật là vô ngã. Chúng con cũng thường hiểu ý như vầy: Sáu xúc như thật là vô ngã.”
Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Lành thay! Đối với nghĩa này, các cô nên quán sát như vầy: ‘Sáu xúc thân như thật là vô ngã. Duyên mắt và sắc sanh nhãn thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, xúc duyên thọ, vậy thì thọ này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?’”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Hỏi tiếp:
“Tai, mũi, lưỡi, thân, ý,… pháp làm duyên sanh ra ý thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, xúc duyên thọ, vậy thì thọ này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì đối với sáu thọ thân này chúng con đã từng quán sát như thật là vô ngã. Chúng con cũng thường hiểu ý này: Sáu thọ thân như thật là vô ngã.”
Tôn giả Nan-đà lại bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Lành thay! Đối với nghĩa này, các cô nên quán sát như vầy: ‘Sáu thọ thân này như thật là vô ngã. Duyên mắt và sắc sanh ra nhãn thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, xúc duyên tưởng, vậy thì tưởng này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?’”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Hỏi tiếp:
“Tai, mũi, lưỡi, thân, ý,… pháp làm duyên sanh ra ý thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, xúc duyên tưởng, vậy thì tưởng này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì đối với sáu tưởng thân này, chúng con đã từng quán sát như thật là vô ngã. Chúng con cũng thường hiểu ý này: Sáu tưởng thân như thật là vô ngã.”
Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Lành thay! Tỳ-kheo-ni, đối với nghĩa này, các cô nên quán sát như vầy: ‘Sáu tưởng thân này như thật là vô ngã. Duyên mắt và sắc sanh ra nhãn thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, xúc duyên tư, vậy thì tư này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?’”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Hỏi tiếp:
“Tai, mũi, lưỡi, thân, ý,… pháp làm duyên sanh ra ý thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, xúc duyên tư, vậy thì tư này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì đối với sáu tư thân này, chúng con đã từng quán sát như thật là vô ngã. Chúng con thường hiểu ý này: Sáu tư thân này như thật là vô ngã.”
Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Lành thay! Tỳ-kheo-ni, đối với nghĩa này, các cô nên quán sát như vầy: ‘Sáu tư thân này như thật là vô ngã. Duyên mắt và sắc sanh ra nhãn thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, xúc duyên ái, vậy thì ái này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?’”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Hỏi tiếp:
“Tai, mũi, lưỡi, thân, ý,… pháp làm duyên sanh ra ý thức, ba sự hòa hợp sanh ra xúc, xúc duyên ái, vậy thì ái này có phải là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì đối với sáu ái thân này, chúng con đã từng quán sát như thật là vô ngã. Chúng con thường hiểu ý này: Sáu ái thân này như thật là vô ngã.”
Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Đối với nghĩa này các cô nên quán sát như vầy: ‘Sáu ái thân này như thật là vô ngã.’
“Này các Tỳ-kheo-ni, ví như nhờ vào có dầu và nhờ vào tim đèn nên đèn được cháy sáng. Dầu này là vô thường, tim đèn là vô thường, lửa là vô thường, cây đèn cũng là vô thường. Nếu có người bảo rằng không dầu, không tim, không lửa, không đèn mà có ánh sáng thường trụ mãi mãi, không biến đổi, thì lời nói này có đúng không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không.”
Tôn giả Nan-đà nói:
“Vì sao? Vì nhờ vào có dầu, tim, cây đèn, nên đèn cháy sáng. Dầu, tim và cây đèn này đều là vô thường. Nếu không dầu, không tim, không đèn thì ánh sáng của cây đèn cũng theo đó mà diệt mất, tịch tĩnh, thanh lương, chân thật. Như vậy, này các cô, sáu nội nhập xứ này là vô thường. Nếu có người bảo rằng ‘Hỷ lạc do nhân duyên sáu nội nhập xứ này mà sanh; nó thường hằng, thường trụ, không biến đổi, an ổn’, thì lời nói này có đúng không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì chúng con đã từng quán sát như thật rằng vì những pháp kia làm duyên sanh ra những pháp này; nếu những pháp làm duyên kia diệt, thì các pháp được sanh ra này cũng tùy theo đó mà diệt mất, tịch tĩnh, thanh lương, chân thật.”
Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Lành thay! Đối với nghĩa này, các cô nên quán sát như vầy: Do những pháp kia làm duyên sanh ra những pháp này; những pháp làm duyên kia nếu diệt đi, thì các pháp được sanh ra này cũng tùy theo đó mà diệt mất, tịch tĩnh, thanh lương, chân thật.”
“Này các Tỳ-kheo-ni, thí như cây đại thọ có gốc, cành, nhánh, lá. Gốc chúng cũng là vô thường, nên cành, nhánh, lá cũng đều là vô thường. Nếu có người bảo rằng không có cành, nhánh, lá của cây này, mà chỉ có cái bóng của nó là thường trụ mãi mãi, không biến đổi, thì lời nói này có đúng không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì như gốc, cành, nhánh, lá cây lớn này; gốc chúng cũng là vô thường, nên cành, nhánh, lá cũng là vô thường. Không gốc, không cành, không nhánh, không lá, thì cái bóng nương vào nơi cây đó, tất cả cũng đều không.”
Hỏi tiếp:
“Này các cô, duyên vào ngoại lục nhập xứ vô thường. Nếu bảo rằng ‘hỷ lạc do nhân duyên sáu ngoại nhập xứ mà sanh là thường trụ mãi mãi, không biến đổi và an ổn,’ thì lời nói này có đúng không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả, không. Vì sao? Vì đối với nghĩa này chúng con đã quán sát như thật, là do những pháp kia làm duyên sanh ra những pháp này; nếu những pháp làm duyên kia diệt, thì các pháp được sanh ra này cũng tùy theo đó mà diệt mất, vắng lặng, mát mẻ, chân thật.”
Tôn giả Nan-đà bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Lành thay! Các Tỳ-kheo-ni, đối với nghĩa này nên quán sát như thật, là do những pháp kia làm duyên sanh ra những pháp này; nếu những pháp làm duyên kia diệt, thì các pháp được sanh ra này cũng tùy theo đó mà diệt mất, vắng lặng, mát mẻ, chân thật.
“Các cô hãy nghe tôi nói thí dụ, người trí nhờ thí dụ này mà hiểu rõ. Như người đồ tể mổ trâu một cách thiện nghệ, hay người học trò của ông ta, tay cầm dao bén để lột da con trâu, bằng cách lòn lách vào giữa da và thịt mà không phạm vào phần thịt bên trong, cũng không rách phần da ở bên ngoài, kể cả viêïc mổ lột chân cẳng gân cốt con trâu, sau đó dùng tấm da ấy phủ lên nó trở lại. Nếu có người bảo rằng: ‘Da thịt của con trâu này hoàn toàn không bị cắt rời.’ Vậy, lời nói này có đúng không?”
Các Tỳ-kheo-ni đáp:
“Bạch Tôn giả Nan-đà, không. Vì sao? Vì người đồ tể thiện nghệ này và học trò của ông ta tay cầm dao bén, lòn lách vào giữa da và thịt, để lột da mà không chạm đến da thịt của nó, kể cả chân cẳng gân xương, tất cả đều đứt hết, sau đó trùm lại con trâu ấy. Nhưng da thịt đã bị cắt rời, không phải là không bị cắt rời.”
“Này các cô, tôi sẽ giải thích về ý nghĩa của thí dụ này: Con trâu dụ cho sắc thô của thân người, như được nói chi tiết trong kinh Giỏ rắn độc. Thịt là chỉ cho nội lục nhập xứ. Da ngoài chỉ cho ngoại lục nhập xứ. Người đồ tể chỉ cho bậc hữu học thấy dấu. Gân xương ở khoảng giữa da thịt chỉ cho sự câu hữu của hai món tham-hỷ. Dao bén chỉ cho trí tuệ sắc bén. Đa văn Thánh đệ tử dùng dao bén trí tuệ chặt đứt tất cả những kết sử, triền phược, tùy miên, phiền não, tùy phiền não. Cho nên, các cô nên học như vậy. Đối với những pháp đáng yêu thích, tâm không nên đắm trước, vì đểø đoạn trừ tham vậy. Đối với những pháp đáng sân hận, cũng không nên sanh tâm sân hận, vì để đoạn trừ sân vậy. Đối với những pháp đáng si, không nên sanh tâm si, vì để đoạn trừ si vậy. Đối với năm thọ ấm phải quán sát sanh diệt. Đối với sáu xúc nhập xứ phải quán sát về sự tập khởi và sự diệt tận. Đối với bốn Niệm xứ nên khéo buộc tâm. An trú nơi bảy giác phần; khi tu bảy giác phần rồi, thì đối với dục lậu kia tâm không duyên đắm, tâm giải thoát. Đối với hữu lậu, tâm không duyên đắm, tâm giải thoát. Đối với vô minh lậu, tâm không duyên đắm, tâm được giải thoát. Các cô nên học như vậy.”
Bấy giờ, Tôn giả Nan-đà, vì các Tỳ-kheo-ni thuyết pháp làm cho hoan hỷ. Sau khi bằng nhiều cách thuyết pháp, khai mở, chỉ dạy, soi sáng, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Lúc ấy, Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng đi với năm trăm Tỳ-kheo-ni quyến thuộc lần lượt đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ Phật, lui đứng qua một bên, … cho đến đảnh lễ Phật rồi trở về.
Bấy giờ Thế Tôn biết Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã ra về, Ngài mới bảo các Tỳ-kheo:
“Thí như trăng sáng đêm mười bốn, có nhiều người ngắm trăng; trăng đã tròn hay chưa tròn? Nên biết vầng trăng ấy chưa tròn lắm. Cũng vậy, thiện nam tử Nan-đà vì năm trăm Tỳ-kheo-ni chân chánh giáo thọ, chân chánh thuyết, đối với sự giải thoát của họ, vẫn chưa phải là rốt ráo. Nhưng những Tỳ-kheo-ni này khi mạng chung không một kết sử nào là không đoạn, để có thể khiến cho họ sanh trở lại đời này.”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo Nan-đà:
“Hãy vì các Tỳ-kheo-ni mà nói pháp.”
Lúc ấy, Tôn giả Nan-đà im lặng vâng lời. Sáng hôm sau, Tôn giả mang bát vào thành khất thực. Thọ trai xong, Tôn giả đi tới vườn vua, rồi ngồi xuống chỗ ngồi vì các Tỳ-kheo-ni nói pháp, làm cho hoan hỷ. Sau khi bằng nhiều cách thuyết pháp, khai mở, chỉ dạy, soi sáng, làm cho hoan hỷ, rời khỏi chỗ ngồi, đứng dậy ra về.
Một hôm, Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề, cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni trước sau lần lượt đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật,… cho đến đảnh lễ ra về.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã đi rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Thí như trăng sáng đêm rằm, không còn ai nghi ngờ về vầng trăng tròn hay không tròn, nhưng vầng trăng kia hoàn toàn tròn đầy. Cũng vậy, thiện gia nam tử Nan-đà, đã vì các Tỳ-kheo-ni chân chánh giáo thọ như vậy, cứu cánh giải thoát. Nếu lúc mạng chung, dù không có người nào nói họ sẽ đi về đâu, nhưng họ cũng có thể tự biết đây là biên tế của khổ.”
Bấy giờ, Thế Tôn thọ ký cho năm trăm Tỳ-kheo-ni chứng quả thứ nhất.
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給
T 0073c10
孤獨園。
爾時,有如是像類大聲聞尼眾住
T 0073c11
舍衛國王園中。比丘尼眾其名曰:純陀比丘
T 0073c12
尼、民陀比丘尼、摩羅婆比丘尼、波羅遮羅比
T 0073c13
丘尼、阿羅毘迦比丘尼、差摩比丘尼、難摩
T 0073c14
比丘尼、
吉離
舍瞿曇彌比丘尼、優鉢羅色比
T 0073c15
丘尼、摩訶波闍波提比丘尼,此等及餘比
T 0073c16
丘尼住王園中。
爾時,摩訶波闍波提比丘尼
T 0073c17
與五百比丘尼前後圍遶,來詣佛所,稽首
T 0073c18
禮足,退坐一面。爾時,世尊為摩訶波闍波
T 0073c19
提比丘尼說法,示、教、照、喜;種種說法,示、教、照、
T 0073c20
喜已,發遣令還。言:「比丘尼!應時宜去。」
摩訶
T 0073c21
波闍波提比丘尼聞佛所說,歡喜隨喜,作
T 0073c22
禮而去。
T 0073c23
爾時,世尊知摩訶波闍波提比丘尼去已,
T 0073c24
告諸比丘:「我年已老邁,不復堪能為諸
T 0073c25
比丘尼說法,汝等諸比丘僧,今日諸宿德上
T 0073c26
座,當教授諸比丘尼。」
時,諸比丘受世尊
T 0073c27
教,次第教授比丘尼,次至難陀。爾時,難
T 0073c28
陀次第應至而不欲教授。
爾時,摩訶波闍波
T 0073c29
提比丘尼與五百比丘尼前後圍遶,詣世
T 0074a01
尊所,稽首禮足,乃至聞法,歡喜隨喜,作禮
T 0074a02
而去。
爾時,世尊知摩訶波闍波提比丘尼
T 0074a03
去已,問尊者阿難:「誰應次至教授諸比丘
T 0074a04
尼?」
尊者阿難白佛言:「世尊!諸上座次第教
T 0074a05
授比丘尼,次至難陀,而難陀不欲教授。」
爾
T 0074a06
時,世尊告難陀言:「汝當教授諸比丘尼,
T 0074a07
為諸比丘尼說法。所以者何?我自教授比
T 0074a08
丘尼,汝亦應爾;我為比丘尼說法,汝亦應
T 0074a09
爾。」
爾時,難陀默然受教。
時,難陀夜過晨朝,
T 0074a10
著衣持鉢,入舍衛城乞食。食已,還精舍,
T 0074a11
舉衣鉢,洗足已,入室坐禪。從禪覺,著
T 0074a12
僧伽梨將一比丘往詣王園,諸比丘尼
T 0074a13
遙見尊者難陀來,疾敷床座,請令就坐,
T 0074a14
尊者難陀坐已,諸比丘尼稽首敬禮,退坐一
T 0074a15
面。尊者難陀語諸比丘尼:「諸姊妹!汝等當
T 0074a16
問我,今當為汝等說法。汝等解者,當說
T 0074a17
言解;若不解者,當說不解。於我所說義,
T 0074a18
若當解者,當善受持;若不解者,汝當更
T 0074a19
問,當為汝說。」
諸比丘尼白尊者難陀言:「我
T 0074a20
等今日聞尊者教,令我等問,告我等言:
T 0074a21
『汝等若未解者,今悉當問;已解者當言解,
T 0074a22
未解者當言不解。於我所說義,已解者當
T 0074a23
奉持,未解者當復更問。』我等聞此,心大歡
T 0074a24
喜,未解義者,今日當問。」
爾時,尊者難陀告
T 0074a25
諸比丘尼:「云何?姊妹!於眼內入處觀察,是
T 0074a26
我、異我、相在不?」
答言:「不也,尊者難陀!」
「耳、鼻、舌、
T 0074a27
身、意內入處觀察,是我、異我、相在不?」
答言:「不
T 0074a28
也,尊者難陀!所以者何?尊者難陀!我等已曾
T 0074a29
於此法如實知見,於六內入處觀察無我,
T 0074b01
我等已曾作如是意解:『六內入處無我。』」
尊
T 0074b02
者難陀告諸比丘尼:「善哉!善哉!姊妹!應如
T 0074b03
是解:『六內入處觀察無我。』諸比丘尼!色
T 0074b04
外入處是我、異我、相在不?」
答言:「不也,尊者
T 0074b05
難陀!」
「聲、香、味、觸、法外入處,是我、異我、相在不?」
T 0074b06
答言:「不也,尊者難陀!所以者何?尊者難陀!
T 0074b07
我已曾於六外入處如實觀察無我,我常
T 0074b08
作此意解,六外入處如實無我。」
尊者難陀
T 0074b09
讚諸比丘尼:「善哉!善哉!汝於此義應如是
T 0074b10
觀:『六外入處無我。』若緣眼、色,生眼識,彼眼
T 0074b11
識是我、異我、相在不?」
答言:「不也,尊者難
T 0074b12
陀!」
「耳、鼻、舌、身、意法緣生意識,彼意識是我、異
T 0074b13
我、相在不?」
答言:「不也,尊者難陀!所以者
T 0074b14
何?我已曾於此六識身如實觀察無我,我
T 0074b15
亦常作是意解,六識身如實無我。」
T 0074b16
尊者難陀告諸比丘尼:「善哉!善哉!姊妹!汝
T 0074b17
於此義應如是觀察:『六識身如實無我。』緣
T 0074b18
眼、色,生眼識,三事和合生觸,彼觸是我、異
T 0074b19
我、相在不?」
答言:「不也,尊者難陀!」
「耳、鼻、舌、身、
T 0074b20
意法緣生意識,三事和合生觸,彼觸是我、異
T 0074b21
我、相在不?」
答言:「不也,尊者難陀!所以者何?
T 0074b22
我已曾於此六觸觀察如實無我,我亦常
T 0074b23
如是意解,六觸如實無我。」
尊者難陀告諸比
T 0074b24
丘尼:「善哉!善哉!當如實觀察:『於六觸身如
T 0074b25
實無我。』緣眼、色,生眼觸,三事和合觸,觸緣
T 0074b26
受,彼觸緣受是我、異我、相在不?」
答言:「不
T 0074b27
也,尊者難陀!」
「耳、鼻、舌、身、意法緣生意識,三事
T 0074b28
和合觸,觸緣受,彼受是我、異我、相在不?」
答
T 0074b29
言:「不也,尊者難陀!所以者何?我等曾於此
T 0074c01
六受身如實觀察無我,我亦常作此意解,
T 0074c02
六受身如實無我。」
尊者難陀告諸比丘尼:「善
T 0074c03
哉!善哉!汝於此義應如是觀察:『此六受
T 0074c04
身如實無我。』緣眼、色,生眼識,三事和合生
T 0074c05
觸,觸緣想,彼想是我、異我、相在不?」
答言:「不
T 0074c06
也,尊者難陀!」
「耳、鼻、舌、身、意法緣生意識,三
T 0074c07
事和合生觸,觸緣想,彼想是我、異我、相在
T 0074c08
不?」
答言:「不也,尊者難陀!所以者何?我曾於
T 0074c09
此六想身如實觀察無我,我亦常作此意
T 0074c10
解,六想身如實無我。」
尊者難陀告諸比丘尼:
T 0074c11
「善哉!善哉!比丘尼!汝於此義應如是觀察:
T 0074c12
『此六想身如實無我。』緣眼、色,生眼識,三事
T 0074c13
和合觸,觸緣思,彼思是我、異我、相在不?」
答
T 0074c14
言:「不也,尊者難陀!」
「耳、鼻、舌、身、意法緣生意
T 0074c15
識,三事和合觸,觸緣思,彼思是我、異我、相在
T 0074c16
不?」
答言:「不也,尊者難陀!所以者何?我曾於
T 0074c17
此六思身如實觀察無我,我常作此意解:
T 0074c18
『此六思身如實無我。』」
尊者難陀告諸比丘
T 0074c19
尼:「善哉!善哉!比丘尼!汝於此義應如是
T 0074c20
觀察:『此六思身如實無我。』緣眼、色,生眼
T 0074c21
識,三事和合觸,觸緣愛,彼愛是我、異我、相在
T 0074c22
不?」
答言:「不也,尊者難陀!」
「耳、鼻、舌、身、意法
T 0074c23
緣生意識,三事和合觸,觸緣愛,彼愛是我、
T 0074c24
異我、相在不?」
答言:「不也,尊者難陀!所以者
T 0074c25
何?我曾於此六愛身如實觀察無我,我常
T 0074c26
作此意解:『此六愛身如實無我。』」
尊者難陀
T 0074c27
告諸比丘尼:「汝於此義應如是觀察:『此
T 0074c28
六愛身如實無我。』姊妹!譬因膏油、因炷,燈
T 0074c29
明得然;彼油無常,炷亦無常,火亦無常,器
T 0075a01
亦無常。若有作是言:『無油、無炷、無火、無器,
T 0075a02
而所依起燈光,常、恒、住、不變易。』作是說者,
T 0075a03
為等說不?」
答言:「不也,尊者難陀!所以者
T 0075a04
何?緣油、炷、器然燈,彼油、炷、器悉無常;若無
T 0075a05
油、無炷、無器,所依燈光亦復隨滅、息、沒、清涼、
T 0075a06
真實。」
「如是,姊妹!此六內入處無常。若有說
T 0075a07
言:『此六內入處因緣生喜樂,常、恒、住、不變易、
T 0075a08
安隱。』是為等說不?」
答言:「不也,尊者難陀!
T 0075a09
所以者何?我等曾如實觀察,彼彼法緣生彼
T 0075a10
彼法;彼彼緣法滅,彼彼生法亦復隨滅、息、
T 0075a11
沒、清涼、真實。」
尊者難陀告諸比丘尼:「善哉!善
T 0075a12
哉!比丘尼!汝於此義應如是觀察:『彼彼
T 0075a13
法緣生彼彼法,彼彼法緣滅,彼彼生法
T 0075a14
亦復隨滅、息、沒、寂靜、清涼、真實。』諸姊妹!譬
T 0075a15
如大樹根、莖、枝、葉,根亦無常,莖、枝、葉皆悉
T 0075a16
無常。若有說言:『無彼樹根、莖、枝、葉,唯有
T 0075a17
其影常、恒、住、不變易、安隱者,為等說不?』」
答
T 0075a18
言:「不也,尊者難陀!所以者何?如彼大樹
T 0075a19
根、莖、枝、葉,彼根亦無常,莖、枝、葉亦復無常,
T 0075a20
無根、無莖、無枝、無葉,所依樹影,一切悉無。」
「諸
T 0075a21
姊妹!若緣外六入處無常,若言外六入處
T 0075a22
因緣生喜樂,恒、住、不變易、安隱者,此為等
T 0075a23
說不?」
答言:「不也,尊者難陀!所以者何?我曾
T 0075a24
於此義如實觀察,彼彼法緣生彼彼法,彼
T 0075a25
彼法緣滅;彼彼生法亦復隨滅、息、沒、寂靜、
T 0075a26
清涼、真實。」
尊者難陀告諸比丘尼:「善哉!善
T 0075a27
哉!姊妹!汝於此義當如實觀察:『彼彼法
T 0075a28
緣生彼彼法,彼彼法緣滅,彼彼生法亦
T 0075a29
復隨滅、息、沒、寂滅、清涼、真實。』諸姊妹!聽我
T 0075b01
說譬,夫智者因譬得解。譬如善屠牛師、屠
T 0075b02
牛弟子手執利刀,解剝其牛,乘間而剝,不
T 0075b03
傷內肉、不傷外皮,解其枝節筋骨,然後
T 0075b04
還以皮覆其上。若有人言:『此牛皮肉全而
T 0075b05
不離。』為等說不?」
答言:「不也,尊者難陀!所
T 0075b06
以者何?彼善屠牛師、屠牛弟子手執利刀,乘
T 0075b07
間而剝,不傷皮肉,枝節筋骨悉皆斷截,
T 0075b08
還以皮覆上,皮肉已離,非不離也。」
「姊妹!
T 0075b09
我說所譬,今當說義。牛者譬人身麁色……」如
T 0075b10
篋毒蛇經廣說。
「肉者謂內六入處,外皮者謂
T 0075b11
外六入處,屠牛者謂學見跡,皮肉中間筋骨
T 0075b12
者謂貪喜俱,利刀者謂利智慧。多聞聖弟子
T 0075b13
以智慧利刀斷截一切結、縛、使、煩惱、上煩惱、
T 0075b14
纏。是故,諸姊妹!當如是學:『於所可樂法,心
T 0075b15
不應著,斷除貪故;所可瞋法,不應生瞋,
T 0075b16
斷除瞋故;所可癡法,不應生癡,斷除癡
T 0075b17
故。於五受陰,當觀生滅;於六觸入處,當
T 0075b18
觀集滅;於四念處,當善繫心。住七覺分,
T 0075b19
修七覺分已,於其欲漏,心不緣著,心得
T 0075b20
解脫;於其有漏,心不緣著,心得解脫;於
T 0075b21
無明漏,心不緣著,心得解脫。』諸姊妹!當如
T 0075b22
是學。」
爾時,尊者難陀為諸比丘尼說法,示、
T 0075b23
教、照、喜;示、教、照、喜已,從座起去。時,摩訶波
T 0075b24
闍波提比丘尼與五百比丘尼眷屬圍遶,
T 0075b25
往詣佛所,稽首禮足,退住一面,乃至為佛
T 0075b26
作禮而去。
爾時,世尊知摩訶波闍波提比
T 0075b27
丘尼去已,告諸比丘:「譬如明月十四日
T 0075b28
夜,多眾觀月,為是滿耶?為未滿耶?當
T 0075b29
知彼月未究竟滿。如是,善男子難陀為五
T 0075c01
百比丘尼正教授、正說法,於其解脫猶未
T 0075c02
究竟。然此等比丘尼命終之時,不見一結
T 0075c03
不斷,能使彼還生於此世。」
爾時,世尊復告
T 0075c04
難陀:「更為諸比丘尼說法。」
爾時,尊者難陀
T 0075c05
默然奉教,夜過晨朝,持鉢入城乞食,食已,
T 0075c06
乃至往詣王園,就座而坐,為諸比丘尼說
T 0075c07
法,示、教、照、喜;示、教、照、喜已,從座起去。摩訶波
T 0075c08
闍波提比丘尼復於異時與五百比丘尼
T 0075c09
前後圍遶,往詣佛所,稽首禮足,乃至作禮
T 0075c10
而去。
爾時,世尊知摩訶波闍波提比丘尼去
T 0075c11
已,告諸比丘:「譬如明月十五日夜,無有
T 0075c12
人疑月滿不滿者,然其彼月究竟圓滿。如
T 0075c13
是,善男子難陀為諸比丘尼說如是正教
T 0075c14
授,究竟解脫;若命終時,無有說彼道路
T 0075c15
所趣,此當知即是苦邊。」是為世尊為五百
T 0075c16
比丘尼受第一果記。
佛說此經已,諸比
T 0075c17
丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0075c18