Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong rừng An-xà-na tại nước Sa-chỉ. Bấy giờ Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Đối với pháp, Ta có thể lược nói và nói rộng, nhưng người hiểu thì khó.”
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
“Xin Thế Tôn nói pháp, hoặc lược nói, hoặc rộng nói. Thật sự có người hiểu pháp.”
Phật bảo Xá-lợi-phất:
“Nếu có chúng sanh nào ở nơi thức thân của mình và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài mà không có ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, cho đến ngay trong đời hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu và an trụ với tâm giải thoát, tuệ giải thoát; vị ấy do ở nơi thức thân này và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài sẽ không có ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, cho nên ngay trong đời hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu và an trụ với tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
“Này Xá-lợi-phất, Tỳ-kheo kia, ở nơi thức thân này và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài, mà không có kiến chấp ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc và ngay trong hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu và an trụ với tâm giải thoát, tuệ giải thoát; Tỳ-kheo ấy do ở nơi thức thân này và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài mà không có kiến chấp ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, nên ngay trong đời hiện tại tự biết tác chứng, thanh tựu an trụ với tâm được giải thoát, tuệ giải thoát.
“Này Xá-lợi-phất, nếu lại có Tỳ-kheo ở nơi thức thân này và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài, mà không có kiến chấp ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, cùng hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu an trụ với tâm giải thoát, tuệ giải thoát; Tỳ-kheo ấy, do ở nơi thức thân này và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài không có kiến chấp ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, cho nên hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu an trụ với tâm được giải thoát, tuệ giải thoát.
“Xá-lợi-phất, đó gọi là Tỳ-kheo đoạn ái phược, kết sử, hiện quán ngã mạn, rốt ráo biên tế của khổ.
“Xá-lợi-phất, đối với điều này Ta có nói thêm khi giải đáp câu hỏi của Ba-la-diên Phú-lân-ni-ca.
Thế gian, xét sai biệt,
Bất động mọi hoàn cảnh;
Ai tịch tĩnh, sạch bụi,
Bứt rễ, không hy vọng;
Vượt qua biển ba hữu,
Không còn lo già chết.
Phật nói kinh này xong, Tôn giả Xá-lợi-phất nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ Tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy làm lễ mà lui.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住娑枳國安闍那
T 0255b16
林中。
爾時,世尊告尊者舍利弗:「我能於法略
T 0255b17
說、廣說,但知者難。」
尊者舍利弗白佛言:「唯
T 0255b18
願世尊略說、廣說、法說,於法實有解知者。」
T 0255b19
佛告舍利弗:「若有眾生於自識身及外境
T 0255b20
界一切相,無我、我所、我慢繫著使,乃至心
T 0255b21
解脫、慧解脫,現法自知作證具足住者;於
T 0255b22
此識身及外境界一切相,無有我、我所、我慢
T 0255b23
使繫著,故我心解脫、慧解脫,現法自知作證
T 0255b24
具足住。
T 0255b25
「舍利弗!彼比丘於此識身及外境界一切相,
T 0255b26
無有我、我所見、我慢繫著使,及心解脫、慧
T 0255b27
解脫,現法自知作證具足住;於此識身及外
T 0255b28
境界一切相,無有我、我所見、我慢繫著使,
T 0255b29
彼心解脫、慧解脫,現法自知作證具足住。
「舍
T 0255c01
利弗!若復比丘於此識身及外境界一切相,
T 0255c02
無有我、我所見、我慢繫著使,彼心解脫、慧
T 0255c03
解脫,現法自知作證具足住。
「舍利弗!若復
T 0255c04
比丘於此識身及外境界一切相,無我、我所
T 0255c05
見、我慢繫著使,彼心解脫、慧解脫,現法自
T 0255c06
知作證具足住;於此識身及外境界一切相,
T 0255c07
無我、我所見、我慢繫著使,彼心解脫、慧解
T 0255c08
脫,現法自知作證具足住。舍利弗!是名比丘
T 0255c09
斷愛縛結,慢無間等,究竟苦邊。
「舍利弗!我
T 0255c10
於此有餘說,答波羅延富隣尼迦所問:
T 0255c11
「世間數差別, 安所遇不動,
T 0255c12
寂靜離諸塵, 拔根無悕望,
T 0255c13
已度三有海, 無復老死患。」
T 0255c14
佛說是經已,尊者舍利弗聞佛所說,歡喜
T 0255c15
隨喜,即從坐起,作禮而去。
T 0255c16