Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

Kinh 352. sa-môn bà-la-môn (1) (SA352)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Nếu các Sa-môn, Bà-la-môn nào, ở nơi pháp mà không biết như thật về pháp; không biết như thật về sự tập khởi của pháp, về sự diệt tận của pháp, về con đường đưa đến sự diệt tận của pháp, thì người này chẳng phải là Sa-môn, chẳng được kể vào hàng Sa-môn, chẳng phải là Bà-la-môn, chẳng được kể vào hàng Bà-la-môn. Người này chẳng đúng với ý nghĩa Sa-môn hay Bà-la-môn, ngay trong đời này không tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’

“Thế nào là chẳng biết như thật về pháp? Thế nào là chẳng biết như thật về sự tập khởi của pháp? Thế nào là chẳng biết như thật về sự diệt tận của pháp? Thế nào là chẳng biết như thật về con đường đưa đến sự diệt tận của pháp? Là đối với pháp già chết mà không biết như thật; và không biết như thật về sự tập khởi đối với già chết, về sự diệt tận của già chết, về con đường đưa đến sự diệt tận của già chết. Cũng vậy, không biết như thật đối với sanh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, lục nhập xứ,… không biết như thật về sự tập khởi của lục nhập xứ, về sự diệt tận của lục nhập xứ, về con đường đưa đến sự diệt tận của lục nhập xứ. Như vậy là không biết như thật về các pháp; không biết như thật về sự tập khởi của pháp, về sự diệt tận của pháp, về con đường đưa đến sự diệt tận của pháp.

“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào mà biết như thật về pháp; biết như thật về sự tập khởi của pháp, về sự diệt tận của pháp, về con đường đưa đến sự diệt tận của pháp, thì Sa-môn, Bà-la-môn này được kể vào hàng Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh, đúng với nghĩa Sa-môn, Bà-la-môn, ngay trong đời này mà tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’

“Biết như thật những pháp gì? Biết như thật những pháp gì, sự tập khởi của pháp gì, sự diệt tận của pháp gì, con đường đưa đến sự diệt tận của pháp gì? Đó là pháp già chết nên biết như thật. Nên biết như thật về sự tập khởi của già chết, về sự diệt tận của già chết, về con đường đưa đến sự diệt tận của già chết. Cũng vậy, đối với sanh, hữu, ái, thọ, xúc, lục nhập xứ nên biết như thật. Nên biết như thật về sự tập khởi của lục nhập xứ, về sự diệt tận của lục nhập xứ, về con đường đưa đến sự diệt tận của lục nhập xứ. Đó là biết như thật về các pháp; biết như thật về sự tập khởi của pháp, về sự diệt tận của pháp, về con đường đưa đến sự diệt tận của pháp.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

如是我聞:

一時,佛住舍衛國祇樹給

T 0099a07

孤獨園。

爾時,世尊告諸比丘:「若諸沙門、婆

T 0099a08

羅門於法不如實知,法集、法滅、法滅道跡

T 0099a09

不如實知,彼非沙門、沙門數,非婆羅門、婆

T 0099a10

羅門數,彼亦非沙門義、婆羅門義,見法自知

T 0099a11

作證:『我生已盡,梵行已立,所作已作,自知

T 0099a12

不受後有。』

「云何法不如實知?云何法集

T 0099a13

不如實知?云何法滅不如實知?云何法滅

T 0099a14

道跡不如實知?謂於老死法不如實知,老

T 0099a15

死集、老死滅、老死滅道跡不如實知。如是生、

T 0099a16

有、取、愛、受、觸、六入處不如實知,六入處集、六

T 0099a17

入處滅、六入處滅道跡不如實知。如是諸

T 0099a18

法不如實知,法集、法滅、法滅道跡不如實

T 0099a19

知。

「若諸沙門、婆羅門於法如實知,法集、法

T 0099a20

滅、法滅道跡如實知,當知是沙門、婆羅門,沙

T 0099a21

門之沙門數、婆羅門之婆羅門數。彼以沙門

T 0099a22

義、婆羅門義,見法自知作證:『我生已盡,梵

T 0099a23

行已立,所作已作,自知不受後有。』

「何等法

T 0099a24

如實知?何等法集、法滅、法滅道跡如實知?

T 0099a25

謂老死法如實知,老死集、老死滅、老死滅道

T 0099a26

跡如實知。如是生、有、取、愛、受、觸、六入處如實

T 0099a27

知,六入處集、六入處滅、六入處滅道跡如實

T 0099a28

知。如是諸法如實知,法集、法滅、法滅道跡如

T 0099a29

實知。」

佛說是經已,諸比丘聞佛所說,歡喜

T 0099b01

奉行。

T 0099b02

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc