Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn lực; đó là Giác lực, Tinh tấn lực, Vô tội lực, Nhiếp lực. Giác lực là thế nào? Là chỉ cho tuệ, đại tuệ, thâm tuệ, nan thắng tuệ; đó gọi là giác lực. Tinh tấn lực là thế nào? Là xa lìa đối với pháp bất thiện, số bất thiện; pháp đen, số đen; pháp có tội, số có tội, pháp không nên thân cận, số không nên thân cận. Sau khi tránh xa các pháp này rồi, nếu đối với các pháp thiện, số thiện; pháp trắng, số trắng, pháp vô tội, số vô tội, pháp nên thân cận, số nên thân cận, những pháp như vậy mà tu tập, tăng thượng tinh cần, nỗ lực phương tiện, kham năng, chánh niệm, chánh trí; đó gọi là Tinh tấn lực. Còn vô tội lực, nhiếp lực như kinh trên đã nói.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給孤
T 0185b19
獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「有四力——覺力、精
T 0185b20
進力、無罪力、攝力。何等為覺力?謂慧、大慧、
T 0185b21
深慧、難勝慧,是名覺力。何等為精進力?若
T 0185b22
於不善法不善數、黑黑數、有罪有罪數、不
T 0185b23
應親近不應親近數,離此諸法已,若諸
T 0185b24
餘善善數、白白數、無罪無罪數、應親近
T 0185b25
應親近數,如此等修習,增上精勤、欲、方便、堪
T 0185b26
能,正念正知而學,是名精進力。無罪力、攝
T 0185b27
力如上修多羅說。」
佛說此經已,諸比丘聞
T 0185b28
佛所說,歡喜奉行。
T 0185b29