Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

Kinh 990. lộc trú (1) (SA990)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành Vương xá. Bấy giờ, sáng sớm, Tôn giả A-nan đắp y, ôm bát, đi đến thành Xá-vệ, lần lượt khất thực, đến nhà Ưu-bà-di Lộc Trụ. Ưu-bà-di Lộc Trụ từ xa trông thấy Tôn giả A-nan vội vàng sửa soạn chỗ ngồi và mời Tôn giả A-nan an tọa. Sau đó, Ưu-bà-di Lộc Trụ cúi đầu lễ dưới chân Tôn giả A-nan, rồi đứng lui qua một bên, bạch Tôn giả A-nan:

“Thưa Tôn giả, pháp của Thế Tôn cần được hiểu như thế nào? Cha của con là Phú-lan-na trước kia tu phạm hạnh, lìa dục, thanh tịnh, không đeo hương hoa, xa lìa những thứ phàm tục thô bỉ. Còn chú là Lê-sư-đạt-đa không tu phạm hạnh nhưng ông biết đủ. Cả hai người đều qua đời, mà Thế Tôn đều ký thuyết hai người sanh một nơi, cùng thọ sanh như nhau, đời sau đồng đắc Tư-đà-hàm, sanh về cõi trời Đâu-suất, một lần trở lại thế gian, cứu cánh biên tế của khổ.

“Tại sao, thưa A-nan, người tu phạm hạnh và người không tu phạm hạnh lại cùng sanh một nơi, cùng thọ sanh như nhau và đời sau của họ cũng giống nhau?”

A-nan đáp:

“Này cô, hãy thôi đi! Cô không thể biết được căn tánh sai biệt của chúng sanh thế gian. Như Lai tất biết rõ căn tính ưu, liệt của chúng sanh thế gian.”

Nói như vậy xong, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.

Tôn giả A-nan trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân, rồi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên, đem những gì Ưu-bà-di Lộc Trụ nói bạch hết lên Thế Tôn.

Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:

“Ưu-bà-di Lộc Trụ làm sao có thể biết được căn tính ưu, liệt của chúng sanh thế gian. A-nan, Như Lai tất biết rõ căn tánh ưu, liệt của chúng sanh thế gian. Này A-nan, hoặc có một người phạm giới. Người ấy không biết như thật đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Nhưng sự phạm giới mà người ấy khởi lên đã diệt không còn, đã chìm mất không còn, dục hết không còn. Lại có một người phạm giới, do biết như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sự phạm giới mà người ấy khởi lên đã diệt không còn, đã chìm mất không còn, dục hết không còn. Đối với những người này, so sánh mà nói rằng: ‘Người này cũng có pháp như vậy, người kia cũng có pháp như vậy, ở đây cả hai phải cùng sanh một chỗ, đồng thọ sanh như nhau và đời sau cũng như nhau.’ Người nào so sánh như vậy, sẽ khổ lâu dài, không nghĩa, không lợi ích.

“Này A-nan, người phạm giới kia, đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát mà không biết như thật, nhưng sự phạm giới mà người ấy khởi lên đã diệt không còn, đã chìm mất không còn, dục hết không còn. Nên biết người này thoái đọa, không phải thăng tiến. Ta nói người này thuộc hạng thoái đọa.

“A-nan, có kẻ phạm giới, do biết như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nên sự phạm giới mà người ấy khởi lên đã diệt không còn, đã chìm mất không còn, dục hết không còn; nên biết người này thăng tiến chứ không thoái đọa. Ta nói người này thuộc hạng thăng tiến. Nếu chẳng phải Như Lai thì ai có thể biết rõ sự gián cách giữa hai hạng người này?

“Cho nên, này A-nan, chớ nên so sánh người này với người kia mà thiên chấp người. Chớ so sánh người này với người kia gây bệnh người. Chớ so sánh người này với người kia thì tự chiêu lấy tai hại. Chỉ có Như Lai mới biết rõ người này với người kia mà thôi.

“Như hai hạng người phạm giới, hai hạng người trì giới cũng vậy. Người kia không biết như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nhưng sự trì giới mà người ấy khởi lên thì đã diệt, không còn.

“Hoặc người trạo cử tháo động, không biết như thật đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nhưng sự trạo cử của người ấy đã diệt không còn.

“Hoặc người kia sân hận, không biết như thật đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nhưng tâm sân hận của họ đã diệt không còn.

“Hoặc người khổ tham, không biết như thật đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nhưng sự khổ tham của họ đã diệt không còn.”

Ô uế và thanh tịnh, cũng được nói như trên

… cho đến

“Chỉ có Như Lai mới biết rõ người này với người kia mà thôi.”

“Này A-nan, Ưu-bà-di Lộc Trụ ngu si, trí kém, nên đối với việc thuyết pháp nhất hướng của Như Lai tâm sanh hồ nghi. Thế nào, A-nan, những gì Như Lai dạy có phải là hai hướng không?”

A-nan bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, không!”

Phật bảo A-nan:

“Lành thay! Lành thay! Như Lai nói pháp nếu là hai thì điều này không thể có. Này A-nan, nếu Phú-lan-na trì giới, Lê-sư-đạt-đa cũng là người trì giới, mà chỗ thọ sanh, là điều Phú-lan-na không thể biết được, rằng Lê-sư-đạt-đa sanh nơi nào, thọ sanh thế nào, đời sau thế nào? Nếu Lê-sư-đạt-đa thành tựu trí tuệ và Phú-lan-na cũng thành tựu trí tuệ này, thì Lê-sư-đạt-đa cũng không thể biết Phú-lan-na sẽ sanh nơi nào, thọ sanh thế nào, đời sau thế nào? A-nan, Phú-lan-na trì giới hơn, còn Lê-sư-đạt-đa trí tuệ hơn, nếu cả hai mạng chung, thì Ta nói hai người cùng sanh một nơi, cùng thọ sanh như nhau, đời sau cùng đắc Tư-đà-hàm, sanh lên cõi trời Đâu-suất, chỉ một lần sanh trở lại nơi này cứu cánh biên tế của khổ.

“Giữa hai người này nếu chẳng phải Như Lai, thì ai có thể biết được? Cho nên A-nan, chớ nên so sánh người này với người kia. Nếu so sánh người này với người kia thì tự sanh tổn giảm. Chỉ có Như Lai mới có thể biết rõ người.”

Phật nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

如是我聞:

一時,佛住舍衛國祇樹給

T 0257b27

孤獨園。

爾時,尊者阿難晨朝著衣持鉢,詣

T 0257b28

舍衛城,次第乞食,至鹿住優婆夷舍。

鹿住

T 0257b29

優婆夷遙見尊者阿難,疾敷床座,白言:「尊

T 0257c01

者阿難令坐。」

時,鹿住優婆夷稽首禮阿難足,

T 0257c02

退住一面,白尊者阿

:「云何言世尊知法?

T 0257c03

我父富蘭那先修梵行,離欲清淨,不著香

T 0257c04

花,遠諸凡鄙;叔父梨師達多不修梵行,然

T 0257c05

其知足。二俱命終,而今世尊俱記二人同生

T 0257c06

一趣,同一受生,同於後世得斯陀含,生

T 0257c07

兜率天,一來世間,究竟苦邊。云何?阿難!修

T 0257c08

梵行、不修梵行,同生一趣、同一受生、同

T 0257c09

其後世?」

阿難答言:「姊妹!汝今且停。汝不能

T 0257c10

知眾生世間根之差別,如來悉知眾生世間

T 0257c11

根之優劣。」如是說已,從坐起去。

時,尊者阿難

T 0257c12

還精舍,舉衣鉢,洗足已,往詣佛所,稽首

T 0257c13

佛足,退坐一面。以鹿住優婆夷所說廣白

T 0257c14

世尊。

佛告阿難:「彼鹿住優婆夷云何能知眾

T 0257c15

生世間根之優劣?阿難!如來悉知眾生世間

T 0257c16

根之優劣。阿難!或有一犯戒,彼於心解脫、

T 0257c17

慧解脫不如實知,彼所起犯戒無餘滅、無

T 0257c18

餘沒、無餘欲盡。或有一犯戒,於心解脫、慧

T 0257c19

解脫如實知,彼所起犯戒無餘滅、無餘沒、

T 0257c20

無餘欲盡。於彼籌量者言:『此亦有如是法,

T 0257c21

彼亦有是法,此則應俱同生一趣、同一受

T 0257c22

生、同一後世。』彼如是籌量者,得長夜非義

T 0257c23

饒益苦。

「阿難!彼犯戒者,於心解脫、慧解脫

T 0257c24

不如實知,彼所起犯戒無餘滅、無餘沒、無

T 0257c25

餘欲盡。當知此人是退,非勝進,我說彼人

T 0257c26

為退分。阿難!有犯戒,彼於心解脫、慧解

T 0257c27

脫如實知,彼於所起犯戒無餘滅、無餘

T 0257c28

沒、無餘欲盡。當知是人勝進不退,我說彼人

T 0257c29

為勝進分。自非如來,此二有間,誰能悉知?

T 0258a01

是故,阿難!莫籌量人人而取,人善籌量人

T 0258a02

人而病。人籌量人人,自招其患。唯有如來

T 0258a03

能知人耳,如二犯戒,二持戒亦如是。彼於

T 0258a04

心解脫、慧解脫不如實知,彼所起持戒無

T 0258a05

餘滅。若掉動者,彼於心解脫、慧解脫不如

T 0258a06

實知,彼所起掉無餘滅。彼若瞋恨者,彼於

T 0258a07

心解脫、慧解脫不如實知,彼所起瞋恨無

T 0258a08

餘滅。若苦貪者,彼於心解脫、慧解脫如實

T 0258a09

知,彼所起苦貪無餘滅……」穢污清淨如上說,

T 0258a10

乃至「如來能知人人。

「阿難!鹿住優婆夷愚癡

T 0258a11

少智,而於如來一向說法心生狐疑。云何?

T 0258a12

阿難!如來所說,豈有二耶?」

阿難白佛:「不也,

T 0258a13

世尊!」

佛告阿難:「善哉!善哉!如來說法若有

T 0258a14

二者,無有是處。阿難!若富蘭那持戒,梨

T 0258a15

師達多亦同持戒者,所生之趣,富蘭那所不

T 0258a16

能知。梨師達多為生何趣?云何受生?云何

T 0258a17

後世?若梨師達多所成就智,富蘭那亦成

T 0258a18

就此智者,梨師達多亦不能知彼富蘭那

T 0258a19

當生何趣?云何受生?後世云何?阿難!彼富

T 0258a20

蘭那持戒勝,梨師達多智慧勝;彼俱命終,我

T 0258a21

說二人同生一趣,同一受生,後世亦同是斯

T 0258a22

陀含,生兜率天,一來生此究竟苦邊。彼二

T 0258a23

有間,自非如來,誰能得知?是故,阿難!莫

T 0258a24

量人人,量人人者,自生損減。唯有如來

T 0258a25

能知人耳。」

佛說此經已,尊者阿難聞佛所

T 0258a26

說,歡喜奉行。

T 0258a27

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc